Trách nhiệm chính trị của người đứng đầu chính quyền cơ sở ở Việt Nam hiện nay (qua khảo sát tại tỉnh Nghệ An) - Pdf 56

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

H TH BCH NGC

TRáCH NHIệM CHíNH TRị CủA NGƯờI ĐứNG ĐầU
CHíNH QUYềN CƠ Sở ở VIệT NAM HIệN NAY
(Qua kho sỏt thc t ti tnh Ngh An)

LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CHNH TR HC

H NI - 2019


HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

H TH BCH NGC

TRáCH NHIệM CHíNH TRị CủA NGƯờI ĐứNG ĐầU
CHíNH QUYềN CƠ Sở ở VIệT NAM HIệN NAY
(Qua kho sỏt thc t ti tnh Ngh An)

LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CHNH TR HC
Mó s: 62 31 02 01

Ngi hng dn khoa hc: GS.TS. NGUYN NG THNH

H NI - 2019




: Kinh tế - xã hội

NNPQ

: Nhà nước pháp quyền

NNPQ XHCN

: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

QLNN

: Quản lý nhà nước

QP-AN

: Quốc phòng - an ninh

TAND

: Tòa án nhân dân

Ủy ban nhân dân : Ủy ban nhân dân
VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân


DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

1.2. Công trình nghiên cứu ở trong nước
1.3. Tổng quan kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học nước
ngoài, trong nước và các nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu

7
7
20
28

Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRÁCH NHIỆM CHÍNH TRỊ CỦA
NGƢỜI ĐỨNG ĐẦU CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ

2.1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm chính trị của người đứng
đầu chính quyền cơ sở
2.2. Nội dung cơ bản về trách nhiệm chính trị của người đứng đầu
chính quyền ở cơ sở

32
32
59

Chƣơng 3: THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM CHÍNH TRỊ CỦA NGƢỜI
ĐỨNG ĐẦU CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY

3.1. Một số thực trạng về trách nhiệm chính trị của người đứng đầu
chính quyền cơ sở ở nước ta hiện nay
3.2. Trách nhiệm chính trị của người đứng đầu chính quyền cơ sở
ở tỉnh Nghệ An
Chƣơng 4: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÁCH
NHIỆM CHÍNH TRỊ CỦA NGƢỜI ĐỨNG ĐẦU CHÍNH QUYỀN

thành mẫu hình “kinh nghiệm” tại các nước khi để chính quyền có điểm nóng
chính trị -xã hội).
Quyền lực nhà nước tại cơ sở trước hết của chính người dân cơ sở,
chính quyền là thiết chế bộ máy quyền lực của người dân tại cơ sở và người
đứng đầu chính quyền là người nắm quyền lực chính trị do người dân ủy
quyền. Điều đó đi đến nhân quả của quyền lực chính trị xuất phát từ yêu cầu
của người dân cần thay đổi, cải thiện chính những lợi ích của mình đối với
đời sống chính trị tại cơ sở, thông qua lá phiếu quyền lực mà họ trao. Trách
nhiệm chính trị là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, của cán bộ giữ trọng
trách trong bộ máy quyền lực Nhà nước được đặt ra trước cử tri và các tầng
lớp nhân dân. Trách nhiệm đó phải được xác lập dựa trên sự tín nhiệm của
nhân dân là chủ thể đã bầu ra những người được giao chức vụ, quyền hạn.
Xuất phát từ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt đối
với công tác cán bộ đã góp phần quan trọng đối với phương thức lãnh đạo của
Đảng. Tổng kết 20 xây dựng chiến lược cán bộ, Đại hội XII của Đảng, Hội
nghị Trung ương 7 khóa XII đã thảo luận và ban hành Nghị quyết về “Tập
trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất,
năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Nghị quyết 26-NQ/TW, ngày
19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương được xây dựng trên quan điểm đổi


