BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN DÂN
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG MỘT SỐ SÂU HẠI CHÍNH
TRÊN CÂY NA TẠI CÁC TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2019
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
i
LỜI CẢM ƠN
ii
MỤC LỤC
iii
5
1.2.1
Tình hình sản xuất quả na trên thế giới
5
1.2.2
Tình hình sản xuất quả na ở Việt Nam
6
1.2.2.1 Tình hình sản xuất na
6
1.2.2.2 Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây na tại vùng nghiên cứu
8
1.3
Nghiên cứu ở nước ngoài về sâu hại trên cây na
9
1.3.1
16
1.3.2.4 Rệp sáp giả cam Planococcus citri hại trên cây na
16
1.3.2.5 Ruồi đục quả hại trên cây na
17
1.3.2.6 Nghiên cứu về sâu hại khác trên cây na
18
1.3.3
19
Nghiên cứu biện pháp phòng chống sâu hại cây na
1.3.3.1 Biện pháp thủ công và canh tác
19
1.3.3.2 Biện pháp sinh học và sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc
20
iii
Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu hại chính
trên cây na
28
1.4.2.1 Rệp sáp giả Dysmicoccus spp.
29
1.4.2.2 Rệp sáp mềm Ceroplastes rusci
29
1.4.2.3 Bọ xít lưng gồ Pseudodoniella sp.
29
1.4.2.4 Ruồi đục quả phương đông Bactrocera dorsalis
30
1.4.2.5 Nghiên cứu về sâu hại khác trên cây na
30
1.4.3
30
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
33
2.1.1
Địa điểm, đặc điểm tự nhiên của địa điểm nghiên cứu
33
2.1.1.1 Địa điểm nghiên cứu
33
2.1.1.2 Đặc điểm tự nhiên của địa điểm nghiên cứu thực địa
33
2.1.2
2.2
2.2.1
2.2.2
Thời gian nghiên cứu
Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu
Dụng cụ thí nghiệm
35
38
2.4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của rệp sáp giả
cam Planococcus citri
38
2.4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của ruồi đục quả phương đông
B. dorsalis
43
2.4.3
2.4.3.1
Phương pháp nghiên cứu diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng
đến số lượng của sâu hại chính trên cây na tại vùng nghiên cứu
47
Nghiên cứu diễn biến mật độ rệp sáp giả cam P. citri
47
2.4.3.2 Nghiên cứu diễn biến số lượng trưởng thành ruồi đục quả
phương đông
2.4.3.3
2.4.4
Thành phần loài và những sâu hại chính trên cây na ở một số tỉnh
trồng na tại phía Bắc Việt Nam
54
3.1.1
Thành phần loài sâu hại trên cây na
54
3.1.2
Sâu hại chính trên cây na ở vùng nghiên cứu
54
3.1.3
Đặc điểm chính về hình thái của ba loài rệp sáp được ghi nhận
lần đầu ở Việt Nam
63
3.1
3.1.3.1 Rệp sáp mềm dài nâu Coccus longulus (Douglas)
63
3.2.1.3 Đặc điểm sinh thái của rệp sáp giả cam P. citri
91
v
iii
3.2.2
Đặc điểm sinh học của ruồi đục quả phương đông B. dorsalis
100
3.2.2.1 Thời gian phát triển các pha và vòng đời
100
3.2.2.2
103
Sức đẻ trứng
3.2.2.3 Thời gian sống của trưởng thành
104
3.2.2.4 Tỷ lệ sống sót ở các pha/giai đoạn phát triển trước trưởng thành
3.3.2.1 Tại Chi Lăng (Lạng Sơn)
111
3.3.2.2 Tại Kim Bảng (Hà Nam)
112
3.4
3.4.1
Một số biện pháp phòng chống một cách hiệu quả sâu hại chính
trên cây na ở vùng nghiên cứu
114
Biện pháp thủ công, bẫy
114
3.4.1.1 Bao quả bằng túi chuyên dùng
114
3.4.1.2 Sử dụng bẫy đối với ruồi đục quả phương đông
115
3.4.2
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, chữ viết tắt
Diễn giải
BVTV
Bảo vệ thực vật
Bẫy CuE
Bẫy Cue eugenol
Bẫy ME
Bẫy Methyl eugenol
lx
Tỷ lệ sống
mx
Sức sinh sản
nnk
Y
Số lứa lý thuyết trong năm của rệp sáp giả cam
λ
