LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS. Nguyễn Thị Thu
Hằng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Chúng tôi xin cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Giáo dục Tiểu học – trường
Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục
Tiểu học đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu.Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn trân thành nhất đến toàn bộ các thầy cô
giáo trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho
chúng tôi hoàn thành phiếu điều tra trong đề tài của mình.
Chúng tôi xin cảm ơn gia đình, toàn thể bạn bè đã giúp đỡ và động viên
khuyến khích chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài
nghiên cứu này.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Nhóm sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Hải
Hoàng Thị Ngọc Huyền
Nguyễn Thị Liệu
Phạm Thị Yến Linh
MỤC LỤC
Trang bìa phụ i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
1.5. Thực trạng thiết kế hoạt động trải nghiệm ở một số trường tiểu học hiện nay
Khái quát quá trình điều tra
Kết quả điều tra
Nhận xét chung
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG
MÔN KHOA HỌC
2.1. Vai trò của hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học
2.2. Thiết kế một số hoạt động trải nghiệm trong môn Khoa học
2.2.1. Nguyên tắc thiết kế hoạt động trải nghiệm trong môn Khoa học
2.2.2. Quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm trong môn Khoa học
2.2.3. Thiết kế một số hoạt động trải nghiệm trong môn Khoa học
2.3. Khảo nghiệm sư phạm
2.3.1. Khái quát quá trình khảo nghiệm
2.3.2. Tiến hành khảo nghiệm sư phạm
2.3.3. Đánh giá kết quả khảo nghiệm sư phạm
2.3.4. Nhận xét chung
2.3.5. Một số kiến nghị và đề xuất
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Mức độ thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm trong môn
Khoa học cho học sinh lớp 4, 5.
Bảng 1.2. Khả năng tổ chức hoạt động cho học sinh thông qua môn học
Bảng 1.3. Các phương pháp giáo viên có thể khai thác để giáo viên có thể
sử dụng tổ chức hoạt động trải nghiệm thông qua môn Khoa học
Bảng 1.4. Các hình thức giáo viên có thể khai thác để giáo viên có thể sử
này phải dưới sự hướng dẫn, tổ chức của nhà giáo dục. Qua đó hình thành những
phẩm chất chủ yếu, những năng lực chung đã được xác định lại chương trình
giáo dục phổ thông tổng thể. Các năng lực và phẩm chất chung này sẽ được thực
hiện trong hoạt động trải nghiệm thông qua 3 mục tiêu của hoạt động trải
nghiệm. Hoạt động trải nghiệm sẽ được tổ chức cả ở trong và ngoài lớp học,
trong và ngoài nhà trường theo các quy mô: cá nhân, nhóm , lớp học, khối lớp
hoặc quy mô trường.
Môn khoa học ở tiểu học giữ vị trí hết sức quan trọng trong việc hình
thành nhân cách, phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh. Nội dung của môn
khoa học trong chương trình tiểu học xoay quanh các vấn đề về tự nhiên, xã hội,
con người; tích hợp những kiến thức về vật lí, hóa học, sinh học và nội dung
giáo dục sức khỏe, giáo dục môi trường. Từ đó, môn khoa học góp phần hình
thành và phát triển ở học sinh tình yêu con người, thiên nhiên, trí tò mò khoa
học, hứng thú tìm hiểu thế giới tự nhiên, ý thức bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh
thần của bản thân, gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên; tinh thần trách nhiệm với môi trường sống.
Môn khoa học là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí thuyết và thực nghiệm.
Vì vậy, việc tổ chức hoạt động trải nghiệm có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối
với môn học này. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, học sinh sẽ phát huy vai
trò cụ thể, tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân. Các em
được tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động từ thiết kế, chuẩn bị,
thực hiện và đánh giá kết quả. Bên cạnh đó, các em còn được bày tỏ quan điểm
ý tưởng và lựa chọn ý tưởng của chính mình. Do vậy mà các em thật sự hào
hứng và rất tích cực khi được học tập dưới dạng hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Thực tế cho thấy, trong việc dạy học các môn học nói chung và môn Khoa
học nói riêng ở trường tiểu học đa phần còn thiên về lí thuyết, tập trung vào dạy
học theo tiến trình nội dung trong sách giáo khoa, dạy học sinh cách hiểu, ghi
nhớ các khái niệm một cách máy móc mà không kích thích được tư duy sáng
trường tiểu học trong môn khoa học.
- Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức hoạt động trải nghiệm nói chung và
hoạt động trải nghiệm trong môn Khoa học nói riêng ở trường tiểu học.
- Xây dựng nội dung và thiết kế một số hoạt động trải nghiệm trong môn
Khoa học ở trường tiểu học.
- Khảo nghiệm sư phạm về tính thực tiễn và khả thi của các hoạt động trải
nghiệm được thiết kế.
7. Phương pháp nghiên cứu:
* Phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu về hoạt động trải nghiệm, tài liệu về
giáo dục ngoài giờ lên lớp, tài liệu dạy học môn khoa học, đặc điểm tâm sinh lí
HS cuối cấp tiểu học.
- Phân tích mục tiêu, đặc điểm, các lĩnh vực hoạt động trong chính môn
Khoa học để thiết kế các hoạt động trải nghiệm phù hợp với HS.
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra giáo dục: Điều tra, khảo sát thực tế hoạt động dạy - học của
giáo viên và HS bằng cách sử dụng phiếu hỏi, bảng hỏi.
- Quan sát sư phạm: Quan sát hoạt động của giáo viên và HS trong quá
trình dạy và học.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định tính khả thi của các chủ đề hoạt
động trải nghiệm được thiết kế.
- Lấy ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến của các chuyên gia về các vấn đề
thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Trò chuyện với HS nhằm tìm hiểu những thái độ, hứng thú trong học tập
của các em, những điều mà các em mong muốn có được trong những giờ học
môn Khoa học.
* Phương pháp thống kê toán học:
Thống kê, phân loại và tính số lượng, tỉ lệ phần trăm.... để đánh giá các
hành. Ông đã khẳng định kinh nghiệm chủ quan của cá nhân là một thành phần
quan trọng của học tập dựa vào trải nghiệm. Trong công trình nghiên cứu của
mình, ông đưa ra mô hình học tập dựa vào trải nghiệm gồm: Giai đoạn đầu tiên,
người học suy nghĩ về tình huống, tiếp đến là lập kế hoạch giải quyết tình
huống, sau cùng là quan sát kết quả đạt được. Cũng trong giai đoạn này nhà
khoa học giáo dục nổi tiếng người Mĩ John Dewey đề cao vai trò của kinh
nghiệm và chỉ ra rằng những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao
hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với
thực tiễn. [20]
Bước sang thế kỉ XXI, lí thuyết hoạt động trải nghiệm của Kolb vẫn được
coi trọng và ghi nhận là phương thức học tập hiệu quả nhằm phát triển năng lực
cho người học. Các phiên bản mới của hoạt động trải nghiệm thế kỉ XXI có thể
nói tới như: Colin M.Beard (2006), Melvin L.Silberman (2007); Scott
D.Wurdinger (2005); Scott D. Wurdinger và Julie A. Carlson (2009)... được phát
triển theo định hướng vận dụng lí thuyết hoạt động trải nghiệm vào học tập,
giảng dạy khác nhau. Việc vận dụng mô hình học tập trải nghiệm của các nghiên
cứu kinh điển từ trước đến giai đoạn này linh hoạt hơn một số quốc gia.
Ở Nhật Bản, sau 1945 khi người Nhật thực hiện cải cách giáo dục thời hậu
chiến, nguyên lý “học thông qua làm” (learning by doing) của John Dewey đã
được áp dụng một cách có hiệu quả. Chương trình và nội dung giáo dục đã được
thiết kế dựa trên nguyên lý nền tảng này và lấy trải nghiệm trong đời sống của
học sinh là xuất phát điểm để xây dựng nội dung giáo dục. Trong chương trình
giáo dục của Nhật, học tập trải nghiệm được vận dụng trong tất cả các môn học
như xã hội, khoa học đời sống,... Có thể kể ra ở đây các “thực tiễn giáo dục” nổi
tiếng và có ảnh hưởng lớn như: “Đời sống ở làng quê” ( Omura Sakae, 1948),
“Bố, mẹ” (Ishihashi Katsuji, 1948), “Cuộc đời của một người” (Yanagita, 1996),
“Ga Fukuoka” (Tanigawa Miuko, 1960), “Con chó ở ụ vỏ sò Kasori” (Kato
Kimiaki, 1991)... [19, tr 10].