2
mới, coi yếu tố cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược trong Nghị quyết, là trung
tâm, xuyên qua mọi đổi mới trên các lĩnh vực, có vai trò quan trọng nhất, quyết
định thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng của Đảng. Tuy nhiên,
nhận thức của một số cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cán bộ,
đảng viên về cán bộ và công tác cán bộ chưa thật sự sâu sắc, toàn diện. Vẫn
còn tình trạng chưa hiểu rõ về vai trò, tầm quan trọng cũng như yêu cầu tiến
hành thường xuyên, liên tục, toàn diện, đồng bộ của công tác cán bộ. Có tổ
chức đảng và người đứng đầu chưa thấy rõ mối quan hệ biện chứng, sự liên

lượng nên kết quả nhiệm vụ còn chung chung. Vậy, trách nhiệm chính trị của
người đứng đầu chính quyền cơ sở gắn liền với trách nhiệm về một thực trạng
chính quyền cơ sở còn nhiều bất cập.
Xuất phát từ những lý do lý luận và thực tiễn nêu trên tác giả lựa chọn
chủ đề “Trách nhiệm chính trị của người đứng đầu chính quyền cơ sở ở
Việt Nam hiện nay” (qua khảo sát tại tỉnh Nghệ An) làm Luận án Tiến sỹ
chuyên ngành Chính trị học.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng luận cứ; làm rõ những vấn đề lý luận về trách nhiệm chính
trị của người đứng đầu chính quyền cơ sở; trên cơ sở đó đánh giá thực
trạng trách nhiệm chính trị của người đứng đầu chính quyền cơ sở (qua
khảo sát thực tế tại tỉnh Nghệ An); đề xuất phương hướng và những giải
pháp nâng cao trách nhiệm chính trị của người đứng đầu chính quyền cơ sở
ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa quan điểm và cách tiếp cận; đưa ra quan điểm, cách
tiếp cận về trách nhiệm chính trị của người đứng đầu chính quyền cơ sở
góp phần thay đổi mô hình, tính chất tổ chức hệ thống chính trị cơ sở ở
Việt Nam hiện nay.
- Nghiên cứu cơ sở chính trị, pháp lý và xã hội, đặc điểm, vai trò, nội
dung, hình thức, cơ chế hoạt động của chính quyền cơ sở từ đó chỉ ra các
hình thức, nội dung, đặc điểm, cơ sở xác định, điều kiện đảm bảo thực hiện
trách nhiệm chính trị của người đứng đầu chính quyền cơ sở.


4
- Nghiên cứu lý luận thực hiện trách nhiệm chính trị của người đứng đầu
chính quyền cơ sở ở một số nước; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Khảo sát thực trạng; chỉ ra nguyên nhân; những vấn đề đặt ra đối với

đảng, luật học, lãnh đạo học, hành chính công, xã hội học... để nghiên cứu.
4.2. Cơ sở lý luận
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra, đề tài sử dụng
phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
xây dựng đội ngũ cán bộ - công chức, nâng cao chất lượng chính quyền cơ sở,
xây dựng đảng làm cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu chủ đạo.
Ngoài ra, đề tài cũng tiếp cận những lý thuyết lãnh đạo, hành chính,
chính trị - pháp lý hiện đại, kinh nghiệm của một số nước; kế thừa, tham
khảo các công trình nghiên cứu, số liệu điều tra, tổng kết thực tiễn của các
cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để nghiên cứu vấn đề.
4.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh; phương pháp
khoa học liên ngành; phương pháp chuyên gia; phương pháp điều tra xã hội
học, sử dụng phần mềm để phân tích.
* Đối tượng điều tra:
+ Cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách cấp xã;
thôn, bản (30 người).
+ Cán bộ xã đã nghỉ chế độ (10 người).
+ Người dân trên địa bàn xã (20 người).
* Địa điểm điều tra: Được phân thành 3 vùng (vùng núi cao, vùng núi thấp,
đồng bằng); mỗi vùng chọn 3 huyện, mỗi huyện chọn 3 xã; mỗi xã lấy 60 mẫu.
* Số lượng mẫu: 3 vùng x 3 huyện x 3 xã x 60 mẫu/xã = 1.620 mẫu.
Quá trình triển khai, nghiên cứu sinh đã thu được kết quả như sau:
* Tổng số phiếu phát ra: 1.620 phiếu.
* Tổng số phiếu thu về: 1.620 phiếu,
Trong đó có 13 phiếu không đầy đủ thông tin cụ thể như sau:
+ Số phiếu hợp lệ: 1.607 phiếu (chiếm 99,1 %);


