VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI MỸ LINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆP
TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 9 38 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LƯƠNG THANH CƯỜNG
HÀ NỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các tư liệu, số liệu được sử dụng trong luận án này là trung thực và có nguồn
gốc xuất xứ rõ ràng. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Bùi Mỹ Linh
3.2. Những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp
ở tỉnh Vĩnh Phúc
87
3.3. Thực trạng chủ thể, nội dung, phương thức quản lý nhà nước đối với nguồn nhân
lực công nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc
96
3.4. Ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế trong quản lý nhà nước
đối với nguồn nhân lực công nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc.........................................113
Kết luận Chương 3..............................................................................................120
Chương 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN
TỈNH VĨNH PHÚC..........................................................................................121
4.1. Định hướng chung bảo đảm quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp
121
4.2. Một số giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp
từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc.................................................................................123
4.3. Một số kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp từ thực
tiễn tỉnh Vĩnh Phúc............................................................................................. 146
KẾT LUẬN.......................................................................................................149
NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC
CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN........................................151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................152
PHỤ LỤC..............................................................................................................1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
BHTN
BHXH
BHYT
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Cao đẳng, đại học
Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá
Công nghệ thông tin
Cơ sở dữ liệu
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp công nghiệp
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Giáo dục – Đào tạo
Hội đồng nhân dân
Khu công nghiệp
Khu chế xuất
Kinh tế - xã hội
Luận án tiến sĩ
Lao động – Thương binh và Xã hội
Lực lượng lao động
Nghiên cứu sinh
Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực công nghiệp
Nhà xuất bản
Quản lý nhà nước
Sản xuất công nghiệp
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
UBND
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt
Nam, chủ trương của Đảng đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước
công nghiệp” [35, tr.24]. Để CNH, HĐH đất nước yếu tố con người luôn được
coi trọng là trung tâm và quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả
nước. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức IX, Đảng ta tiếp tục khẳng
định “Đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định
sự phát triển đất nước thời kỳ CNH, HĐH”. Vì vậy các địa phương trong cả
nước đồng thời với việc đẩy mạnh thu hút một lượng lớn vốn đầu tư (nhất là
vốn đầu tư nước ngoài – FDI) luôn quan tâm, đẩy mạnh phát triển NNL với
số lượng và chất lượng đáp ứng cho yêu cầu CNH, HĐH của địa phương.
Thực tế những năm qua trên địa bàn cả nước nói chung và Vĩnh Phúc nói
riêng đã và đang đẩy mạnh các giải pháp phát triển NNL cho yêu cầu CNH,
HĐH của địa phương. Tuy nhiên, đến nay NNL phục vụ phát triển công
nghiệp thực tiễn ở địa phương tỉnh Vĩnh Phúc cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế.
Nhiều DN trong quá trình đầu tư và sản xuất đã phản ánh tình trạng NNLCN
của tỉnh vừa thiếu hụt về số lượng, vừa không đảm bảo về chất lượng và do
đó ảnh hưởng nhiều đến kế hoạch đầu tư, sản xuất hoặc dịch vụ cho sản xuất
công nghiệp của các doanh nghiệp cũng như yêu cầu CNH, HĐH của địa
phương. Thực tế này đặt ra một số những vấn đề cần được giải quyết, như:
các cơ quan QLNN cần làm gì, cần có những giải pháp nào để đẩy mạnh phát
triển NNLCN của tỉnh, phát huy hết tiềm năng, hiệu quả quản lý và sử dụng
NNLCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc…. Những khó khăn, hạn chế đó do
nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân cơ bản là công tác QLNN đối với
7
nhiệm vụ này, giúp tác giả luận án có được cái nhìn tổng quan, đa diện, đa
chiều về vấn đề nghiên cứu, kế thừa và phát triển tri thức đã được công bố về
vấn đề QLNN đối với NNLCN và xây dựng lên những vấn đề mới về mặt lý
luận, giải đáp những vấn đề còn đang đặt ra dưới góc độ thực tiễn.
