Quan hệ lao động trong tổ chức
ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG
TẠI CÔNG TY VÍNMILK
( Thông qua nhóm tiêu chí kết quả tương tác )
MỤC LỤC
1.
Đặt vấn đề.................................................................................................................................1
2.
Cơ sở lý luận về đánh giá tính bền vững trong quan hệ lao động tại các doanh nghiệp...........1
3.
Hiện trạng phát triển bền vững tại công ty Vinamilk và những vấn đề đặt ra..........................4
4. Những điểm mạnh – điểm yếu – thuận lợi - khó khăn của Vinamilk trên con đường phát
triển...................................................................................................................................................9
5.
Những biện pháp khắc phục của Vinamilk.............................................................................10
6.
Cơ hội – Thách thức của công ty Vinamilk.............................................................................11
7.
Mục tiêu phát triển của Vinamilk trong thời gian tới..............................................................11
vững về mọi mặt. Điều này góp phần tạo nên thương hiệu cá nhân và nâng cao uy tín
cho sản phẩm của Vinamilk trên thị trường trong nước và mục tiêu phát triển bền vững
vươn xa ra tầm quốc tế.
Trong bài nghiên cứu này, tôi sẽ phân tích về: “Đánh giá tính bền vững trong
quan hệ lao động tại công ty Vinamilk” để làm rõ hơn về những điều đã nêu trên. Hài
hòa, ổn định và tiến bộ là ba thành tố không thể thiếu, là mục tiêu mà chúng ta hướng tới
trong xây dựng quan hệ lao động bền vững hiện nay. Những đóng góp cũng như những
phát hiện mới trong bài nghiên cứu này có thể có nhiều sai sót, tôi mong nhận được
những phản hồi tích cực từ quý độc giả để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
2. Cơ sở lý luận về đánh giá tính bền vững trong quan hệ lao động tại các doanh
nghiệp.
Thế nào là quan hệ lao động?
Con người luôn có mối quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau (quan hệ giữa con
người với con người ) hay còn gọi là quan hệ xã hội. Quan hệ lao động là một trong
1
Quan hệ lao động trong tổ chức
những quan hệ xã hội của con người theo C.Mác, nó là quan hệ chủ yếu nhất giữa con
người với con người.
Nhìn ở góc độ rộng nhất, quan hệ lao động xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã
hội loài người ( quan hệ giữa con người với con người trong quá trình phân công lao
động)
Nhìn trong một chỉnh thể thì quan hệ lao động là vùng giao thoa giữa các quan hệ
kinh tế, pháp luật, xã hội học, tâm lý học… Vì vậy nghiên cứu quan hệ lao động cần sử
dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa quan hệ lao động là “ những mối quan
hệ cá nhân và tập thể giữa những người lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm
việc, cũng như mối quan hệ giữa đại diện của họ và Nhà nước. Những mối quan hệ như
thế xoay quanh các khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội và tâm lý học bao gồm các vấn đề
Quan hệ lao động trong tổ chức
Bản chất của quan hệ lao động cấp doanh nghiệp: Quan hệ lao động cấp doanh
nghiệp là tổng thể những mối quan hệ giữa người lao động trong một doanh nghiệp ( hay
đại diện của họ ) với người sử dụng lao động của doanh nghiệp đó. Những mối quan hệ
này thường xoay quanh các điều kiện lao động đặc thù của doanh nghiệp như cách trả
lương, phụ cấp, trợ cấp, thời gian làm thêm giờ, điều kiện vệ sinh an toàn nơi làm việc,
thủ tục giải quyết bất bình, kỷ luật sa thải…
Cơ chế quan hệ lao động cấp doanh nghiệp là cơ chế hai bên và có thể diễn ra trực
tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động hay thông qua tổ chức đại diện của
người lao động.
Nội dung và hình thức của quan hệ lao động tại doanh nghiệp.