6



7
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH
NHIỆM CHÍNH TRỊ CỦA NGƢỜI ĐỨNG ĐẦU CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ
1.1. CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƢỚC NGOÀI

Trách nhiệm chính trị của người đứng đầu không trở thành hệ thống
nghiên cứu về mặt lý luận trên thế giới, các lý thuyết nghiên cứu không nhiều
như các vấn đề quyền lực chính trị khác. Do thể chế chính trị của mỗi nước,
lịch sử tiền lệ nghiên cứu tư tưởng của các nhà lý luận kinh điển trên thế giới,
sự va đập các yếu tố thời đại như sự hội nhập quốc tế, sự toàn cầu hóa, sự phát
triển về chất và lượng của khoa học kỹ thuật, sự lớn mạnh không ngừng của lực
lượng vật chất thế giới nên hệ thống lý luận của loài người có sự tương thích để
tạo nên giá trị của mình xoay quanh trục quyền lực của loài người.
Ta có thể dễ dàng tiếp cận với tri thức thời đại, hệ thống lý luận, các công
trình nghiên cứu qua các vấn đề quyền lực nhà nước như hệ thống lý luận nhà
nước pháp quyền, hệ thống lý luận dân chủ, tôn giáo, nhân quyền, hệ thống lý
luận về phát triển kinh tế, hệ thống lý luận về các khoa học kỹ thuật, về văn hóa,
xã hội. Tại các nước phương tây hay các nước phương đông với mục đích quyền
lực nhà nước khác nhau, đặc điểm và điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, lịch sử
khác nhau có cách thiết kế nhà nước khác nhau và thực hành giá trị lý luận hoàn
toàn khác nhau hoặc khác nhau ở những điểm cụ thể. Quyền lực thế giới loài
người không chỉ thể hiện ở địa giới, phạm vi quốc gia, các khu vực quyền lực đo
đếm, tách biệt, phân tầng mà còn đan xen, ẩn sâu vào các tính chất và mức độ
khác nhau, chủ thể quyền lực tùy theo đặc điểm mà thể hiện khác nhau. Tuy
nhiên, với thế giới hiện tại, quyền lực nào cũng do con người phụ trách, từng cá
nhân hay từng nhóm người hay từng bộ phận, từng giai tầng, từng lãnh địa hay
xuyên lãnh địa cũng do con người đảm nhận quyền lực đó, con người lẽ thường

xoay quanh trục quyền lực chính trị, thể hiện trách nhiệm chính trị qua phong cách,
bản chất của cán bộ hành chính, người đứng đầu tổ chức này.
Ngược lại, qua bộ quy tắc ứng xử và tiêu chuẩn đạo đức chính là thể
chế hóa Luật và thậm chí là hiến pháp của Mỹ đã thể hiện trong bộ quy tắc
này là cơ sở để người dân tham gia vào quá trình hoạch định chính sách
công của Mỹ, người dân kiểm soát các hoạt động công để quy kết trách
nhiệm hành chính, sát với thực tiễn đời sống dân cư cơ sở (trừ bộ phận dân