Hai là, tìm hiểu, xây dựng và phân tích những vấn đề lý luận về QLNN
đối với NNLCN như: khái niệm NNLCN, QLNN đối với NNLCN; những yếu
tố ảnh hưởng đến QLNN đối với NNLCN; mục tiêu, nội dung, phương thức
QLNN đối với NNLCN; điều chỉnh của pháp luật về QLNN đối với NNLCN
…. Ba là, tìm hiểu phân tích và đánh giá: các quy định của pháp luật Việt
Nam điều chỉnh về QLNN đối với NNLCN ở địa phương; Điều kiện tự nhiên,
kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến QLNN đối với NNLCN ở tỉnh Vĩnh Phúc;
thực trạng thực hiện pháp luật về QLNN đối với NNLCN ở tỉnh Vĩnh Phúc;
đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn
chế trong QLNN đối với NNLCN ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
Bốn là, trên cơ sở đối chiếu giữa lý luận với thực tiễn QLNN đối với
NNLCN ở tỉnh Vĩnh Phúc; đồng thời từ thực trạng và nguyên nhân của thực
trạng QLNN đối với NNLCN ở tỉnh Vĩnh Phúc, tác giả luận án đưa ra những
định hướng và đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm QLNN đối với NNLCN ở tỉnh
Vĩnh Phúc nói riêng và khái quát trong phạm vi cả nước nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án được
NCS xác định bao gồm những vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn của
QLNN đối với NNLCN.
Phạm vi nghiên cứu: QLNN đối với NNLCN là vấn đề rộng và mang
tính liên ngành, đa ngành. Trong khuôn khổ của luận án, tác giả luận án giới
hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
Một là, phạm vi nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu về QLNN đối
với NNLCN theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành (Bao gồm quy
tổng kết thực tiễn; phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp; phương
pháp hệ thống; Phương pháp điều tra, khảo sát; phương pháp trao đổi, toạ
đàm và phỏng vấn chuyên gia ... Cụ thể:
(1) Phương pháp nghiên cứu gián tiếp thông qua tài liệu thứ cấp; phương pháp
phân tích và tổng hợp; phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học
được sử dụng để làm rõ cơ sở lý luận về các vấn đề nghiên cứu chủ yếu được
áp dụng ở Chương 2 và Chương 3 của luận án.
(2) Phương pháp nghiên cứu trực tiếp thông qua khảo sát thực tế; phỏng vấn, tiếp
xúc trao đổi, tọa đàm với các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực
chính trị, pháp luật, lao động, an ninh; phương pháp xã hội học .... Các
phương pháp này chủ yếu được áp dụng ở Chương 3 của luận án.
Nghiên cứu sinh thực hiện điều tra (theo mẫu phiếu điều tra) và phỏng
vấn sâu trên 03 nhóm đối tượng gồm: (i) Nhóm đối tượng là lãnh đạo các cơ
quan thực thi nhiệm QLNN đối với NNLCN và cán bộ công chức, người thực
thi nhiệm vụ trong một số cơ quan QLNN đối với NNLCN - chủ thể QLNN
đối với NNLCN (Các cơ quan được NCS tiến hành điều tra, bao gồm: Văn
phòng UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Ban
Quản lý và KCN tỉnh Vĩnh Phúc; một số cơ sở dạy nghề và trường
THPT);
(ii)
Nhóm đối tượng là học sinh, sinh viên đang hoặc đã theo học tại các cơ sở giáo
dục, đào tạo nghề và cán bộ, giáo viên đang công tác, giảng dạy tại các cơ sở
đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; (iii) Nhóm đối tượng là lãnh đạo,
quản lý tại các doanh nghiệp công nghiệp và người lao động tại các doanh
nghiệp công nghiệp trong các KCN địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Trên cơ sở phân
tích thực trạng QLNN đối với NNLCN ở tỉnh Vĩnh Phúc, xác định ưu
điểm, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong QLNN đối
được ghi nhận dưới những điểm sau:
Một là, trên cơ sở kế thừa các quan điểm, các luận điểm khoa học của
những công trình nghiên cứu đi trước, luận án đã phân tích, làm rõ khái niệm
“nguồn nhân lực”, khái niệm “nguồn nhân lực công nghiệp” và khái niệm
“quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp”, chỉ ra và phân tích
những đặc điểm của NNLCN;
Hai là, luận án đã làm rõ lý luận về điều chỉnh của pháp luật về QLNN
đối với NNLCN, chủ thể QLNN đối với NNLCN, nội dung QLNN đối với
NNLCN, phương thức QLNN đối với NNLCN.
Ba là, luận án phân tích thực trạng QLNN đối với NNLCN ở tỉnh Vĩnh
Phúc thời gian qua, trong đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
của chúng.