Nội dung của quan hệ lao động tại các doanh nghiệp: Quan hệ lao động luôn
xoay quanh các vấn đề
Tiếp cận theo lĩnh vực: Quan hệ lao động xoay quanh các vấn đề như
tuyển dụng, đào tạo, kỷ luật, lương, an toàn lao động, thời gian lao
động…
Tiếp cận theo chuẩn mực pháp lý: Quan hệ lao động xoay quanh cách vấn
đề về quyền ( là những lợi ích chính được chuẩn hóa thành các tiêu chuẩn
hay thỏa thuận mang tính pháp lý) và những vấn đề về lợi ích
(chưa được chuẩn hóa ).
Hình thức biểu hiện của quan hệ lao động tại các doanh nghiệp: Bao gồm các
hình thức đối thoại xã hội (trao đổi thông tin, tham khảo, tham vấn và tư vấn,
thương lượng…), hình thức tiêu chuẩn lao động ( hợp đồng lao động, thỏa ước
tập thể, nội dung, ghi nhớ, cam kết ) các hình thức xung đột và giải quyết xung
đột ( bất bình, khiếu nại, trnh chấp, hoà giải, trọng tài, xét xử, đình công, bế
xưởng)
Các yếu tố của quan hệ lao động.
Được xem xét dựa trên 3 yếu tố:
Thứ nhất: Quan hệ lao động cá nhân là quan hệ giữa người lao động làm thuê
và người đi thuê lao động. Hai người này thỏa thuận với nhau về công việc làm
cuối cùng của quan hệ lao động, phản ánh mức độ thỏa mãn của các bên với
nhau. Bao gồm mức độ thỏa mãn giữa người lao động và người sử dụng lao
động và mức độ thỏa mãn của các bên là tiêu chí đánh giá kết quả cuối cùng
của hệ thống quan hệ lao động. Quan hệ lao động tại doanh nghiệp càng tốt
khi các bên thõa mãn với nhau
3. Hiện trạng phát triển bền vững tại công ty Vinamilk và những vấn đề đặt ra.
Từ khi thành lập đến nay Vinamilk đã trở thành công ty hàng đầu Việt Nam về chế
biến và cung cấp các sản phẩm về sữa, được xếp vào top 10 thương hiệu mạnh Việt Nam.
Vinamilk không những chiếm lĩnh 75% thị phần trong nước mà còn xuất khẩu các sản
phẩm của mình ra nhiều nước trên thế giới: Mỹ, Pháp, Canada…
Hoạt động hơn 10 năm trong cơ chế bao cấp, cũng như nhiều doanh nghiệp khác chỉ
sản xuất theo kế hoạch, nhưng khi bước vào kinh tế thị trường Vinamilk đã nhanh chóng
nắm bắt cơ hội, không ngừng đổi mới công nghệ, đầu tư cơ sở hạ tầng, đa dạng hóa sản
phẩm để chuẩn bị cho một hành trình mới. Từ ba nhà máy sản xuất sữa là Thống Nhất,
Trường Thọ, Dielac, Vinamilk đã không ngừng xây dựng hệ thống phân phối tạo tiền đề
cho sự phát triển. Với định hướng phát triển đúng, các nhà máy sữa: Hà Nội, liên doanh
Bình Định, Cần Thơ, Sài Gòn, Nghệ An lần lượt ra đời, chế biến, phân phối sữa và sản
phẩm từ sữa phủ kín thị trường trong nước. Không ngừng mở rộng sản xuất, xây dựng
thêm nhiều nhà máy trên khắp cả nước ( hiện nay thêm 5 nhà máy đang tiếp tục được xây
dựng ), Vinamilk đạt doanh thu 6.000 tỷ đồng/ năm nộp vào ngân sách nhà nước mỗi năm
500 tỷ đồng. Công ty Vinamilk hiện có trên 200 mặt hàng sữa và sản phẩm từ sữa như:
sữa đặc, sữa bột cho trẻ em và người lớn, bột dinh dưỡng, sữa tươi, sữa chua uống, sữa
4
Quan hệ lao động trong tổ chức
đậu nành, kem, phô-mai, nước ép trái cây, bánh biscuits, nước tinh khiết, cà phê, trà,…
Sản phẩm đều phải đạt chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế.