9
cư thờ ơ chính trị) và khi đối tượng phục vụ người dân có các hành vi không
có đạo đức công vụ như sách nhiễu, de dọa, trục lợi cá nhân, bưng bít thông
tin, thô lỗ, xem thường người khác… thiếu chính trực, thiếu liêm chính,
thiếu kịp thời... thì được xem là không có trách nhiệm trong việc thực hiện
quyền lực công và bị truy xét trách nhiệm trong việc thực hiện công việc
quản lý hành chính khu vực công và cuối cùng đi đến trách nhiệm chính trị
khi chiến dịch bầu cử nổi lên nó sẽ thành vũ khí tối tân (do hiệu ứng công
nghệ bầu cử hiện đại), nhân sức mạnh lên để đánh gục đối thủ của đảng đối
lập, khi đối thủ đó đang đảm nhận lĩnh vực hành pháp này. Như vậy, trách
nhiệm chính trị gắn chặt với trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm hành chính.
Quá trình cai trị: Nghiên cứu về áp lực xã hội (The Process of
Government: A Study of Social Pressures), là cuốn sách đi sâu vào nghiên
cứu áp lực xã hội. Trong các quyền lực được hình thành trong một quốc gia
thì quyền lực chính trị là quyền lực quan trọng nhất, quyền lực này gắn chặt
với cơ quan công quyền. Quyền lực chính trị được hình thành từ chính các
nguồn lực và năng lực của cơ quan công quyền. Điều này cũng được lý giải
quyền lực ở chính quyền cơ sở.
Với “Luận đề Weber” là đại diện tư tưởng chủ nghĩa tinh hoa cạnh
tranh đã có những hạt nhân tích cực liên quan và tác giả luận án kế thừa
một số quan điểm gắn với quyền lực nhà nước. Trước hết và xuyên suốt

hội (Administation Politics and Social Change) [38], hay Cách cư xử đạo đức:
Những nguyên tắc cho công chức chính quyền, (Ethical Conduct: Guidelines for
Government Employess) [55], các tác giả đã tiếp cận dưới góc độ về cải cách
hành chính là động lực quan trọng để phát triển xã hội, thông qua các khảo sát,
đo lường về chế độ trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức hành chính
cũng như các quy định của công chức. Trong đó đạo đức công vụ là một dạng
trách nhiệm, thể hiển sự ứng xử của nền công vụ đối với lòng tin của người dân
qua giới công chức.
Why Did the Elites Extend the Suffrage? Democracy and the Scope of
Government, with an Application to Britain’s [129] và tác giả Acemoglu và
Robinson (2012) trong cuốn Why Nations Fail [125], là những công trình
nghiên cứu về sự phân bổ của trách nhiệm chính trị đến các nguồn lực và giá trị
trong một quốc gia. Quyền lực chính trị chính đáng sẽ tạo nên trách nhiệm


11
chính trị cao, thể hiện trong việc hoạch định chính sách theo chiều trên xuống
có tác dụng mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển tăng trưởng. Tác giả
không nghiên cứu theo chiều hướng các nguồn lực trong xã hội. Trong đó,
nguồn lực kinh tế là quan trọng nhất tác động đến đời sống chính trị và ngược
lại, lúc này trách nhiệm chính trị thông qua phương thức như công khai, minh
bạch trở thành giải pháp quan trọng để thực hiện quá trình tái phân phối nguồn
lực trên các lĩnh vực cụ thể như dịch vụ công; sản xuất cung cấp hàng hóa.
Như vậy, trách nhiệm chính trị lúc này nổi lên là kết quả của chế độ
dân chủ thông qua phương thức như công khai, minh bạch. Tác giả cũng
trình bày hệ thống lý luận trách nhiệm chính trị thể hiện trách nhiệm trước
cử tri chính là căn cứ quan trọng cho dân chủ chính trị phát triển, trách
nhiệm chính trị được các tác giả nhấn mạnh không chỉ là nguồn lực cho
phát triển kinh tế mà còn là bộ giáp ngăn cản sự lạm dụng quyền lực đối
với sự phát triển quốc gia, ngăn cản sự xung đột trong một quốc gia và tạo