Giới hạn gia tăng tự nhiên
Lớn hơn
♀
Con cái
♂
Con đực
GĐKTCB
Giai đoạn kiến thiết cơ bản
GĐKD
Trang
Số lượng loài sâu hại đã phát hiện được trên cây na
ở một số vùng trồng na của Việt Nam
55
Thành phần loài sâu hại trên cây na tại một một số tỉnh trồng na
của Việt Nam (2014 - 2016)
56
Kích thước các pha/giai đoạn phát triển của rệp sáp giả cam
P. citri nuôi bằng lá cây na (tại Viện Bảo vệ thực vật, 2016)
70
Thời gian phát triển rệp sáp non các tuổi giới tính đực
của rệp sáp giả cam P. citri ở phòng thí nghiệm
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2016)
73
Thời gian phát triển rệp sáp non các tuổi giới tính cái
của rệp sáp giả cam P. citri ở phòng thí nghiệm
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2016)
74
83
Tỷ lệ sống, sức sinh sản của trưởng thành cái rệp sáp giả cam P. citri
nuôi bằng lá cây na ở 25ºC và 80% ẩm độ
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2016)
84
Tỷ lệ sống, sức sinh sản của trưởng thành cái rệp sáp giả cam P. citri
nuôi bằng lá cây na ở 30ºC và 80% ẩm độ
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2016)
86
Chỉ tiêu bảng sống của rệp sáp giả cam P. citri ở phòng thí nghiệm
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2016)
88
v
3.15
3.16
3.17
3.18
rệp sáp giả cam P. citri ở phòng thí nghiệm
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2016)
99
Thời gian phát triển các pha vòng đời của ruồi đục quả phương đông
B. dorsalis trong ở thí nghiệm
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2015 - 2016)
101
Một số chỉ tiêu sinh sản của trưởng thành cái ruồi đục quả phương
đông B. dorsalis khi ấu trùng nuôi bằng thịt quả na
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2015)
103
Thời gian sống của trưởng thành ruồi đục quả phương đông
B. dorsalis nuôi bằng thịt quả na (tại Viện Bảo vệ thực vật, 2015)
104
Tỷ lệ sống sót ở giai đoạn phát triển trước trưởng thành
của ruồi đục quả phương đông B. dorsalis
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2015, 2016)
105
Hiệu quả của biện pháp bao quả na trong phòng chống
ruồi đục quả phương đông (tại Kim Bảng, Hà Nam, 2016)
Hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật
đối với rệp sáp giả cam hại cây na trong thí nghiệm diện rộng
(tại Kim Bảng, Hà Nam, 2016)
121
v
DANH MỤC HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
3.1
Mẫu lam loài rệp sáp mềm dài nâu Coccus longulus (Douglas)
64
3.2
Mẫu lam loài rệp sáp giả Parputo errabundus Williams
65
3.3
3.8
Rệp sáp non tuổi 2 giới tính cái
68
3.9
Rệp sáp non tuổi 2 giới tính đực
68
3.10
Rệp sáp non tuổi 3 giới tính cái
69
3.11
Tiền nhộng của rệp sáp giả cam
69
3.12
Nhộng của rệp sáp giả cam
70
100
Nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành cái ruồi đục quả
phương đông B. dorsalis nuôi bằng thịt quả na
(tại Viện Bảo vệ thực vật, 2015)
104
Diễn biến mật độ rệp sáp giả cam trên vườn na kiến thiết
cơ bản tại Chi Lăng (Lạng Sơn, 2015, 2016)
107
Diễn biến mật độ rệp sáp giả cam trên vườn na kinh doanh
tại Chi Lăng (Lạng Sơn, 2015, 2016)
108
Diễn biến mật độ rệp sáp giả cam trên vườn na giai đoạn
kiến thiết cơ bản tại Kim Bảng (Hà Nam, 2015, 2016)
109
Diễn biến mật độ rệp sáp giả cam trên vườn na kinh doanh
tại Kim Bảng (Hà Nam, 2015, 2016)
110
vi
trồng nhiều nhất trong các loài thuộc chi na Annona. Quả na cũng được đánh giá
cao nhất về chất lượng.
