BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐOÀN THỊ LƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG RỆP SÁP GIẢ
Paracoccus marginatus williams and granara de willink
(Homoptera: pseudococcidae)
HẠI CÂY ĐU ĐỦ TẠI HÀ NỘI
Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật
Mã số
: 9.62.01.12
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2019
Công trình được hoàn thành tại:
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
DANH MỤC CÔNG TRÌNH
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Đoàn Thị Lương, Phạm Văn Lầm, Lê Thị Tuyết Nhung, Trương
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Hồng Sơn
Pseudococcidae) trên cây đu đủ ở Hà Nội và phụ cận”, Tạp
chí Nông nghiệp & PTNT, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, Số
(354 + 355), tr.310 - 319.
con/quả);rệp sáp giả P. marginatus trong vườn đu đủ trồng độc canh
xuất hiện sớm hơn với mật độ (256,5 con/lá và 4,7 con/quả) luôn cao
hơn so với ở vườn đu đủ trồng luân canh với cây khoai tây (72,1
con/lá và 2,2 con/quả).
1.5. Các biện pháp luân canh, xen canh, tưới nước bằng áp lực
cao trên lá cho đều có hiệu quả hạn chế rệp sáp giả P. marginatus. Sử
dụng thuốc hoá học Spirotetramat và Pymetrozine (đã được đăng ký
trừ rệp sáp trên cây ăn quả) có hiệu lực cao trên đồng ruộng (tương
ứng đạt 86,42% và 83,8%). Dùng các thuốc sinh học như Rotenone,
Abamectin và dầu khoáng (đã được đăng ký để trừ rệp sáp trên các
cây ăn quả) cho hiệu lực ở ngoài đồng đạt xấp xỉ 72% để luân phiên
với hai thuốc hóa học nêu trên mang lại hiệu quả cao, có thể thay thế
các thuốc hoá học thuộc nhóm độc 2 không được phép sử dụng trên cây
ăn quả mà nông dân đang sử dụng phổ biến trên cây đu đủ hiện nay. Sử
dụng các thuốc hoá học và sinh học đạt hiệu quả tối ưu khi phun trừ
rệp sáp non tuổi 1 và tuổi 2 với lượng nước tối thiểu 1000lít/ha và
phun bằng bơm nén áp.
II. Đề nghị
Rệp sáp giả P. marginatus gây hại trên cây đu đủ là đối tượng
khó phòng trừ, do đó cần áp dụng đầy đủ các biện pháp canh tác tổng
hợp theo khuyến cáo tại kết luận 4 và kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV
tại kết luận 5 của luận án này. Đặc biệt đối với các vùng trồng đu đu
tập trung nên áp dụng biện pháp luân canh hợp lý với các cây trồng
không phải là ký chủ ưa thích của rệp sáp giả P. marginatus như ngô,
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xây dựng qui
trình phòng chống rệp sáp giả P. marginatus đạt hiệu quả cao và theo
hướng thân thiện với môi trường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Rệp sáp giả P. marginatus hại cây đu đủ
24
1
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần rệp sáp hại cây đu đủ, đặc điểm sinh
vật học (thời gian vòng đời, sức sinh sản, bảng sống,...), đặc điểm
sinh thái (diễn biến số lượng và yếu tố ảnh hưởng đến mật độ quần
thể,...), biện pháp phòng chống loài rệp sáp giả P. marginatus hại
cây đu đủ ở Hà Nội.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Ghi nhận lần đầu loài rệp sáp giả P. marginatus Williams and
Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae) là sâu hại cây đu
đủ ở Việt Nam.
- Là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về loài rệp sáp
giả P. marginatus, cung cấp nhiều dẫn liệu khoa học mới về đặc
điểm sinh vật học, sinh thái học, đặc biệt là những dẫn liệu về bảng
sống, diễn biến mật độ của rệp sáp giả P. marginatus trên cây đu đủ
tại vùng nghiên cứu.
- Cung cấp dẫn liệu khoa học về hiệu quả của một vài biện pháp
khả thi (biện pháp canh tác,, hóa học và sinh học) để phòng chống rệp
quần thể). Sức đẻ trứng của trưởng thành cái là 233,53-462,2
trứng/con cái. Trưởng thành cái có thể sống được 14,42-21,15 ngày
và trưởng thành đực chỉ sống được 1,77-1,88 ngày.