chính trị chính là mục tiêu, phương thức, kết quả công suất đó. Nếu có
phương pháp đo lường hiệu suất của chính phủ thì hiệu suất lại càng cao
hơn. Tác giả đã chỉ ra những thách thức liên quan đến hoạt động chính phủ
và sự tham gia của người dân và đề ra cơ chế buộc người ra quyết định
chịu trách nhiệm về hoạt động của mình.
Làm rõ mối quan hệ giữa dân chủ với công khai, minh bạch và trách
nhiệm chính trị trong hoạt động của cơ quan hành chính, nghiên cứu
Democracy, Accountability and Representat [2], tác giả đã bàn khá sâu về cơ
chế công khai, minh bạch, trách nhiệm chính trị và mối quan hệ giữa nó với
vấn đề dân chủ và đại diện. Cơ sở cho việc xác định trách nhiệm công khai,
minh bạch và trách nhiệm chính trị đó là sự ủy quyền của người dân và tính đại
diện của bộ máy nhà nước. Thực ra, mối quan hệ này đã được đề cập đến trong
các nghiên cứu dưới góc độ chính trị và pháp lý từ thế kỷ XVII-XVIII. Với tư
cách là người chủ, người dân phải có quyền được biết chính quyền đã, đang và
sẽ làm gì cho mình, trước hết để nâng cao nhận thức của mình; thứ hai, vô hình
chung đó là trách nhiệm của người dân; thứ ba, người dân tham gia vào việc
hoạch định và thực thi chính sách trở thành vốn to lớn cho chính quyền. Nghiên
cứu chỉ ra rằng, trách nhiệm chính trị của chính phủ không chỉ thể hiện trách
nhiệm của chính quyền trước người dân, mà nó còn góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động của chính quyền trong quản lý hành chính nhà nước.


13
Khi đề cập đến trách nhiệm chính trị của Chính phủ, tác giả cho rằng công
khai, minh bạch các vấn đề trước người dân ở hai nội dung chính: (i) Trình bày
trước cử tri - về trách nhiệm chính trị của mình đối với các vấn đề liên quan; (ii)
Trình bày các vấn đề liên quan đến thực thi nhiệm vụ công vụ tại các cơ quan
công quyền. Dân chủ lúc này trở thành bản chất của chế độ, trách nhiệm chính trị
được thực thi chính là phương thức quan trọng của nền dân chủ khi mà hai thực
thể chính của chế độ này tương tác để phát triển.

cuốn Tính quan liêu trong xã hội hiện đại [4], (Bureau in Modern Societ),
tác giả đã mô tả các đặc tính quan liêu của thể chế hành chính; xây dựng
các công cụ đo lường tính quan liêu; chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến
hoạt động của công chức bằng phương pháp định lượng.
Cuốn sách cho thấy sự quan liêu sẽ làm cho công chức kém năng
động; giảm sút trách nhiệm, lòng nhiệt tình và nó cũng là môi trường mà ở
đó mọi người sẽ thỏa thuận với nhau nhằm giữ nguyên hiện trạng để trục
lợi. Theo tác giả, để công chức có trách nhiệm hơn thì cần phải xóa bỏ sự
quan liêu của nền hành chính, siết chặt kỷ luật thông qua sự giám sát của
cấp trên, người dân và các tổ chức xã hội dân sự.
1.1.3. Một số tƣ tƣởng, lý thuyết liên quan đến trách nhiệm chính
trị của đứng đầu chính quyền cơ sở ở một số nƣớc tiêu biểu
Tác giả luận án lựa chọn một số tư tưởng, lý thuyết tiêu biểu ở một
số nước để có trị vận dụng và hơn nữa là để kiểm soát các yếu tố ảnh
hưởng về mặt lý luận đến các nội dung trách nhiệm chính trị của người
đứng đầu chính quyền cơ sở, đặc biệt nghiên cứu để tìm ra những giải pháp
của luận án có tính đột phá chứ không phải là những giải pháp thông dụng,
mặc dù có những giải pháp áp dụng được ngay nhưng có những giải pháp
về mặt chiến lược, nhưng trước hết là cơ sở khoa học từ việc rút ra kết luận
xác đáng từ các tư tưởng, lý thuyết đã được vận dụng tại các quốc gia tiêu
biểu. Hiện nay trên thế giới có nhiều cách tiếp cận lý luận chính trị khác nhau,
cách tiếp cận thể chế (Institutional approach) như công trình nghiên cứu: “Xã
hội và nền dân chủ Đức hay “Nền chính trị Anh trong kỷ nguyên của những
người theo chủ nghĩa tập thể” [116]; “Sự biến đổi chính trị ở Anh” [122], đã
nghiên cứu đi sâu vào các quyền lực chi phối trong xã hội, sự biến đổi trong
hệ thống thể chế, trong đó nổi lên quyền lực của nghị viện hay các đảng phái.