Bốn là, luận án đã đưa ra định hướng và đề xuất những nhóm giải pháp
cần thực hiện đồng bộ nhằm bảo đảm QLNN đối với NNLCN, đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc, với các nhóm
giải pháp là: (i) Nhóm giải pháp về xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều
chỉnh về quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp; (ii)
Nhóm
giải pháp hoàn thiện và phát huy lợi thế của các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý
nhà nước đối với nguồn nhân lực công nghiệp; (iii) Nhóm giải pháp về chủ
thể, nội dung, phương thức quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực công
nghiệpl; (iv) Nhóm các giải pháp khác.
Năm là, từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc, luận án đã khái quát những bài học
kinh nghiệm trong QLNN đối với NNLCN có giá trị tham khảo cho các địa
phương có cùng điều kiện với tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Chương 4:
Định hướng và giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước đối với
nguồn nhân lực công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nguồn nhân lực, nguồn nhân lực công nghiệp và quản lý nhà nước đối
với nguồn nhân lực công nghiệp là vấn đề từ lâu đã được nhiều nhà khoa học
quan tâm, nghiên cứu. Cũng đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nhà nước
bằng pháp luật, về pháp luật lao động, quản lý lao động trong các doanh
nghiệp ở Việt Nam và ở các nước.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Một số công trình, tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài về quản lý nhà nước
nói chung và quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực, quản lý nhà nước về
nguồn nhân lực công nghiệp nói riêng đã được công bố như:
Sách “Quản lý và chiến lược nguồn nhân lực”, tái bản lần thứ 3 của tác
giả Peter Boxall, Giáo sư Quản lý nguồn nhân lực, Đại học Auckland, New
Zealand và John Purcell, Vương quốc Anh. Tác giả nghiên cứu đã đưa ra
những phân tích về (1) Kết nối giữa chiến lược và công tác quản lý nguồn
nhân lực trong doanh nghiệp sản xuất; (2) Xác định những nguyên tắc chung
trong quản lý công việc và người lao động; (3) Quản lý nguồn nhân lực và
duy trì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bài viết “Hội nhập kinh tế đem lại lợi ích gì cho Việt Nam và ASEAN”
của ông Yoshiteru Uramoto, Giám đốc ILO khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương. Ông cho rằng, để đón được cơ hội của hội nhập quốc tế mang lại,
Việt Nam có bốn vấn đề trọng tâm phải giải quyết: (i) Ưu tiên thực hiện các
lượng lao động của Việt Nam được đào tạo chuyên môn, và những kỹ năng
mà hệ thống giáo dục trang bị cho người học thường không phù hợp với
những kỹ năng mà thị trường lao động đòi hỏi. Bản tin cũng đưa ra nhận xét
của Ông Gyorgy Sxiraczki, Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam: “…. Để
phát triển kỹ năng theo nhu cầu thị trường, Việt Nam cần tăng cường hợp tác
với khối tư nhân cũng như đẩy mạnh sự tham gia của doanh nghiệp vào hệ
thống giáo dục và đào tạo đồng thời đánh giá sự chênh lệch giữa kỹ năng hệ
thống giáo dục và đào tạo trang bị cho người lao động với nhu cầu thực tế của
doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai”.
Báo cáo đầy đủ “Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới
việc làm tốt hơn và thịnh vượng chung” do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
– Văn phòng Khu vực Châu Á Thái Bình Dương - thực hiện đã nhận định dự
báo cho Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2025 nhu cầu đối với lao động có
trình độ kỹ năng ở mức trung bình sẽ tăng 28%, so với mức tăng 23% ở lao
động có trình độ kỹ năng thấp và 13% cho lao động có kỹ năng cao. Do đó,
Việt Nam cần đẩy mạnh các cơ sở đào tạo nghề và phát triển kỹ năng, nâng
cao chất lượng giáo dục trung học cơ sở và đào tạo nghề cần phải dựa trên
Chiến lược Phát triển nguồn nhân lực 2011-2020 Chiến lược phát triển giáo
dục 2011-2020, Chiến lược phát triển đào tạo nghề 2011-2020, Chương trình
đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, và Luật Dạy nghề.