Cây na Annona squamosa có nguồn gốc từ vùng Ca-ri-bê và Nam Mỹ.
Cây na được trồng nhiều nhất ở các nước Mexico, Brazil, Cuba, Ấn Độ, Trung
Quốc, các nước Đông Nam Á (Vũ Công Hậu, 1996) [12].
Tại Việt Nam, cây na được trồng khá rộng rãi. Tuy nhiên, phần lớn cây na
được trồng rải rác trong các vườn gia đình với mục đích tự cung, tự cấp, chỉ một
số ít được trồng với mục đích thương mại tại chợ địa phương. Gần đây, đã hình
thành một số vùng trồng cây na tập trung có giá trị hàng hóa lớn như Chi Lăng
(Lạng Sơn), Đông Triều (Quảng Ninh), Ba Sao (Hà Nam) và Bà Đen (Tây
Ninh),....
Một hiện tượng có tính quy luật trong phát triển nghề trồng trọt ở trên thế
giới và nước ta là sản xuất càng thâm canh cao, sâu bệnh hại càng phát sinh và
phát triển mạnh, thuốc trừ sâu bệnh càng sử dụng nhiều. Sản xuất quả na ở các
vùng trồng cây na tập trung của nước ta không nằm ngoài quy luật này. Thí dụ,
loài bọ xít lưng gồ Pseudodoniella sp. phát sinh mạnh, gây hại nặng từ năm 1996
khi cây na được trồng mở rộng ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn (Phạm Văn
Lầm và nnk., 2013) [18].
1
Trên các loài cây thuộc chi na Annona nói chung và trên cây na nói riêng
có rất nhiều loài sâu hại gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng quả na. Ở
Việt Nam, nhiều thông tin có sẵn về đặc điểm sinh học, sinh thái, biện pháp
khuyến cáo để phòng chống sâu hại chính trên cây na chủ yếu được tìm thấy
trong tài liệu chung về sâu hại cây ăn quả hoặc về nhóm rệp sáp (Nguyễn Thị
Chắt, 2008; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) [3], [5]. Có rất ít các tài liệu chuyên
nghiên cứu về sâu hại cây na. Một số loài sâu hại cây na có tính đa thực đã được
nghiên cứu chi tiết về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng
chống trên cây trồng khác không phải là cây na. Thí dụ, rệp sáp giả Dysmicoccus
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Xác định được thành phần loài sâu hại và những loài gây hại chính trên
cây na, đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của một đến hai
loài sâu hại chính làm cơ sở đề xuất các biện pháp phòng chống sâu hại cây na
đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu kinh tế, thân thiện với môi trường tại một số
tỉnh trồng cây na tại miền Bắc Việt Nam.
2.2. Yêu cầu
- Điều tra xác định thành phần loài sâu hại và sâu hại chính trên cây na tại
một số tỉnh trồng cây na tại miền Bắc Việt Nam.
- Xác định đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của hai loài sâu hại chính
trên cây na (rệp sáp giả cam Planococcus citri, ruồi đục quả phương đông
Bactrocera dosalis).
- Xác định diễn biến mật độ và các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng của
rệp sáp giả cam Planococcus citri, ruồi đục quả phương đông Bactrocera dosalis
hại cây na ở vùng nghiên cứu.
- Nghiên cứu đề xuất biện pháp khả thi phòng chống hai loài sâu hại chính
(rệp sáp giả cam Planococcus citri, ruồi đục quả phương đông Bactrocera
dosalis) hại cây na ở vùng nghiên cứu đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu kinh tế,
theo hướng thân thiện với người tiêu dùng, người sản xuất và môi trường.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã bổ sung những dẫn liệu khoa học về
thành phần loài sâu hại trên cây na tại một số tỉnh trồng cây na tại miền Bắc Việt
Nam; bổ sung nhiều dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm sinh vật học, sinh thái
học của loài rệp sáp giả cam Planococcus citri, ruồi đục quả phương đông
3
Bactrocera dosalis gây hại trên cây na và hiệu quả của một số biện pháp phòng
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Cây na (Annona squamosa) có nguồn gốc từ vùng Ca-ri-bê và Nam Mỹ,
được trồng ở nhiều quốc gia và vùng địa lý khác nhau, với hệ thống canh tác
không giống nhau. Ở các vùng địa lý khác nhau số lượng loài gây hại và những
loài gây hại chính trên cây na không giống nhau, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể
của từng vùng trồng na. Có những loài sâu hại được coi là quan trọng ở quốc gia
hay vùng địa lý này chưa chắc đã là quan trọng ở quốc gia hay vùng địa lý khác.