học: Hướng dẫn các hoạt động GDMT trải nghiệm” do Dự án GDMT Hà Nội và
Trung tâm Con người và thiên nhiên biên soạn. Chương trình Dự án này được
triển khai tại 12 trường tiểu học tại Hà Nội. Nội dung tài liệu dự án giới thiệu
tóm tắt khái niệm liên quan đến GDMT nói chung và học tập dựa vào trải
nghiệm nói riêng, giới thiệu một số hoạt động trò chơi thực hành nhằm GDMT
cho HS tiểu học. [21].
Để giúp giáo viên và các bậc phụ huynh tổ chức tốt các hoạt động trải
nghiệm cho học sinh, Nguyễn Quốc Vương và Lê Xuân Quang đã biên soạn tài
liệu “Hướng dẫn tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh tiểu học”. Bộ sách
này được biên soạn dựa trên nền tảng lí luận mới về hoạt động trải nghiệm trong
trường học, kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục tiên tiến và thực tiễn giáo
dục Việt Nam. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một hợp phần quan trọng trong
chương trình giáo dục phổ thông bên cạnh các môn học và các lĩnh vực học tập
khác. Để trang bị cho cán bộ, giáo viên phổ thông những kiến thức, kĩ năng cơ
bản về hoạt động trải nghiệm, Nguyễn Thị Liên đã nghiên cứu và xuất bản cuốn
sách “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông”. Nội
dung cuốn sách tập trung trả lời các câu hỏi cốt lõi: Hoạt động trải nghiệm sáng
tạo là gì? – Làm cái gì trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo?- Làm thế nào để tổ
chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo? Ở bậc tiểu học, bên cạnh việc học tập các
tri thức khoa học, trẻ được tham gia nhiều hoạt động để hình thành và rèn luyện
năng lực, phẩm chất, sẵn sàng cho hành trang vào tương lai. Để tạo cơ hội cho
các em được trực tiếp tham gia các hoạt động thực tiễn để rèn luyện thói quen
tốt, các phẩm chất, các kĩ năng phát triển cá nhân , kĩ năng tự chủ, kĩ năng giao
tiêp hợp tác,...Đinh Thị Kim Thoa đã cho ra đời bộ sách “Hoạt động trải nghiệm
dành cho học sinh lớp 1-5”. Bộ sách gồm 5 cuốn dành cho học sinh từ lớp 1 đến
lớp 5. Mỗi cuốn đều có 9 chủ đề phù hợp với từng độ tuổi, xoay quanh các lĩnh
vực: phát triển cá nhân; cuộc sống gia đình; đời sống nhà trường; văn hóa xã hội
và phục vụ cộng đồng; nghề nghiệp và phẩm chất người lao động. Mỗi chủ đề sẽ
thông qua làm” của John Dewey, ở Anh đã thành lập một trung tâm trải nghiệm
Wedehorizon,...
Ở Việt Nam vấn đề này cũng đã được các nhà khoa học quan tâm và
nghiên cứu. Đặc biệt, sau khi chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được
ban hành thì hoạt động trải nghiệm càng được các nhà nghiên cứu quan tâm
nhiều hơn. Hầu hết các công trình nghiên cứu thường gắn với hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp, ít có công trình nghiên cứu gắn với môn học và đặc biệt
các môn về tự nhiên xã hội hầu như không có. Tuy nhiên, những nghiên cứu đó
còn chưa được áp dụng rộng rãi trong quá trình dạy học trải nghiệm cho học
sinh tiểu học.