Bài tham luận “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Chính phủ
Trung Quốc” của tác giả Xiao Mingzheng -Trường Đại học Bắc Kinh trình
bày tại Hội thảo “Cải cách hành chính dành cho các nước châu Á” do Bộ
Thương mại Trung Quốc tổ chức từ ngày 03/4 – 22/4/2008 (được tác giả
Nguyễn Diệu Tú - Viện Nghiên cứu hành chính, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh dịch và biên tập) đưa ra những phân tích và nhận
định, đánh giá về Chiến lược của Chính phủ Trung Quốc trong phát triển
nguồn nhân lực: (1). Thay đổi quan niệm và hiện thực hoá khái niệm nguồn
cung cấp tài liệu tham khảo, những ý tưởng mang tính định hướng gợi ý cho
việc nghiên cứu của luận án này.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực công nghiệp ở Việt Nam trong nhiều
năm qua đã được nhiều nhà khoa học và quản lý quan tâm, nghiên cứu. Đến
nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của những nhà quản lý, nhà giáo, học
viên ... quan tâm thực hiện và công bố giới thiệu trên các ấn phẩm và diễn đàn
khoa học. Các nghiên cứu được thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, sách
chuyên khảo, nhiệm vụ cấp bộ, hội thảo khoa học, bài tạp chí, luận văn, luận
án... nghiên cứu trực tiếp và gián tiếp đến NNLCN và QLNN đối với
NNLCN. Tuỳ từng góc độ tiếp cận và nghiên cứu, các công trình đã làm rõ
nhiều nội dung về QLNN, xác định mức độ can thiệp của nhà nước vào các
quan hệ xã hội trong đó có lĩnh vực NNL và NNLCN, bao gồm: (i) nghiên
cứu về QLNN; (ii) nghiên cứu về NNL và NNLCN; (iii) nghiên cứu về lý
luận và thực tiễn QLNN đối với NNLCN.
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước
Các nghiên cứu đã làm rõ được những nội dung cơ bản như: cơ sở lý
luận của quản lý xã hội của nhà nước; nội dung, phương thức QLNN... Trước
tiên có thể liệt kê ra một số nghiên cứu có tính chất cơ sở. Đó là tài liệu, công
trình nghiên cứu của các đơn vị nghiên cứu, giảng dạy chuyên sâu về quản lý,
quản lý hành chính, nhà nước và pháp luật, như: Khoa Luật (Đại học quốc gia
Hà Nội), Khoa Khoa học quản lý (Trường Đại học Kinh tế quốc dân), Trường
Đại học Luật Hà Nội, Viện Nhà nước – Pháp luật (Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh), Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam)… Giáo trình “Quản lý xã hội” của Trường Đại học Kinh tế
quốc dân (Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội 2005) trình bày chi tiết
nhiều vấn đề: xã hội và quản lý xã hội; chủ thể quản lý xã hội; thiết chế và
động và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về lao động trong các doanh
nghiệp kinh doanh du lịch ở Việt Nam. Tuy nhiên, đây là đề tài nghiên cứu
QLNN dưới góc độ kinh tế và không giải quyết vấn đề dưới góc độ QLNN
theo nghĩa rộng. Luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Lê Văn Trung
(năm 2006) với đề tài "Đổi mới quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với
doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay". Luận án đã làm rõ khái niệm
QLNN bằng pháp luật đối với doanh nghiệp, chỉ ra đặc trưng, phân tích các
yếu tố tác động đến QLNN bằng pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước ở
Việt Nam. Luận án đã đề xuất và luận giải lộ trình thực hiện giải pháp đổi
mới QLNN bằng pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, vấn đề
QLNN về lao động trong các doanh nghiệp nhà nước chỉ là nội dung thứ yếu,
chưa được đề cập nhiều trong luận án này.[102].