15
Với cách tiếp cận chính sách, với tác giả tiêu biểu là Macridis có công trình


16
quyền riêng đối với chính quyền thấp nhất, tính chất tập quyền là đặc điểm của
thể chế chính trị Anh. Tại đây cũng như các nước lớn khác đều đề cao tính tối
thượng của luật pháp, không có một bản hiến pháp thành văn, luật được thay
đổi nhanh chóng nhưng đều bị trừng trị khi có bằng chứng vi phạm pháp luật,
không có cá nhân người đứng đầu đứng trên luật. Trách nhiệm chính trị tại Anh
được đặt trên vai các thiết chế chính trị, vai trò của người dân, hoạt động công
luận, hoạt động bầu cử, kỷ luật và cơ chế bỏ phiếu, hay hoạt động giám sát,
chất vấn của đảng đối lập đối với đảng chiếm đa số trong nghị viện luôn được
xem trọng, tạo nên áp lực chính trị để hình thành trách nhiệm chính trị tại Anh.
- Tại Mỹ: từ thời lập quốc đến nay với bao biến cố lịch sử chính trị, sự
va đập các giá trị tư tưởng tồn tại đây, tôn trọng cái bản thể, cái đa dạng, sự
dung hợp các yếu tố tích cực hay sự hiện tồn các yếu tố tiêu cực trong đời sống
chính trị Mỹ, con người với tư cách cá nhân chính trị tại Mỹ luôn được xem
trọng, ai có tư chất nổi trội, chịu trách nhiệm cao về tư tưởng chính trị của mình
thì được xem là một dạng tinh hoa. Từ đây, Mỹ đã thiết kế cho mình mô hình
chính trị với các nguyên tắc cơ bản như chế độ liên bang; tự do dân chủ; quyền
của người dân. Dù đề cao vai trò cá nhân chính trị nhưng quan điểm cơ bản của
hệ thống lý luận Mỹ không tập trung quyền lực chính trị vào tay cá nhân mà
được kiểm soát bởi chính các quy định của quyền lực thể chế thông qua cơ chế
kiểm soát và cân bằng quyền lực, tâm quyền phân lập đến mức tối đa. Quyền
lực được kiểm soát bằng quyền lực nên hạn chế hữu hiệu đối với việc lạm
quyền, những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật của cá nhân hay chính phủ
đều dễ bị phơi bày trước công luận và người dân. Thực chất, trách nhiệm chính
trị của các thủ lĩnh chính trị có sự ổn định không dễ gì phá vỡ khi tham gia vào
chính trường, tự do thể hiện chính kiến, quan điểm, các giải pháp đề ra ngay từ
chương trình tranh cử cho đến khi thực thi quyền lực của mình đều tuân thủ
luật chơi chung, trách nhiệm chính trị của thủ lĩnh chính trị tiêu biểu đều đại
diện cho lợi ích của đảng chính trị, lợi ích các thế lực trong xã hội Mỹ, về hình

hành hội đồng xã, đại diện pháp lý cho xã nhưng nếu bị bãi miễn phải có quyết
định của Trung ương. Vậy trong việc thực thi trách nhiệm được phân những
nhiệm vụ của các cấp ủy quyền quy định trách nhiệm tương ứng của xã trưởng.
Trên các lĩnh vực chịu trách nhiệm trước xã như quản lý tài chính, quản lý tài
sản (các thiết bị trường tiểu học) cấp phép xây dựng, bảo tồn tài nguyên, di sản