Sự phát sinh, phát triển, gây hại của những loài sâu hại chính trên cây na ở quốc
gia/vùng địa lý này không giống với quốc gia/vùng địa lý khác,.... Các kết quả
nghiên cứu về sâu hại chính trên cây na và những biện pháp phòng chống chúng
hiệu quả ở quốc gia/vùng địa lý này chưa chắc đã phù hợp và có thể áp dụng cho
quốc gia/vùng địa lý khác.
Mặt khác, sâu hại cây na và biện pháp phòng chống chúng ở Việt Nam có
những đặc trưng riêng, không giống với các quốc gia khác. Những hiểu biết về
thành phần loài sâu hại, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của sâu hại chính
trên cây na ở điều kiện cụ thể làm cơ sở khoa học chắc chắn để xây dựng biện
pháp phòng chống hiệu quả sâu hại cây na phục vụ sản xuất quả na an toàn.
Những điểm nêu trên là cơ sở khoa học để đề xuất thực hiện đề tài luận án.
1.2. Tình hình sản xuất quả na
1.2.1. Tình hình sản xuất quả na trên thế giới
Chi na Annona (Annonaceae) có khoảng 119 loài, trong đó 109 loài có
nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ và 10 loài có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới
châu Phi (Geurts, 1981) [58]. Trong 119 loài chỉ có 5 loài được thuần hóa và
trồng với mục đích thương mại: phổ biến nhất và quan trọng là 3 loài, gồm cây
cherimoya (Annona cherimola), cây mãng cầu xiêm (A. Muricata) cây na
(A. squamosa; còn cây nê (A. reticulata) và cây A. seneganensis ít phổ biến hơn.
Nam) và Bà Đen (Tây Ninh).
Cây na ở Chi Lăng (Lạng Sơn) được người dân tỉnh Hà Tây (cũ) đem lên
trồng vào những năm 1980, từ những năm 1990 cho đến nay sản xuất na được
phát triển mạnh ở địa phương này. Cây na được coi là cây ăn quả đặc sản của huyện
Chi Lăng (Lạng Sơn). Diện tích trồng cây na của huyện tăng dần: từ 789,54 ha
6
năm 2000 lên 936,9 ha năm 2005, đạt 1.025,4 ha năm 2006 và 1.776,0 ha năm
2009 (Niên giám Thống kê tỉnh Lạng Sơn, tháng 8/2008) [23].
Theo Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, diện tích trồng cây na
của cả nước tăng đều qua các năm từ 2013 đến 2017, mỗi năm tăng từ 200 ha đến
900 ha. Trong đó, diện tích cho thu hoạch dao động từ 18,1 nghìn ha đến 19,2
nghìn ha. Mỗi năm, cây na được trồng mới thêm từ một nghìn đến 1,6 nghìn ha.
Năng suất quả na tăng qua các năm: năm 2013 năng suất quả na trung bình đạt
87,1 tạ/ha; năm 2017 năng suất đạt 99,1 tạ/ha (năng suất cao nhất từ năm 2013
đến 2017). Sản lượng na năm 2013 đạt 157,7 nghìn tấn và năm 2017 đạt 190,1
nghìn tấn (bảng 1.1).