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực, nguồn nhân
lực công nghiệp
Đề tài V10-05-20 “Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực công nghiệp
Khánh Hòa giai đoạn 2010-2020” do PGS.TS. Nguyễn Bá Ngọc
chỉ đạo
chung. Đề tài đã phân tích cơ sở lý luận về phát triển NNL phục vụ CNH,
HĐH; Đánh giá thực trạng phát triển khu vực công nghiệp và chất lượng
NNLCN tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2004-2009. Đề tài nêu rõ quan điểm phát
triển ngành công nghiệp tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2010-2020: “Phát triển
nguồn nhân lực công nghiệp gắn kết chặt chẽ với quá trình đổi mới giáo dục
và đào tạo, đặc biệt là đổi mới đào tạo nghề và đào tạo đại học”. Đồng thời đề
tài khuyến nghị bốn nhóm giải pháp, biện pháp và chính sách nhằm phát triển
nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển ngành công nghiệp tỉnh Khánh Hoà giai
đoạn 2010-2020, gồm: (1) Nhóm giải pháp liên quan đến cơ chế, chính sách
và chương trình phát triển kinh tế công nghiệp. (2) Nhóm giải pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp. (3) Nhóm giải pháp tạo
KT-XH ở Đà Nẵng; đề xuất những giải pháp định hướng cho việc phát triển
NNL phục vụ cho CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ở Đà Nẵng. [57]
LATS (chuyên ngành kinh tế và tổ chức lao động) “Các giải pháp chủ
yếu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa và
hiện đại hóa đất nước”, Phan Thanh Tâm, năm 2000. Luận án đã xây dựng hệ
thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng NNL và những yêu tố ảnh hưởng đến chất
lượng NNL trong sự nghiệp CNH-HĐH, đánh giá chất lượng về mặt trí lực
của NNL Việt Nam; phân tích vai trò của GDĐT trong nâng cao chất lượng
và những yêu cầu thực tế của việc nâng cao chất lượng NNL trước nhu cầu
CNH-HĐH. [96]
Bài viết “Giáo dục-đào tạo với phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc
và những gợi mở cho Việt Nam”, GS.TS. Chu Văn Cấp và Ths. Trần Ngọc
Tình, Tạp Chí phát triển và Hội nhập số 17 (27) (Tháng 07-08/2014). Nhóm
tác giải đã nhận định về yêu cầu của CNH đối với NNL là: (1) Phải đảm bảo
đủ số lượng. Để có đủ số lượng cho nguồn công nghiệp hiện đại phải tăng
cường đào tạo lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao; đội
ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật, công nhân trí thức, các loại lao động trí
tuệ…; (2) Phải có chất lượng cao, tức là phải có tri thức, kiến thức chuyên
môn kỹ thuật, kinh tế … và có năng lực hoạt động tốt, có sự nhạy bén, thích
nghi nhanh, làm chủ khoa học và công nghệ và có năng lực hội nhập … phải
có sức khỏe sung mãn, hoàn thiện về mặt thể chất và tinh thần, có sự dẻo dai
của hệ thần kinh, niềm tin và ý chí, có khả năng thích ứng với những điều
kiện khó khăn về cuộc sống; (3) Phải có cơ cấu NNL hợp lý về độ tuổi, giới
tính, trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ đào tạo … giữa các ngành, các
vùng, các khu vực trong nền kinh tế quốc dân. Các tác giả bài viết cũng gợi
mở những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: (i) Phát triển NNL có tri thức
thông quan phát triển giáo dục đào tạo và khoa học – công nghệ; (ii) Nghiên
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước về mặt chất lượng và cơ cấu lao động
còn nhiều bất cập; đưa ra nhận định, so sánh chất lượng nguồn nhân lực của
Việt Nam với chất lượng NNL của một số quốc gia có cùng điều kiện. Bài
viết cũng đã đưa ra các giải pháp đổi mới giáo dục nghề nghiệp nhằm nâng
cao chất lượng NNL cho hội nhập quốc tế của Việt Nam. Đây là những nhận
định có giá trị, tác giả luận án quan tâm, phân tích và kế thừa có chọn lọc khi
đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục nghề nghiệp,
góp phần nâng cao chất lượng NNLCN từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc. [101]
Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lý nhà
nước đối với nguồn nhân lực và nguồn nhân lực công nghiệp
Đề tài khoa học cấp Bộ “Quản lý Nhà nước đối với phát triển nguồn
nhân lực ở Việt Nam: Vấn đề và giải pháp” do Thạc sỹ Ngô Minh Tuấn làm
chủ nhiệm đề tài. Đề tài đã tập trung nghiên cứu về QLNN trong phát triển
NNL. Trong đó, khái niệm QLNN được hiểu là xem xét vai trò và nhiệm vụ
của Nhà nước trong phát triển NNL, được thể hiện qua những nội dung chính
sau đây: (i) Vai trò định hướng phát triển NNL: thông qua việc ban hành các
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chương trình về phát triển NNL; (ii) Vai
trò thực hiện tạo khuôn khổ pháp luật và môi trường cho việc phát triển NNL:
bao gồm việc ban hành các luật lệ, chính sách đối với các ngành, lĩnh vực liên
quan đến phát triển NNL; (iii) Vai trò can thiệp trực tiếp, điều tiết phát triển
NNL: thông qua tài trợ ngân sách, trực tiếp cung ứng dịch vụ xã hội cơ bản,
các công cụ khuyến khích phát triển NNL; và (iv) Vai trò kiểm tra, giám sát
và thanh tra thực thi chính sách pháp luật về phát triển NNL. [118]