1.3. Ở nhiệt độ 25oC, hệ số nhân của một thế hệ (Ro), tỷ lệ tăng
tự nhiên (rm), giới hạn tăng tự nhiên (λ), thời gian một thế hệ tính theo
tuổi mẹ khi đẻ con (Tc) và thời gian tăng gấp đôi số lượng của quần thể
(DT) tương ứng đạt 457,87 ♀/♀; 0,188 ♀/♀/ngày; 1,19 lần; 34,71
ngày và 3,93 ngày. Ở nhiệt độ 30oC, tùy thuộc vào từng thông số mà
giá trị của nó có thể tăng lên hoặc giảm xuống so với ở 25oC và
tương ứng là 367,79 ♀/♀; 0,197 ♀/♀/ngày; 1,22 lần; 28,17 ngày và
3,52 ngày. Một năm có gần 11 thế hệ trong phòng trong nhà lưới.
1.4. Mật độ rệp sáp giả P. marginatus trên giống Hồng Phi (mật
độ cao nhất 255,0 -256,5 con/lá và 6,5-7,3 con/quả) cao hơn rõ rệt so
với giống đu đủ lùn (28,2 con/lá và 0,48-0,52 con/quả); mật độ trên
cây đu đủ 1 năm tuổi (255,0 -256,5 con/lá và 6,5-7,3 con/quả) cao hơn
so với cây 2 năm tuổi (53,1-53,8 con/lá và 14,2-14,5 con/quả); mật độ
trên cây đu đủ trồng xen chuối cao hơn trên cây đu đủ trồng thuần
(83,5con/lá và 13,2 con/quả so với 53,1 con/lá và 4,26 con/quả);
nhưng mật độ trên cây đu đủ trồng xen với cây ngô lại thấp hơn so
với trồng thuần (19,1 con/lá và 1,32 con/quả so với 51,3 con/lá và 5,4
2
23
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3.4.2.3. Hiệu lực đối với rệp sáp non các tuổi và trưởng thành loài
1.2.1.1. Phân loại rệp sáp giả P. marginatus
Loài rệp sáp giả P. marginatus được Williams and Granara de
Willink mô tả năm 1992 dựa trên mẫu vật thu từ vùng tân nhiệt đới.
Theo Williams và Granara, rệp sáp giả P. marginatus có vị trí phân
loại như sau: giới động vật Animalia, ngành chân đốt Arthropoda, lớp
côn trùng Insecta, phân lớp côn trùng có cánh Pterygota, bộ cánh đều
Homoptera, phân bộ vòi ở ngực Sternorrhyncha, tổng họ rệp sáp
Coccoidea, họ rệp sáp giả Pseudococcidae, giống Paracoccus, loài P.
marginatus Williams and Granara de Willink.
1.2.1.2. Nguồn gốc, phân bố,sự xâm lấn của rệp sáp giả P. marginatus
Rệp sáp giả P. marginatus có nguồn gốc từ Mexico, Trung Mỹ
và phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ, bắt đầu xâm lấn ra khỏi khu
vực phân bố tự nhiên từ năm 1992 và nhanh chóng trở thành loài
ngoại lai xâm lấn ở nhiều đảo thuộc vùng Caribê, Trung Mỹ, Nam
Mỹ. Đến nay đã ghi nhận được ở 5 vùng địa sinh vật ở trên thế giới là
neotropical, nearctic, oceania/Australia, oriental/Indo-Mala và
Afrotropical (Ben-Dov, 2012; Heu et al., 2007; Meyerdirk et al.,
2004; Miller et al., 1999; Muniappan et al., 2006, 2008).
1.2.2. Nghiên cứu về đặc điểm hình thái học của rệp sáp giả
Paracoccus marginatus
Đặc điểm hình thái trưởng thành, trứng và ấu trùng các tuổi của
rệp sáp giả P. marginatus được mô tả trong tài liệu của Al-Helal et
al. (2012), Mani Chellappan et al., 2013b, Miller et al. (1999),
Sharma et al. (2013), Tanwar et al. (2010), Walker et al. (2003),...
1.2.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của rệp
sáp giả Paracoccus marginatus
Dẫn liệu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của rệp sáp giả
P. marginatus có thể tìm thấy trong các tài liệu của Amarasekare et
al. (2008a, 2008b), Hintenou et al. (2015), Mani Chellappan et al.