Vinamilk cũng đã thiết lập được hệ thống phân phối sâu và rộng, xem đó là xương
sống cho chiến lược kinh doanh dài hạn. Hiện nay, công ty có trên 180 nhà phân phối, hơn
hộp giấy và chai nhựa, sự tăng trưởng của sữa nước đóng bao Fino đóng vai trò quan
trọng trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh của Vinamilk trên thị trường sữa, giúp
Vinamilk dành được thị phần và thậm chí vượt qua đối thủ cạnh tranh trực tiếp Dutch
Lady.
5
Quan hệ lao động trong tổ chức
Trước đây Vinamilk đã có thời kỳ tăng trưởng nhanh đến chóng mặt. Giai đoạn 2007
– 2010, mức tăng trưởng hằng năm của “chú bò sữa” lần lượt là 10%, 22%, 30% và từng
đạt kỷ lục 53% năm 2010. Tuy nhiên sau đó, dù giá trị doanh thu vẫn cải thiện khá nhiều
qua các năm, mức tăng trưởng đã chậm lại đáng kể: rơi dần từ mức 31% (2011) xuống
21%, rồi 16% và chỉ còn 13% vào năm 2014.
Với năm 2009, kết quả kinh doanh của Vinamilk khá ấn tượng, doanh thu thuần hợp
nhất cả năm 2009 đạt 10,614 tỷ đồng, tăng 29.3% so với năm 2008 và đạt 115% kế hoạch
đề ra (9,220 tỷ), lợi nhuận sau thuế đạt 2,376 tỷ VNĐ, tăng 90% so với cùng kỳ năm
ngoái.
Bảng 2.1: Cơ cấu doanh năm 2009
Nguồn: Công ty chứng khoáng miền Nam
Năm 2017 thị phần toàn ngành sữa Vinamilk tăng thêm 2% và luôn giữ vị trí dẫn
đầu thị trường qua nhiều năm. Nhưng trong năm 2017 tình hình chính trị xã hội toàn cầu
có nhiều thay đổi với môi trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng trở nên khó khăn trong
bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa bị lung lay. Trước tình hình đó Vinamilk đã không ngừng
nổ lực để tiếp tục vững bước trên con đường phát triển của mình và củng cố vị thế dẫn
đầu ngành, phát triển sản phẩm mới có giá trị cao được thị trường đón nhận tốt. Vì thế kết
quả kinh doanh năm 2017 đã chứng minh cho sự nổ lực của toàn thể cán bộ nhân viên của
công ty: tổng doanh thu 51.135 tỷ đồng đạt 100,3% so với kế hoạch, lợi nhuận sau thuế
10.278 tỷ đồng đạt 105,6% so với kế hoạch.
Hình 2.2: Doanh thu và tốc độ tăng trưởng của Vinamilk
hút, giữ chân và khuyến khích thành viên Hội đồng Quản trị, bộ máy lãnh đạo để điều
hành doanh nghiệp của mình thành công. Tiền lương của người lao động được trả căn cứ
vào kết quả hoạt động chung của công ty và của từng cá nhân. Theo số liệu của Vinamilk,
hằng năm chi phí lương thưởng luôn tăng. Năm 2011, tiền lương và thưởng của thành
viên Hội đồng Quản trị và Ban điều hành là 46 tỷ đồng. đến năm 2012 là 56 tỷ đồng.
Trong số các thành viên Hội đồng Quản trị, bà Mai Kiều Liên hưởng thù lao tháng là 120
triệu đồng, ngoài ra còn có các thù lao chủ tịch, trưởng ban, thù lao tiểu ban, trưởng tiểu
ban, cộng cả khoản thưởng là 342 triệu đồng tính cả năm 2012.
