ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA HÓA HỌC
-----
-----
HUỲNH LINH NHÃ TRÚC
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN NHÓM CHỨC VÀ XÁC ĐỊNH
HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA MỘT SỐ DỊCH CHIẾT CÂY THẦU
DẦU (RICINUS COMMUNIS L.) Ở ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN SƢ PHẠM
Đà Nẵng, năm 2018
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA HÓA HỌC
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
-----
-----
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN SƢ PHẠM
- Dụng cụ, thiết bị: Bình tam giác có nút nhám, bản mỏng sắc ký, đèn UV, cân phân
tích, bếp cách thủy, tủ sấy, đĩa peptri, cốc thủy tinh, ống nghiệm, nồi khử khuẩn …
3. Nội dung nghiên cứu
o
- Định tính các nhóm chất có trong cao chiết ethanol 80 các bộ phận cây thầu dầu
bằng ống nghiệm và bản mỏng.
o
- Xác định hoạt tính sinh học của cao chiết ethanol 80 các bộ phận cây thầu dầu
4. Giáo viên huớng dẫn: TS. Trần Mạnh Lục
5. Ngày giao đề tài: 01/08/2017
6. Ngày hoàn thành: 25/03/2018
Chủ nhiệm khoa
PGS.TS Lê Tự Hải
Giáo viên huớng dẫn
TS. Trần Mạnh Lục
Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày 23 tháng 04 năm 2018
Kết quả điểm đánh giá:…….
Đà Nẵng, ngày 27 tháng 04 năm 2018
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
3.2.
Pham vi nghiên cứu...................................................................................2
4. Nội dung nghiên cứu........................................................................................2
4.1.
Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết............................................................2
4.2.
Phƣơng pháp nghiên cứu thực nghiệm......................................................2
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài..........................................................2
6. Bố cục luận văn................................................................................................2
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN.......................................................................................3
1.1. ĐẠI CƢƠNG VỀ CÂY THẦU DẦU..............................................................3
1.1.1. Tên gọi..........................................................................................................3
1.1.2. Họ thầu dầu (Euphorbiaceae).......................................................................3
1.1.3. Thầu dầu Ricinus communis L., họ Đại kích (Euphorbiaceae).....................4
1.2. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÂY THẦU
DẦU...................................................................................................................... 10
1.3. MỘT SỐ ỨNG DỤNG CỦA CÂY THẦU DẦU........................................... 11
1.3.1. Một số bài thuốc từ cây thầu dầu................................................................. 11
1.3.2. Một số ứng dụng khác................................................................................. 13
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM...............15
2.1. NGUYÊN LIỆU, DỤNG CỤ, HÓA CHẤT................................................... 15
2.1.1. Nguyên liệu................................................................................................. 15
2.1.2. Xử lý nguyên liệu........................................................................................ 15
3.4.1. Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn.............................................................. 61
3.4.2. Kết quả thử hoạt tính kháng oxy hóa........................................................... 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................. 69
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT : Số thứ tự
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
VSV: Vi Sinh Vật
TT: Thuốc Thử