(2013b), Thangamalar et al. (2010) và Walker et al. (2006).
P. marginatus (Nguyễn Thị Chắt, 2008; Nguyễn Văn Dân và nnk.,
2018; Đỗ Hồng Khanh và nnk., 2018;...).
1.3.4. Biện pháp phòng chống rệp sáp giả P. marginatus hại đu đủ
Đến nay chưa có nghiên cứu nào chuyên về biện pháp phòng
chống rệp sáp giả P. marginatus được tiến hành tại Việt Nam.
CHƯƠNG 2
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Phòng thí nghiệm, nhà lưới của Viện Bảo vệ thực vật.
4
Spirotetramat và Pymetrozine có hiệu lực khá cao (tương ứng đạt
97,33% và 94,67%).
5 hoạt chất thuốc sinh học/thảo mộc (Abamectin, Azadirachtin,
Emamectin benzoate, Matrine, Rotenone) và dầu khoáng đã chọn từ
các thuốc phổ biến được đăng ký để trừ rệp sáp trên cây ăn quả được
đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P. marginatus. Sau phun 3 ngày,
các thuốc đều có hiệu lực đối với rệp sáp đu đủ khá cao (đạt 70,6781,33%). Hoạt Abamectin và dầu khoáng có hiệu lực đạt cao hơn 80%.
3.4.2.2. Hiệu lực đối với rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu
đủ của các thuốc bảo vệ thực vật ngoài đồng
Thí nghiệm trên diện hẹp được thực hiện tại Đan Phượng (Hà
Nội) năm 2016. Các hoạt chất được thí nghiệm là những hoạt chất đã
được thí nghiệm ở trong phòng. Sau 3 ngày phun, hiệu lực trên đồng
ruộng đối với rệp sáp giả P. marginatus của các thuốc được thí nghiệm
đều đạt 73,75- 84,69%. Vào thời điểm 7 ngày sau phun, hiệu lực của các
thuốc đều đạt đạt khá cao và từ 80,27% đến 87,32%. Trong đó, hỗn hợp
hoạt chất Cypermethrin + Chlorpyrifos Ethyl có hiệu lực cao nhất
(87,32%), sau đó đến Carbosulfan (86,5%). Hoạt chất Spirotetramat và
Pymetrozine đạt hiệu lực khá cao, lần lượt là 86,42% và 83,8%. Các chế
phẩm sinh học/thảo mộc và dầu khoáng cho hiệu lực trên đồng ruộng
P. marginatus trên cây đu đủ. Trong sản xuất, nông dân đang dùng
các loại thuốc trừ rệp sáp trên cây trồng khác để phòng chống rệp sáp
giả hại cây đu đủ (trong đó có cả thuốc hoá học không được phép sử
dụng trên cây ăn quả vì có độ độc thuộc nhóm 2). Nghiên cứu này đã
đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P. marginatus của 14 hoại chất
bảo vệ thực vật. Trong đó có 8 hoạt chất thuốc BVTV hoá học và 6
hoạt chất thuốc sinh học/thảo mộc.
3.4.2.1. Hiệu lực đối với rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu
đủ của các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trong phòng thí nghiệm
Đã đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P. marginatus của 8
hoạt chất hoá học (đơn hoặc hỗn hợp), gồm 6 hoạt chất (đơn hoặc
hỗn hợp) được nông dân đang sử dụng phổ biến trên cây đu đủ (đó là
Cypermethrin + Chlorpyrifos Ethyl, Acetamiprid + Buproferin,
Carbosulfan, Acetamiprid + Chlorpyrifos Ethyl, Pyridaben +
Abamectin, Thiamethoxam) và 2 hoạt chất (Spirotetramat,
Pymetrozine) có độ độc thấp đã lựa chọn từ các thuốc phổ biến được
đăng ký để trừ rệp sáp trên các cây ăn quả. Sau xử lý 3 ngày, các hoạt
chất được thí nghiệm trong phòng đều có hiệu lực đạt 94-100%,
trong đó hoạt chất Carbosulfan có hiệu lực đạt cao nhất (100%) và
tiếp theo là hỗn hợp Pyridaben + Abamectin (97,33%). Hoạt chất
- Vùng trồng đu đủ tại ngoại thành Hà Nội: xã Phụng Thượng
(Phúc Thọ), xã Đan Phượng (Đan Phượng), xã Dị Nậu (Thạch Thất).