Lương thưởng luôn là mối quan tâm hàng đầu của giới đầu tư và các chủ thể thị
trường khi họ tìm hiểu các thông về doanh nghiệp. Vinamilk là doanh nghiệp có mức tăng
trưởng cao, thị giá cổ phiếu tăng mạnh qua các năm, lương thưởng dành cho ban lãnh đạo
dù ở mức rất cao, nhưng vẫn được sự ủng hộ của nhiều cổ đông. Tuy nhiên, Vinamilk
từng là doanh nghiệp nhà nước chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, việc
áp dụng các thông lệ quản trị hiện đại nhất như cách trả lương thưởng cho ban lãnh đạo
theo mặt bằng các công ty lớn trong khu vực cũng không hề đơn giản.
Phát triển nguồn nhân lực công ty Vinamilk.
8
Quan hệ lao động trong tổ chức
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định và là sức mạnh cốt lõi, là nhân tốt phát triển nội
lực bên trong doanh nghiệp. Vì thế, Vinamilk đã luôn đầu tư nâng cao chất lượng, trình
độ, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ nhân viên, thường xuyên mở các lớp huấn luyện cho
nhân viên, cử nhân viên đi du học nước ngoài nâng cao trình độ.
Công ty luôn tiên phong và đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất bằng việc hiện đại
hóa hệ thống nhà máy, với việc đưa vào hoạt động 2 siêu nhà máy sữa bột và sữa nước.
Nhà máy sữa nước có công suất siêu lớn hơn 400 triệu lít sữa/ năm và nhà máy sữa bột có
công suất 54,000 tấn/ năm, là một trong những nhà máy có công suất lớn nhất Đông Nam
Á.
Để có được sự phát triển như Bà Mai Kiều Liên Vinamilk đã phải xây dựng phát
Quan hệ lao động trong tổ chức
tác động mạnh từ giá sữa thế giới và biến động tỷ giá. Đào tạo huấn luyện tay nghề trong
dây chuyền sản xuất chưa cao, khó tránh khỏi những sơ suất và thường khó tránh khỏi sản
phẩm bị hư hỏng. Thành phần dinh dưỡng và lượng dinh dưỡng trong sữa kém hơn Dutch
Lady.
Vimailk ra đời trong bối cảnh đất nước vừa thống nhất, các doanh nghiệp trong nước
nói chung và Vinamilk nói riêng gặp muôn vàn khó khăn, thiếu thốn về máy móc thiết bị,
công nhân kỹ thuật, nguyên liệu cho sản xuất phải nhập khẩu hoàn toàn trong khi không
chủ động được nguồn ngoại tệ.
Thời điểm những năm 1976 đến năm 1980, ngành sữa Việt hoàn toàn không có gì, kể
cả đàn bò. Máy móc, thiết bị cũ, mọi nguyên vật liệu đều phải ngoại nhập. Khi đó
Vinamilk có 2 nhà máy công suất thiết kế 196 triệu tấn một năm, nhưng thực tế chỉ sản
xuất 8 triệu tấn. Một nhà máy vì không có nhiên liệu, công nhân nghỉ việc nên đóng cửa.
Vinamilk đã phải đối mặt với việc làm sao có thể phục hồi sản xuất, tiếp cận nguồn
nguyên liệu giá rẻ tiến tới chủ động nguồn nguyên liệu, từ đó giảm giá thành sản phẩm
đưa công ty phát triển bền vững.
Đứng trước những khó khăn đó Vinamilk đã chủ động tìm lối đi cho mình, là chủ
động xác định chìa khóa để vực dậy sản xuất doanh nghiệp là bao gồm vốn và máy móc
kỹ thuật, Bà Mai Kiều Liên đã có hai quyết định táo bạo được coi “ phá rào” thời điểm ấy.
Để có được ngoại tệ nhập khẩu máy móc thiết bị “nữ tướng” Vinamilk đã hợp tác với
doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước. Sau khi giải quyết bài toán vốn ngoại, để có thể
mua nguyên vật liệu, Vinamilk lại đối mặt với khó khăn về máy móc, thiết bị khi hầu hết
đã cũ và hỏng hóc nhiều.