DĐVN : Dƣợc Điển Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
3.1
Kết quả khảo sát khố
3.2
Kết quả định tính nh
thầu dầu lá to
3.3
Tổng hợp kết quả đị
lá của cây thầu dầu l
Kết quả định tính nh
cây thầu dầu lá to
Tổng hợp kết quả đị
cành của cây thầu dầ
3.11
3.12
3.13
Kết quả định tính nh
cây thầu dầu lá to
Tổng hợp kết quả đị
thân của cây thầu dầ
3.14
Bảng đo Rf của các v
thầu dầu lá to với du
3.15
Bảng đo Rf của các v
thầu dầu lá to với du
3.16
Bảng đo Rf của các v
thầu dầu lá to với du
3.23
Bảng đo Rf của các v
thầu dầu lá to với du
3.24
Bảng đo Rf của các v
thầu dầu lá to với du
3.25
Bảng đo Rf của các v
thầu dầu lá to với du
3.26
Bảng đo Rf của các v
thầu dầu lá nhỏ với d
3.27
Bảng đo Rf của các v
thầu dầu lá nhỏ với d
3.28
Bảng đo Rf của các v
thầu dầu lá nhỏ với d
3.35
Bảng đo Rf của các v
cây thầu dầu lá to vớ
3.36
Bảng đo Rf của các v
cây thầu dầu lá to vớ
3.37
Bảng đo Rf của các v
cây thầu dầu lá to vớ
3.38
Hoạt tính kháng khu
3.39
3.40
Hoạt tính kháng khu
Kết quả khảo sát hoạ
o
80 các bộ phận cây
1.9
Rễ cọc cây thầu dầu
1.10
1.11
Rễ nhánh cây thầu d
Rễ cây thầu dầu lá n
1.12
Cấu trúc hóa học của
1.13
Cấu trúc hóa học của
1.14
1.15
Lá vông kết hợp với
Hạt thầu dầu tía chữa
2.1a
Lá của cây thầu dầu
2.1b
Bột cành của cây thầ
Thân của cây thầu dầ
2.6b
2.7
Bột thân của cây thầ
Sơ đồ quá trình thực
2.8
Ngâm bột các bộ phậ
2.9
2.10
Bản mỏng silicagel 6
Bình triển khai dạng
2.11
Các chủng Vi sinh vậ
2.12
Buồng cấy Vi sinh v
2.13
3.1
thầu dầu lá to
Kết quả thử khả năng
thầu dầu lá nhỏ
3.9
Kết quả thử khả năng
thầu dầu lá to
3.10
Kết quả thử khả năng
thầu dầu lá nhỏ
3.11
Kết quả thử khả năng
cây thầu dầu lá to
Kết quả thử khả năng
cây thầu dầu lá to
3.12
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đời sống con ngƣời ngày càng
không ngừng đƣợc nâng cao. Bên cạnh đó, sự lam dụng thái quá các sản phẩm công
các bộ phận của cây thầu dầu.
- Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn và hoạt tính kháng oxy hóa của dịch chiết
etanol từ các bộ phân của cây thầu dầu.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Các bộ phân cây thầu dầu (Euphorbiaceae) đƣợc thu hái vào tháng 8 năm 2017,
tại quận Liên Chiều, Đà Nẵng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thành phần hóa học trong một số dịch chiết của các bộ phận cây thầu dầu ở Đà
Nẵng.
- Hoạt tính kháng khuẩn và hoạt tính chống oxi hóa của các bộ phận cây thầu dầu
ở Đà Nẵng.
- Quá trình nghiên cứu đƣợc tiến hành tại phòng thí nghiệm hóa học, phòng
nghiên cứu vi sinh trƣờng Đại học Sƣ Phạm – Đại học Đà Nẵng và trung tâm thí
nghiệm của TS. Trần Mạnh Lục.
4. Nội dung nghiên cứu
4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
- Tham khảo các công trình nghiên cứu trên thế giới về loài nghiên cứu.
- Thu thập, tổng hợp, phân tích các tài liệu, tƣ liệu về đặc điểm hình thái thực
vật, nguồn nguyên liệu, thành phần hóa học, ứng dụng của các bộ phân cây thầu dầu.
- Tổng hợp tài liệu về phƣơng pháp lấy mẫu, chiết tách, định tính, xác định thành
phần hóa học, khảo sát hoạt tính kháng khuẩn và hoạt tính chống oxi hoá của thực vật.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Xử lý mẫu : các bộ phận của cây thầu dầu sau khi thi hái đƣợc rửa sạch, phân
loại, phơi khô và xay nhỏ.
- Phƣơng pháp tách chiết.
Lớp (class)
Bộ (ordo)
Họ (familia)
Tông (tribus)
Phân tông (subtribus)
Chi (genus)
Loài (species)
1.1.2. Họ thầu dầu (Euphorbiaceae)[1][2][8]
Họ thầu dầu hay còn gọi là họ Đại kích (Euphorbiaceae) là một họ lớn của thực vật
có hóa với 240 chi và khoảng 6000 loài. Họ này phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới,
với phần lớn các loài tập trung trong khu vực Indonesia, Malaysia và sau đó là khu vực
nhiệt đới châu Mỹ. Tại khu vực nhiệt đới châu Phi cũng có nhiều loài, giống, thứ
nhƣng không đa dạng nhƣ các khu vực kể trên. Tuy nhiên nhiều loài có trong các khu
vực không nhiệt đới nhƣ Địa Trung Hải, Trung Đông, miền Nam châu Phi hay miền
Nam Hoa Kỳ.