1.2. Hoạt động trải nghiệm
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Hoạt động
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động như:
Theo Từ điển Tâm lí học của Viện khoa học XHVN - Viện Tâm lí học:
Hoạt động là một hệ thống năng động các mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ
thể và môi trường nơi nảy sinh hình ảnh tâm lí về khách thể qua đó các quan hệ
của chủ thể trong thế giới đối tượng được trung gian hóa.
Theo sinh lí học: Hoạt động là sự tiêu hao năng lượng, thần kinh và cơ
bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu
của mình.
Theo tâm lí học duy vật biện chứng: Hoạt động là phương thức tồn tại của
con người, là sự tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực thiết
lập mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan. Nhằm tại ra sản phẩm
cả về phía thế giới, cả về phía con người. [27].
Như vậy khi đưa ra khái niệm về hoạt động có nhiều khái niệm khác
nhau. Nhưng nhìn chung các khái niệm đều thống nhất ở một số điểm cơ bản
và theo chúng tôi hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người
đẩy năng lực sáng tạo của người học và được tổ chức một cách linh hoạt, sáng
tạo. [12, tr73].
Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn
của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt
động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là
chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách
và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình. [12, tr73].
Như vậy khi đưa ra khái niệm về hoạt động trải nghiệm có rất nhiều khái
niệm khác nhau. Nhưng nhìn chung các khái niệm đều thống nhất ở một số điểm
cơ bản và theo chúng tôi hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó
dưới sự hướng dẫn của giáo viên, từng học sinh đều được tham gia vào các hoạt
động thực tiễn khác nhau trong đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội
nhằm vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống hằng ngày nhằm
thúc đẩy năng lực sáng tạo của người học.
1.2.2. Đặc điểm
Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục hỗ trợ, bổ sung và phát triển
cho các hoạt động trong các môn học ở trên lớp, giúp học sinh tích lũy kinh
nghiệm riêng, hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cần thiết, từ đó góp
phần thực hiện mục tiêu của giáo dục tiểu học.
Hoạt động trải nghiệm là hoạt động bắt buộc nhưng được thiết kế và tổ
chức theo nguyên tắc tích hợp cao, các hoạt động và chủ đề được thiết kế theo
hướng mở, có tính tự chọn gắn với từng địa phương. Hoạt động trải nghiệm có
thể được tổ chức trong và ngoài lớp học, trường học, hoạt động cá nhân kết hợp
nhóm, lớp, khối lớp, toàn trường,…
Nội dung của Hoạt động trải nghiệm gắn liền và xoay quanh các mối
quan hệ hàng ngày của học sinh: quan hệ với bản thân, quan hệ với người khác,
cộng đồng và xã hội, giữa học sinh với môi trường và giữa học sinh với nghề
nghiệp. Nội dung này được xây dựng và sắp xếp theo các lĩnh vực hoạt động
lớn lên và phát triển của cơ thể người; cách phòng chống một số bệnh thông
thường và bệnh truyền nhiễm, cách sử dụng thuốc. Chủ đề Vật chất và Năng
lượng bao gồm: Những tính chất và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu
và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất. Chủ đề Thực vật và
Động vật: Sự trao đổi chất, sự sinh sản của cây xanh và một số động vật. Chủ đề
Môi trường và tài nguyên thiên nhiên: Ảnh hưởng qua lại giữa con người và môi
trường, một số biện pháp bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Trong
đó, lớp 4 gồm 3 chủ đề là Con người và sức khỏe, Vật chất và năng lượng, Thực
vật và động vật. Lớp 5 có thêm chủ đề Môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
Môn khoa học ở lớp 4,5 được xây dựng trên cơ sở tiếp nối những kiến thức về tự
nhiên của môn tự nhiên và Xã hội các lớp 1, 2, 3. Nội dung chương trình mang
tính tích hợp cao giữa các kiến thức vật lí, hóa học, sinh học, môi trường, con
người và sức khỏe.... và được cấu trúc đồng tâm, mở rộng, nâng cao dần theo 3
chủ đề: Con người và sức khỏe, Vật chất và năng lượng, Thực vật và động vật.