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất na ở Việt Nam trong thời gian 2013 - 2017
Năm
Diện tích
trồng
(1.000 ha)
Diện tích
trồng mới
(1.000 ha)
Diện tích cho
90,0
165,7
2015
21,0
1,0
18,6
92,3
172,1
2016
21,9
1,6
18,9
92,31
174,5
2017
kaliclorua cả năm). Cây na ở giai GĐKD (4 năm tuổi trở lên) hàng năm được bón
lượng phân không giống nhau tùy theo địa phương và tuổi của cây na. Cụ thể:
Tại Lạng Sơn. Cây na ở giai đoạn 4 - 8 năm tuổi hàng năm được bón
phân với lượng cho 1 cây là: 15 - 20 kg phân hữu cơ; 1,0 - 1,5 kg đạm urê; 2,0
- 3,0 kg supe lân; 0,5 - 0,7 kg kaliclorua. Cây na ở giai đoạn trên 8 năm tuổi
hàng năm được bón phân với lượng cho 1 cây là: 25 - 30 kg phân hữu cơ; 1,5 2,0 kg đạm urê; 3,0 - 3,5 kg supe lân; 0,7 - 1,0 kg kaliclorua. Lượng phân này
được bón làm 3 đợt: vào tháng 2 - tháng 3 bón đón lộc và hoa (50% lượng
đạm urê cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 6 - tháng 7 bón
nuôi quả và cành quả (40% lượng đạm urê cả năm, 40% lượng kaliclorua cả
năm), vào tháng 9 - tháng 11 bón để hồi phục cây (100% lượng phân hữu cơ
cả năm, 10% lượng đạm urê cả năm, 100% lượng supe lân cả năm, 30% lượng
kaliclorua cả năm).
Tại Hà Nam. Cây na ở giai đoạn 4 - 8 năm tuổi hàng năm được bón phân
với lượng cho 1 cây là: 20 - 25 kg phân hữu cơ; 1,2 - 1,7 kg đạm urê; 2,5 - 3,5 kg
supe lân; 0,7 - 1,0 kg kaliclorua. Cây na ở giai đoạn trên 8 năm tuổi hàng năm
được bón phân với lượng cho 1 cây là: 30 - 40 kg phân hữu cơ; 1,7 - 2,2 kg đạm
urê; 3,5 - 4,5 kg supe lân; 1,0 - 1,2 kg kaliclorua. Lượng phân này được bón làm
4 đợt: vào tháng 2 - tháng 3 bón đón lộc và hoa (30% lượng đạm urê cả năm,
25% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 6 - tháng 7 bón nuôi quả đợt 1 và cành
(40% lượng đạm urê cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 8 - tháng
9 bón nuôi quả đợt 2 và cành (20% lượng đạm urê cả năm, 25% lượng kaliclorua
cả năm), vào tháng 10 - tháng 11 bón để hồi phục cây (100% lượng phân hữu cơ
cả năm, 10% lượng đạm urê cả năm, 100% lượng supe lân cả năm, 20% lượng
kaliclorua cả năm).
8
Cắt tỉa cành, tạo tán. Cây na ở GĐKTCB chủ yếu được cắt tỉa cành, tạo
tán từ tháng 3 đến tháng 10 hàng năm. Cây na ở GĐKD được tuốt lá và cắt tỉa
Hoa Kỳ, Colombia, Cuba, Puerto Rico, Venezuela, tương ứng mỗi nước đã ghi
nhận được 14, 17, 9, 8 và 8 loài. Các nước như Mexico, Costa Rica, Panama, Peru,
Jamica, mỗi nước mới ghi nhận được 3 loài. Tại Dominica mới ghi nhận được 2
loài côn trùng hại cây na (Pena and Bennett, 1995) [89].
Nghiên cứu tại 4 địa danh của Honduras năm 1990 - 1991 đã ghi nhận được
26 loài côn trùng dùng cây na làm thức ăn (Granadino and Cave, 1996) [60].
Ở Úc đã ghi nhận nhiều loài côn trùng hại trên cây na, xếp thành ít nhất 12
nhóm gây hại (nhóm kiến, bọ xít, ruồi đục quả, sâu cuốn lá, rệp sáp, sâu đục quả,
sâu ăn lá, ngài hút quả, bọ vòi voi, sâu ăn hoa, sâu đo, nhện nhỏ). Đã xác định cụ
thể được tên khoa học của khoảng 22 loài côn trùng và 1 loài nhện nhỏ hại cây na
(George et al., 2015) [57].