18
văn hóa. Xã trưởng có thẩm quyền riêng trong việc ra các quyết định về các
lĩnh vực như điều hành cán bộ, lĩnh vực an ninh, y tế. Với vị thế thay mặt nhà
nước tại chính quyền cấp xã thì xã trưởng thực hiện các nhiệm vụ như đăng ký
kết hôn, khai sinh, khai tử, thủ tục trấn áp tội phạm. Các quyết định hành chính
của xã trưởng nhân danh xã bị kiểm soát bởi Tòa án, nếu nhân danh nhà nước
thì phải được cấp tỉnh trưởng phê chuẩn. Điểm nhấn trong trách nhiệm chính trị
tại Pháp là nhiều lần chứng kiến sự từ chức của cá nhân các vị bộ trưởng, thậm
chí là thủ tướng chính phủ khi các vị này nhận trách nhiệm chính trị về mình
bởi chính các tổ chức xã hội hay các tổ chức nhân quyền khi họ bóc trần những
sai phạm, yêu cầu đặt ra là các cá nhân thủ lĩnh chính trị phải hoạt động chuyên
nghiệp hơn, trách nhiệm hơn khi áp lực xuất hiện không phải từ công quyền mà
chính từ các tổ chức phi chính phủ. Trách nhiệm chính trị tại Pháp trên cơ chế
quyền lực phân công và đối trọng nhau, tổng thống là người quản lý hành pháp,
thủ tướng là người của đảng chiếm đa số nhưng thực tiễn quyền lực cho thấy
trách nhiệm chính trị của tổng thống cao hơn, tổng thống có quyền giải tán hạ
viện nhưng ngược lại, hạ viện có quyền không thông qua chính sách của tổng
thống. Vậy trách nhiệm chính trị của cá nhân các thủ lĩnh gắn liền với thực tiễn
đời sống chính trị của Pháp chứ không hẳn là gắn với lý thuyết chính trị hay hệ
thống luật pháp quy định.
- Trung Quốc: Hương trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, cấp thấp nhất,
gần nhất với đời sống của người dân. Trung Quốc cũng như hầu hết các quốc gia
khác trên thế gới luôn xem trọng cấp cơ sở, đối tượng tiếp nhận, xử lý các chủ

- Thái Lan: Hiến pháp Thái Lan có từ năm 1933, với Luật kế hoạch và
quy trình phi tập trung hóa năm 1999 đã quy định chế độ tự quản của chính
quyền địa phương, tiếng nói, yêu cầu từ chính quyền xã (Tambon) được xem
trọng, tuy nhiên trách nhiệm chính trị của người đứng đầu không hẳn được phát
huy như trong lý thuyết. Chính quyền Thái Lan phân thành ba cấp, trung ương,
tỉnh và xã. Cấp huyện không phải là cơ quan hành chính độc lập. Mỗi hình thức
tự quản ở xã đều hoạt động theo một đạo Luật riêng và trong đó đề cao trách
nhiệm chính trị của người đứng đầu chính quyền cơ sở khảo sát với đời sống
người dân cũng như chịu trách nhiệm với cấp cao hơn cấp trung gian là cấp
huyện, tạo sự chủ động trong việc đề ra các sáng kiến cải tiến tại xã. Ở Thái
chức vụ xã trưởng được bầu cử theo phổ thông đầu phiếu, cuộc bầu cử diễn ra
khá sôi động do các ứng cử viên cạnh tranh từ các trưởng thôn, khối xóm.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status