Trong hệ thực vật Việt Nam, Thầu dầu đƣợc coi là họ lớn, giàu thứ tƣ sau các họ
Lan (Orchidaceae), họ Đậu (Leguminosae), họ Lúa (Graminae) trong số 305 loài thực
vật bậc cao có mạch. Ở Việt Nam, họ Thầu dầu hiện đã biết có 75 chi cùng khoảng trên
450 loài và 16 thứ, trong số đó có chi Noi (Oligoceras) với 131 loài (chiếm 31,58% số
loài của cả họ) và 9 thứ (khoảng 56,25%) đƣợc coi là đặc hữu. Phần lớn các loài và
các thứ đạc hữu đều chỉ gặp phân bố rất hạn chế ở một vài địa phƣơng trong cả nƣớc.
4
Hầu nhƣ tất cả các loài trong họ Thầu dầu đều có chứa nhựa mủ và chứng thƣờng
rất độc. Nhựa mủ từ Cao su (Hevea braziliensis) là nguồn nguyện liệu quan trọng
trong công nghiệp. Song nói chung nhựa mủ của nhiều loài có thể gây dị ứng, gây
ngƣng kết hồng cầu, gây độc đối với ngƣời và gia súc. Tuy vậy nhựa mủ của nhiều
loài là nguồn dƣợc liệu có giá trị do có chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học cao.
Thầu dầu Ricinus communis L., họ Đại kích (Euphorbiaceae) là thành viên duy
nhất trong chi Ricinus cũng nhƣ của phân tông Ricinae. Ricinus là một từ trong tiếng
La – tinh để chỉ các loài bét (thuộc bộ Acarina).
Thầu dầu Ricinus communis thƣờng đƣợc gọi với các tên gọi khác nhau nhƣ: thầu
dầu, đu đủ tía, thầu dầu tía, bí ma từ.
Mặc dù nó có thể có nguồn gốc từ Đông Phi, nhƣng ngày nay nó đã phổ biến trên
toàn thế giới. Thầu dầu dễ thích nghi với môi trƣờng sống mới và có thể timd thấy ở
các vùng đất bị bỏ hoang và gần đây đƣợc trông nhiều để làm cảnh trong công viên
hay các nơi công cộng khác.
Ở Việt Nam thầu dầu mọc hoang và đƣợc trồng ở nhiều tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn,
Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Quảng Nam, Đà Nẵng.
Trồng trọt và thu hoạch: trồng bằng hạt vào tháng 12 đến tháng 1, thu hoạch vào
tháng 4 đến tháng 5, mỗi hecta (ha) cho khoảng 375 – 750 kg hạt. Hàng năm trên thế
giới sản xuất khoảng 40 vạn tấn thầu dầu.
Hiện nay ở Liên Chiểu – Đà Nẵng, cây thầu dầu hoang mọc rất nhiều, đặc biệt là ở
các vùng Hòa Minh, Hòa Khánh. Tuy nhiên việc trồng cây thầu dầu để thu hoạch thì
chƣa có và cũng không có một cơ sở doanh nghiệp nào ở Đà Nẵng thu mua để sản
xuất.
Hình dáng: Thầu dầu hiện diện dƣới dạng một cây thân thảo hay một tiểu mộc, nhất
niên hoặc đa niên tùy theo điều kiện khí hậu vùng cây mọc. Cây sống dai, chiều cao có
thể đạt từ 2 – 5m (ở một số nƣớc phần gốc có thể đạt tới 10m).
Hình 1.2. Thầu dầu (Nguồn: vi.wikipedia.org)
- Lá thầu dầu
Lá mọc so le, hình chân vịt có cuống dài, không lông và có răng, lá màu xanh
lá hay màu đỏ tía. Lá kèm sớm rụng, gân lá tỏa tròn. Phiến lá chia thành 5 đến 7 thùy,
một vài giống thuộc loài cây cảnh những lá mặt dƣới và cuống lá có màu đỏ.
cho hạt thầu dầu tách rời khỏi các nang bao bọc. Quả khô gồm có 3 ngăn vỏ cứng, trên
mỗi ngăn có một rãnh nông, khi chín nứt thành 6 mảnh. Hạt hình trứng, có vỏ bên
ngoài cứng trông giống con ve chó, hơi dẹt, dài khoảng 8 mm, rộng khoảng 6 mm, ở
đầu có mồng (chính là áo hạt của noãn khổng). Mặt hạt nhẵn bóng màu nâu xám, có
vân đỏ nâu hay đen, nội nhũ chứa nhiều dầu.