1.3.3. Phương pháp, hình thức tổ chức
Với đặc của môn Khoa học là xoay quanh việc hình thành và phát triển
năng lực cho người học (năng lực tự chủ, năng lực giáo tiếp, năng lực giải quyết
vấn đề). Do đó, khi sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức trong môn
Khoa học cần phải sử dụng đa dạng các phương pháp, hình thức khác nhau,
trong đó tập trung sử dụng một số phương pháp cơ bản sau: Phương pháp quan
sát là phương pháp dạy học khi giáo viên tổ chức cho học sinh sử dụng thị giác
kết hợp với các giác quan khác để tiếp nhận thông tin. Đây là phương pháp dạy
học đặc trưng, được sử dụng phổ biến trong hầu hết các bài Khoa học nhằm giúp
học sinh hình thành kiến thức, năng lực cần thiết như năng lực tư duy, năng lực
quan sát, giúp các em tri giác một cách dễ dàng các sự vật, hiện tượng, hình
thành những biểu tượng và khái niệm đầy đủ chính xác về thế giới tự nhiên. Có
thể vận dụng phương pháp này vào một số bài học cụ thể như Cơ quan sinh của
thực vật có hoa, cây con mọc lên từ hạt, Sự chuyển thể của chất,... Chẳng hạn,
các bài tập của học sinh, phiếu cá nhân, phiếu thảo luận nhóm. Đánh giá định kì:
Theo thông tư 22 của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì đánh giá định kì được chia ra
làm 4 mức độ: Biết – Hiểu – Vận dụng thông thường – Vận dụng sáng tạo.
1.3.5. Phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là tập hợp các đối tượng vật chất và phi vật chất được
giáo viên sử dụng để tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh trong
dạy học. Phương tiện dạy học có vai trò giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu
sắc hơn, nhớ bài lâu hơn; làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú
học tập; giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan
sát, tư duy; giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học.
Trong môn Khoa học, phương tiện dạy học khá phong phú như: Các phương tiện
dạy học phi vật chất (các câu chuyện kể, trích đoạn video,...), các đối tượng vật
chất (các đồ dùng thí nghiệm, trang phục để học sinh sắm vai, đồ dùng để học
sinh lao động thực tế,...). Chẳng hạn như những trích đoạn video giúp học sinh
phát triển năng lực quan sát, tư duy; có cái nhìn trực quan hơn về đối tượng
được nhắc đến trong bài học; giúp học sinh nhớ bài lâu hơn. Sử dụng các đồ
dùng thí nghiệm giúp học sinh hình thành thói quen cẩn thận khi bảo quản đồ
dùng, ngoài ra nó còn kích thích học sinh chủ động sáng tạo và tích cực hơn
trong quá trình học tập.
1.4. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh cuối cấp tiểu học với việc tổ
chức hoạt động trải nghiệm trong môn Khoa học
1.4.1. Khái quát đặc điểm tâm sinh lí học sinh cuối cấp
Học sinh tiểu học thường là những trẻ có tuổi từ 6 đến 11 tuổi. Đây là lứa
tuổi đầu tiên đến trường, trở thành học sinh và có hoạt động chủ đạo. Trẻ em lứa
tuổi học sinh tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động
chủ đạo sang học tập là hoạt động chủ đạo. Là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện
với tư cách là chính nó, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với sự phát triển của học sinh tiểu học. Tuổi tiểu học là tuổi của sự
ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng
và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ.
Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học. Ở cuối cấp tiểu
học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình. Chú ý có
chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong
hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài
hát dài,…
Về trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học thì loại trí nhớ
trực quan chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ- logic. Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý
nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định đã phát triển.
Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học thì nét tính cách đang dần
hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút
nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh rạn… Sau 5 năm học, tính cách học
đường mới dần ổn định và bền vững ở trẻ.
1.4.2. Ý nghĩa của việc thiết kế hoạt động trải nghiệm cho học sinh
cuối cấp tiểu học trong môn Khoa học
Do học sinh cuối cấp lớp 4, 5 tư duy bắt đầu phát triển, khả năng phân tích
tổng hợp kiến thức, tìm tòi khám phá thế giới ở nhiều mức độ, không còn đơn
giản như học sinh lớp 1, 2, 3. Do đó khi tổ chức hoạt động trải nghiệm giúp các
em có cơ hội được tiếp xúc nhiều với thực tế hơn, kiến thực được gắn với thực
thực tế hơn làm cho các em có cái nhìn khách quan hơn về thế giới.