5. Những biện pháp khắc phục của Vinamilk.
Đội ngũ lao động là yếu tố then chốt quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Với sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại
song một số khâu không thể thiếu bàn tay, óc sáng tạo của người lao động. Do đó công ty
cần phát huy và khơi dậy sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi người lao động. Công nghệ kỹ
với mức tiêu thụ của các nướctrong khu vực như Thái Lan (tiêu thụ 23 lít/ năm – 2003),
Trung Quốc (25 lít/ năm – 2006). Bên cạnh đó sức tiêu thụ ở Việt Nam đang tăng khá
nhanh khoảng 20 – 30 % mỗi năm. Mặc dù sức thụ chưa cao nhưng sản xuất sữa trong
nước chỉ đáp ứng 30% nhu cầu do đó Vinamilk có nhiều cơ hội để mở rộng sản xuất, đáp
ứng lượng cầu ngày một tăng.
Thách thức
Lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng,
đòi hỏi doanh nghiệp luôn đảm bảo chất lượng sản phẩm. Mọi sai sót về chất lượng sản
phẩm sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến thương hiệu. Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ tạo điều
kiện cho các công ty nước ngoài thâm nhập vào thị trường trong nước, tăng sức cạnh
tranh giữa các công ty trong ngành. Ngoài ra việc giảm thuế nhập khẩu đối với các sản
phẩm sữa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các sản phẩm sữa ngoại nhập. Bên cạnh đó tâm lý
ưa thích sử dụng hàng ngoại của người Việt Nam cũng là một thách thức rất lớn đối với
các doanh nghiệp trong ngành, không riêng gì Vinamilk. Khởi đầu năm 2010 cho thấy giá
bột sữa nguyên liệu sẽ dao động theo chiều hướng tăng. Vì vậy ngay từ đầu năm Vinamilk
đã tăng giá một số sản phẩm, trong đó có sản phẩm sữa nước. Đây là thách thức rất lớn
cho Vinamailk, nếu có thể giữ nguyên giá thành thì sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh rất lớn
so với các đối thủ.
7. Mục tiêu phát triển của Vinamilk trong thời gian tới.
Theo kế hoạch, Vinamilk đã đặt ra mục tiêu năm 2018 với doanh thu 55,500 tỷ đồng
tăng 8,5% so với thực hiện năm 2017.
11
Quan hệ lao động trong tổ chức
Nhằm hướng tới thương hiệu toàn cầu, với mục tiêu phát triển bền vững và vươn xa ra
thị trường quốc tế Vinamilk đã đặt ra chiến lược phát triển dài hạn gắn với các phong trào
thi đua để trở thành một trong 50 công ty sữa lớn nhất thế giới với doanh số 3 tỷ USD.
Để đạt được mục tiêu trên, liên tục trên nhiều năm Vinamilk đã triển khai phong trào
thi đua: “ Phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
Quan hệ lao động trong tổ chức
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Tiệp, 2011, Quan hệ lao động. Hà Nội: NXB: Lao động – Xã Hội
Báo cáo thườn niên, 2017
< > [Ngày
truy cập 20 tháng 06 năm 2018]
PV. Nhịp cầu đầu tư, 2015, Vinamilk và lời giải cho tham vọng 3 tỉ USD
< > , [Ngày truy cập 20 tháng 06 năm 2018]
Theo dddn.com.vn, 2013, Thấy gì từ lương thưởng của Vinamilk,
< > [ngày truy cập 20 tháng 06 năm 2018]
Trích từ VOV.vn, 2015, Bà Mai Kiều Liên chia sẻ về hành trình vượt khó của Vinamilk,
, [ngày truy cập 20 tháng 06 năm 2018]
Gia đình Việt Nam, 2016, Vì sao người lao động muốn gắn bó lâu dài với Vinamilk,
< [Ngày truy cập 20 tháng 06 năm 2018]
Quan hệ lao động trong tổ chức
Theo Trí thức trẻ, 2017, Những bước phát triển bền vững của công ty có giá trị thương
hiệu lớn nhất Việt Nam < > [Ngày truy cập 20
tháng 06 năm 2018]