Hình 1.6. Quả của câythầu dầu lá to
Hình 1.7. Quả của cây thầu dầu lá nhỏ
Hạt thầu dầu có kích cỡ không giống nhau phụ thuộc vào nhiều điều kiện sinh
trƣởng và phát triển của cây. Trọng lƣợng hạt thông thƣờng nằm trong khoảng từ 0,3
– 0,5 g,(trong đó vỏ và nhân chiếm khoảng 75% trọng lƣợng hạt), cho khoảng 45%
dầu. Thành phần chủ yếu là xenluloza và hemixenluloza, hầu nhƣ không chứa dầu
hoặc rất ít, hơn nữa vỏ đảm nhiệm chức năng bảo vệ cơ học cho quả hoặc hạt dầu nên
có độ bền lớn.
Thành phần: Hạt chứa 50% dầu, 26% protein trong đó có ricin là một protein
độc, 0,2% ricin, ngoài ra còn có enzim lipase, vitamin, v.v ...
Công dụng:
Hạt thầu dầu giã nhỏ, chế thành thuốc cao dán để chữa viêm hạch cỏ,
viêm tuyến vú, thuốc cao dán gồm nhân hạt thầu dầu kết hợp với ngũ
bột tử theo tỉ lệ 98 : 2, dán vào huyệt bách hội có thể chữa sa dạ dày.
Hạt dùng chữa sa tử cung và trực tràng, sót nhau, đẻ khó, liêt thần
kinh mặt, viêm mù da, viêm hạch lao, dằm đâm vào thịt; dầu hạt trị
mụn nhọt, hầu tê, đại tiện táo kết, tràng nhạt.
- Dầu thầu dầu
Dầu thầu dầu đƣợc tách ra từ hạt thầu dầu bằng ép cơ học hay trích ly với dung
môi. Nó là chất lỏng không màu hoặc hơi vàng, rất sánh, mùi đặc biệt, vị khó chịu và
buồn nôn. So với nhiều loại dầu khác thì dầu thầu dầu có độ nhớt cao nhất (khoảng
o
Dầu thầu dầu không độc nhƣng hạt và khô dầu thầu dầu rất độc, vì có chứ ricin,
khi bị ngộ độc có hiện tƣợng nóng cổ họng, buồn nôn, sốt, đi tả, huyết áp hạ dẫn đến
ngừng hô hấp và chết (ăn 10 hạt có thể chết ngƣời), chữa ngộ độc bằng cách gây nôn,
rửa dạ dày, tiêm tĩnh mạch dung dịch glucose và dung dịch huyết thanh kháng ricin kết
hợp với thuốc giảm đau.
Ricin có thể ở dƣới nhiều dạng: bột, hơi sƣơng, viên nhỏ hoặc hào tan trong
nƣớc. Các triệu chứng chính của việc ngộ độc chất ricin phụ thuộc vào cách tiếp xúc
và liều lƣợng tiếp nhận:
9
Nêu hít: các triệu chứng thông thƣờng nhất là khó thở, sốt, ho, buồn nôn,
tức
ngực.
Nếu nuốt phải: các triệu chứng sẽ là ói mửa nặng và tiêu chảy, tiếp sau đó
là mất nƣớc và hạ huyết áp. Ngoài ra, còn có thể có một số triệu chứng khác nhƣ bị ảo
giác và co giật. Nếu da hoặc mắt bị tiếp xúc với bột phấn hoặc hơi sƣơng chất ricin thì
có thể sẽ bị đỏ hoặc đau. Tất cả những triệu chứng trên, nếu không đƣợc cấp cứu kịp
thời đều sẽ dẫn đến tử vong.
- Rễ thầu dầu
Hình 1.9. Rễ cọc của cây thầu dầu lá to
Hình 1.10. Rễ nhánh của cây thầu dầu lá to
12,9% acid stearic, 18,5%acid oleic và 33,2% acid linoleic, không thấy có acid
ricinoleic. Ngoài ra còn có các hợp chất sterol: Cholesterol, campesterol, stigmasterol,
b – sitosterol v.v…
Phát hiện dầu ép nóng: Hoà tan 3 ml dầu thầu dầu trong 3 ml chloroform thêm 1 ml
acid sulfuric đặc, lắc trong 3 phút, hỗn hợp phải có màu đỏ nâu, không đƣợc có màu
nâu đen.