Ở học sinh cuối cấp tiểu học các thao tác biểu hiện trí tưởng tượng được
biểu hiện rõ rãng hơn thông qua các sản phẩm cụ thể. Do đó khi tổ chức hoạt
động trải nghiệm có thể đánh giá được năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
như các bức tranh, các hành động việc làm, các sản phẩm có ý nghĩa gắn với
thực tiễn,...
Về ngôn ngữ, học sinh có thể diễn đạt thành thạo hoặc trôi chảy một vấn
đề nào đó nên khi tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong môn khoa
cận để tổ chức hoạt động trải nghiệm ở trường tiểu học. Kết quả thu được cho
thấy có đến 90% giáo viên cho rằng có thể tiếp cận tổ chức thông qua cả hai con
đường: Thông qua hoạt dộng giáo dục ngoài giờ lên lớp và thông qua dạy học
các môn học. Khi chúng tôi phỏng vấn trực tiếp giáo viên về việc tổ chức hoạt
động trải nghiệm thường thông qua con đường nào thì hầu hết giáo viên đều nói
rằng hoạt động trải nghiệm được tổ chức thông qua hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp và rất ít giáo viên tổ chức thông qua dạy học các môn học trên lớp.
Đồng thời để đánh giá mức độ thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm
trong môn Khoa học cho học sinh lớp 4, 5. Chúng tôi tiến điều tra một số giáo viên
trong trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Kết quả điều tra như sau:
Bảng 1.1. Mức độ thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm trong môn
Khoa học cho học sinh lớp 4, 5.
STT
1
2
3
Căn cứ vào
Các mức độ
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Thường xuyên
0
0
Thi thoảng
Môn học
Toán
Tiếng Việt
Đạo Đức
Khoa học
Lịch sử
Địa lí
Thường xuyên
SL
%
0
0
0
0
2
4
0
0
0
0
0
0
Mức độ
Thi thoảng
SL
%
3
tiểu học tổ chức. Điều đó được thể hiện như sau: 94% đối với môn Toán, 90%
đối với môn Tiếng Việt, 84% đối với môn Khoa học,…
Chúng tôi cũng tiến hành điều tra các phương pháp, hình thức giáo viên có
thể khai thác để giáo viên có thể sử dụng tổ chức hoạt động trải nghiệm thông
qua môn Khoa học. Kết quả điều tra như sau:
Bảng 1.3. Các phương pháp giáo viên có thể khai thác để giáo viên có thể
sử dụng tổ chức hoạt động trải nghiệm thông qua môn Khoa học
ST
T
1
2
3
4
5
6
Phương pháp dạy
học
Quan sát
Hỏi đáp
Thảo luận nhóm
Giải quyết vấn đề
Trò chơi
Thí nghiệm
Rất phù hợp
SL
%
Không phù hợp
SL
%
0
0
3
6
0
0
0
0
0
0
2
4
Căn cứ vào số liệu điều tra cho thấy, việc sử dụng các phương pháp để tổ
chức các hoạt động trải nghệm thông qua môn Khoa học được giáo viên khai
thác một cách triệt để. Trong đó đặc biệt là phương pháp giải quyết vấn đề và
phương pháp quan sát được giáo viên đánh giá là rất phù hợp, cụ thể phương
pháp quan sát 86% , phương pháp giải quyết vấn đề 90%.
Bảng 1.4. Các hình thức giáo viên có thể khai thác để giáo viên có thể sử
dụng tổ chức hoạt động trải nghiệm thông qua môn Khoa học
ST
T
1
2
3
4
5
11
22
17
34
28
56
Chưa phù hợp
SL
%
0
0
0
0
38
76
3
6
2
4
Theo bảng số liệu trên, ta thấy các hình thức được giáo viên sử dụng để tổ
chức hoạt động trải nghiệm thông qua môn Khoa học khá phong phú. Trong đó,