Côn trùng hại là cản trở chính trong nghề trồng cây na ở Ấn Độ. Khoảng
20 loài côn trùng đã được ghi nhận hại cây na ở Ấn Độ. Riêng tại bang Bengalore
đến năm 2016 đã ghi nhận được 14 loài côn trùng, nhện nhỏ hại cây na. Trong
đó, gồm 8 loài rệp sáp, 1 loài rệp muội, 1 loài bọ xít muỗi, 1 loài ve sừng, 2 loài
sâu đục quả và 1 loài nhện nhỏ (Butani, 1979; Maruthadurai and Karuppaiah,
2014; Naik, 2016) [48], [77], [82]. Đã ghi nhận được 14 loài côn trùng, nhện nhỏ
hại cây na ở vùng Bengaluru (Ấn Độ), gồm 3 loài rệp sáp giả [Maconellicoccus
hirsutus (Green), Planococcus citri Risso, Ferrissia virgate (Cock.)], 5 loài rệp
sáp vảy [Trijuba oculata (Brain), Cardiococcus bivulvata (Green), Saissetia
nigra (Nietner), Asipidiotus destructor Signoret
Icera sp.], bọ xít muỗi
Helopeltis antonii Sign, rệp muội Toxoptora aurantii (Boyer de Fonscolombe),
ve sừng Leptocentrus sp., 2 loài ruồi đục quả [Bactrocera dorsalis (Hendel), sâu
đục quả Heterographis bengalella (Reg.)], nhện nhỏ Brevipalpus yotheri Baker
(Sunil, 2016) [98].
Loài rệp sáp giả Maconellicoccus hirsutus là sâu hại có ý nghĩa kinh tế
Saissetia coffeae, S. oleae) là những loài côn trùng có tính đa thực, gây hại trên lá
và cành cây na (Pena and Bennett, 1995) [89].
Ở bang Florida (Hoa Kỳ), khi các loài thuộc chi na Annona được trồng mở
rộng thành sản xuất thương mại thì các loài côn trùng hại chính được ghi nhận
gồm Bephratelloides cubensis, Xyleborus sp., Philephedra tuberculosa, Cocytius
antaeus (Carrillo et al., 2017; Pena et al., 1984) [51], [88]. Quả của giống na lai
11
(atemoya) bị ong đục hạt na B. cubensis gây hại với tỷ lệ từ 4 - 10% trong tháng
7 đến 11 - 21% trong tháng 8 và 14 - 61% trong tháng 9 (Pena et al., 1984) [88].
Ở Mexico, ong đục hạt na Bephratelloides cubensis là loài gây hại nghiêm
trọng nhất trên cây mãng cầu xiêm. Đã ghi nhận khi có 60% quả bị hại, mỗi quả
có 5 - 50 hạt bị hại thì làm giảm tới 25% năng suất. Tại bang Nayarit có tới 100%
quả bị ong đục hạt na gây hại (Hernandez-Fuentes et al., 2010) [63].
Nghiên cứu trong các năm 1990 - 1991 tại Honduras trên cây na đã ghi
nhận được các loài sâu hại chính gồm Corythucha gossypii, Calloconophora
caliginosa, Membrracis mexicana, Saissetia oleae và Parasaissetia nigra
(Granadino et al., 1996) [60].
Các loài sâu hại chính trên cây na ở Ấn Độ gồm các loài rệp sáp (Ferrisia
virgata, Maconellicoccus hirsutus, Planococcus citri, P. lilacinus, P. pacificus,
Perissopneumon ferox, Ceroplastes floridensis), ruồi đục quả (Bactrocera
dorsalis, B. zonatus), sâu đục quả Heterograthis bengallela (Butani, 1976;
Maruthadurai and Karuppaiah, 2014; NIPHM, 2014; Shukla and Tadon, 1984)
[47], [77], [86], [96].
Rệp sáp giả Rastrococcus spinosus (Rob.) là loài đa thực, đã ghi nhận loài
này gây hại cho cây na ở Pakistan (Mahmood et al., 1983) [69].
Trên cây na ở Úc có ít nhất 6 nhóm sâu hại quan trọng gồm nhóm bọ xít
(Amplypelta lutescens, A. nitida), nhóm rệp sáp (Planococcus citri, Paraseissetia
1.3.2.1. Ong đục hạt na Bephratelloides spp.
Ong đục hạt na thuộc giống Bephratelloides, họ Eurytomidae. Đây là
những loài côn trùng bản địa của vùng Nam Mỹ, chúng gồm 6 loài. Đã ghi nhận
được có tới 5 loài trong số chúng sử dụng các loài thực vật thuộc chi na Annona
làm thức ăn. Ấu trùng của chúng ăn và phá hủy hạt na (Castaneda-Vildozola et al.,
2010; Grissel and Schauff, 1990) [52], [61]. Các loài ong đục hạt na
Bephratelloides cubensis, B. pomorum là những côn trùng hại quan trọng trên cây
mãng cầu xiêm, na và giống na lai (atemoya) (Nadel and Pena, 1991a) [80]. Loài
ong Bephratelloides cubensis có phân bố ở Hoa Kỳ, Mexico, vùng Ca-ri-bê, Trung
Mỹ, phía Bắc của Nam Mỹ. Trong khi đó, loài ong đục hạt na B. pomorum chỉ có
phân bố ở Trung Mỹ và Nam Mỹ (Pena and Bennett, 1995) [89].