Từ bã sau ép hết dầu, đã phân lập đƣợc ricin D, ricin acid và ricin base. Ricin D là một
protein- đƣờng rất độc, mỗi phân tử có 493 acid amin và 23 phân tử đƣờng. Ricin acid
và ricin base cũng có cấu tạo tƣơng tự. Trong mỗi phân tử có 2 mạch peptid nối với
nhau bởi dây nối S – S, 1 mạch isoleucin, 1 mạch alanin. Trong hạt có chứa ricinin là 1
alcaloid không độc.
Trong vỏ quả có chứa lupeol và 30 – norlupan-3β-ol-20-on.
R: = CH2 (Lupeol)
R: = O (30–nor–lupan-3β–ol–20–on)
Hình 1.12. Cấu trúc hóa học của chất trong vỏ quả thầu dầu
Lá có chứa các acid hữu cơ: Acid oxalic, citrric, malic, nhiều acid amin, các hợp
chất flavonoid (quercetin, isoquercetin), các acid béo no và không no, tanin (corilazin)
và acid sikimic.
11
Từ hạt nảy mầm đã chiết đƣợc catben, một dẫn chất diterpen có tác dụng trị
nấm và cytocrom C.
Hạt chứa 50% dầu, 26% protein trong đó có ricin là một protein độc, 0,2%
ricinin, ngoài ra còn có enzym lipase, vitamin E v.v…
Dầu thầu dầu là chất lỏng không màu hoặc màu hơi vàng, rất sánh, mùi đặc biệt,
o
vị khó chịu và buồn nôn, tan trong cồn tuyệt đối, tan khoảng 30% trong cồn 90 ,
cần sau 3 – 4 giờ là sẽ đi tiêu nhiều lần mà không bị đau bụng. Nếu muốn tẩy mạnh chỉ
cần tăng liều dầu hạt thầu dầu lên 30 – 50 g thì sẽ đi đại tiện kéo dài 5-6 giờ liền.
- Chữa sa tử cung và trực tràng: Lấy hạt thầu dầu giã nát sau đó lấy đắp lên
đầu.
- Sinh khó hay sót nhau: Lấy hạt thầu dầu (14 hạt), giã nát đem rịt vòng lòng
bàn chân cả 2 bên, nhƣng khi đã sinh xong hay nhau sót đã ra hết phải tháo bỏ ngay
thuốc ra và rửa sạch lòng bàn chân nơi đã đắp thuốc.
- Chữa liệt thần kinh mặt: Lấy hạt thầu dầu giã nát đắp vào phía mặt nơi đối
diện.
- Chữa hen suyễn: Dùng lá thầu dầu tía 12 gam, phèn phi 8 gam; hại vị tán
nhỏ, nhồi với 160 gam thịt lợn giã nhỏ, làm viên chả, gỏi lá sen non, đun nhỏ lửa nấu
chín mà ăn.
- Chữa viêm tuyến vú: Hái lá thầu dầu tƣơi, giã nát, chƣng với giấm đắo vào
chỗ bệnh; ngày đắp 2 lần.
- Chữa lở ngứa ngoài da: Dùng lá thầu dầu nấu nƣớc tắm rửa.
- Chữa phong thấp viêm khớp đau nhức, chân tay mỏi : Dùng rễ thầu dầu 12
gam, dây đau xƣơng 20 gam, lõi thông 15 gam; sắc nƣớc uống trong ngày.
- Chữa bệnh trĩ có các bài thuốc sau:
Bài thuốc 1. Đắp búi trĩ bằng lá thầu dầu tía: Ngƣời bệnh cần chuẩn bị 3 – 5
lá thầu dầu tía, sau đó đem rửa sạch trƣớc khi giã nát. Tiếp theo, rửa sạch phần búi trĩ
đang cần điều trị. Và cuối cùng lấy phần lá thầu dầu tía đã giã nát đắp lên vùng trĩ
trong 5 – 10 phút sau đó bỏ ra rửa sạch vùng hậu môn. Lời khuyên dành cho bạn đó là
nên thực hiện phƣơng pháp này vào buổi tối trƣớc khi đi ngủ để có đƣợc hiệu quả tốt
nhất từ liệu trình.
Bài thuốc 2 . Lá vông kết hợp lá thầu dầu tía chữa bệnh trĩ: Trong phƣơng
pháp này, ngƣời bệnh chuẩn bị 3 lá thầu dầu tía và 3 lá vông và đem rửa sạch rồi giã
nát. Tiếp theo lấy một mảnh vải mỏng sạch đã đƣợc khử trùng bọc lấy phần hỗn hợp