Đặc điểm sinh học của các loài ong đục hạt na có thể tìm thấy trong một
số tài liệu ở ngoài nước (Castaneda-Vildozola et al., 2010; Nadel and Pena,
13
1991a, 1991b; Pena et al., 1984; Pena and Bennett, 1995) [52], [80], [81] [88],
88]. Theo các tác giả này, trưởng thành cái ong đục hạt na loài B. cubensis ưa
thích đẻ trứng vào trong những hạt na đang phát triển khi quả na có đường kính
khoảng 3 - 4 cm ở bất kỳ tầng tán lá nào của cây na. Trưởng thành cái đẻ trứng
vào rất nhiều hạt trong một quả na. Đã ghi nhận có tới 26 trưởng thành vũ hóa ra
từ một quả na bị hại. Các hoạt động như vũ hóa, đẻ trứng của trưởng thành đạt
đỉnh cao vào khoảng 13 giờ hàng ngày. Trong điều kiện phòng thí nghiệm (27oC,
75% ẩm độ), thời gian phát triển của trứng, ấu trùng, nhộng kéo dài tương ứng là
12 - 14, 42 - 55, 12 - 18 ngày. Thời gian từ trứng đến trưởng thành kéo dài 66 87 ngày. Thời gian sống của trưởng thành cái là 1 - 11 ngày.
Trưởng thành đực của ong đục hạt na loài B. cubensis rất hiếm gặp trong
quần thể loài. Do đó, trưởng thành cái thường sinh sản theo kiểu đơn tính
(Grissel and Schauff, 1990; Nadel and Pena, 1991b) [61], [81]. Nhưng, ở Mexico
quan sát thấy tỷ lệ giới tính (cái : đực) lại là 1 : 1. Như vậy, có thể ở điều kiện
của Mexico ong đục hạt na loài B. cubensis không sinh sản đơn tính (CastanedaVildozola et al., 2010) [52]. Hai loài ong đục hạt na B. cubensis và B. pomorum
trưởng thành trung bình kéo dài 35,43 ngày. Khi được ăn thêm (dung dịch mật
ong 5% hoặc nước lã), trưởng thành cái đẻ nhiều trứng hơn so với không được ăn
thêm. Tuy nhiên, sức đẻ trứng của trưởng thành cái đạt rất thấp, chỉ trung bình là
11,1 - 27,5 trứng/cái. Điều này được giải thích do điều kiện phòng thí nghiệm
không thích hợp cho sự đẻ trứng của trưởng thành cái. Khi được ăn thêm dung
dịch mật ong 5% hoặc nước lã, tuổi thọ của trưởng thành cái, trưởng thành đực
tương ứng là 4,4 - 4,9 và 4,2 - 4,9 ngày (Bustillo and Pena, 1992) [49].
Quan sát bước đầu cho thấy trưởng thành cái chưa giao phối hấp dẫn
trưởng thành đực bằng phe-rô-môn giới tính. Trưởng thành sâu đục quả na bị hấp
dẫn bởi bẫy ánh sáng đèn (Bustillo and Pena, 1992) [49].
Sâu đục quả na C. anonella có tính hẹp thực, sử dụng vỏ quả, thịt quả và
hạt của quả na làm thức ăn. Sâu đục quả na C. anonella hoàn thành nhiều thế hệ
trong một năm (Pena and Bennett, 1995) [89].
Đã ghi nhận được 2 loài ký sinh sâu non thuộc họ Braconidae (Apanteles
sp. và loài thuộc phân họ Rogadinae) của sâu đục quả na C. anonella ở Colombia
và Ecuador. Tỷ lệ ký sinh tự nhiên của chúng trên sâu non sâu đục quả na đạt rất
thấp, chỉ là 2 - 5% (Bustillo and Pena, 1992) [49].
15