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2015 - 2018.
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần sâu hại cây đu đủ và xác định loài rệp sáp
chính hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội.
- Xác định đặc điểm sinh vật học, sinh thái của loài rệp sáp giả
P. marginatus hại trên cây đu đủ.
- Diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng đến số lượng loài rệp
về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng. Điều tra
định kỳ 14 ngày/lần vào ngày cố định trong tháng.
2.4.1.2. Giám định tên sâu hại cây đu đủ
Đối với rệp sáp, làm mẫu tiêu bản trên lame theo phương
pháp của Waston (2007) và giám định tên theo tài liệu của
Williams và Willink (1992), Williams và Watson (1988, 1990).
Mẫu tiêu bản sau giám định được TS. Natalia von Ellenrieder (ở
Trung tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông nghiệp và
Thực phẩm bang California) thẩm định.
Tên khoa học của các loài sâu hại khác trên cây đu đủ được
các chuyên gia phân loại trong nước giám định.
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học,
sinh thái học của rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ
trong phòng thí nghiệm
2.4.2.1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái học
Mô tả hình dáng, màu sắc, cấu tạo ngoài và đo chiều dài, chiều
rộng, chụp ảnh các pha trứng, rệp sáp non, trưởng thành dưới kính
lúp soi nổi (số mẫu quan sát cho mỗi pha/giai đoạn phát triển n = 30).
2.4.2.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học
Theo phương pháp của Amarasekare et al. (2008a) có sự cải
tiến cho phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm. Rệp sáp giả P.
marginatus được nuôi cá thể trong tủ sinh thái (nhãn hiệu RGX400E) ở nhiệt độ 25ºC, 30ºC với cùng 80% ẩm độ, chiếu sáng 16
giờ/ngày đêm. Theo dõi thời gian phát triển các pha, thời gian vòng
đời,… Các chỉ tiêu tăng trưởng quần thể (rm), Ro, Tc, λ, DT) được tính
theo Birch (1948) và Kakde và nnk. (2014).
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng
đến số lượng loài rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ
Tiến hành trên 2 giống đu đủ Hồng Phi (Đài Loan) và Cao sản
lùn (Thái Lan) ở các điều kiện khác nhau như tuổi cây (1 và 2 năm
tuổi), hình thức canh tác (trồng thuần, trồng xen), trồng luân canh
tăng cường quy mô sử dụng giống đu đủ lùn.
3.4.1.2. Trồng xen canh
Trong vườn đu đủ trồng xen cây ngô có mật độ rệp sáp giả P.
marginatus thấp hơn so với trong vườn đu đủ trồng thuần. Ngược lại,
trong vườn đu đủ trồng xen cây chuối lại có mật độ rệp sáp giả P.
marginatus đạt cao hơn so với trong vườn đu đủ trồng thuần (mục
3.3.3). Như vậy, để hạn chế rệp sáp giả P. marginatus không khuyến
6
19
khi đó, trên cây đu đủ 2 năm tuổi rệp sáp giả P. marginatus có mặt
quanh năm, mật độ trên lá hình thành 2 đỉnh cao vào cuối tháng 6 và
giữa tháng 10 đến đầu tháng 11). Mật độ ở đỉnh cao thứ nhất đều cao
gấp nhiều lần so với ở đỉnh cao thứ hai. Mật độ rệp sáp giả P.
marginatus trên cây đu đủ 1 năm tuổi luôn cao hơn so với mật độ rệp
sáp giả P. marginatus trên cây đu đủ 2 năm tuổi.
3.3.3. Diễn biến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu
đủ trong vườn trồng thuần và trồng xen
Tại Phúc Thọ, trên cây đu đủ ở vườn trồng xen cây chuối có mật
độ rệp sáp giả P. marginatus đạt thấp từ tháng 1 đến tháng 3; sau đó
mật độ bắt đầu gia tăng từ đầu tháng 4 và hình thành hai đỉnh cao:
đỉnh cao 1 vào ngày 29/6/2017 (với 49,10 con/lá; 6,22 con/quả) và
đỉnh cao 2 vào ngày 9/11/2017 (với 83,40 con/lá; 13,20 con/quả).
Trong khi đó, trên cây đu đủ ở vườn đu đủ trồng thuần có mật độ rệp
sáp giả P. marginatus đạt thấp từ tháng 1 đến tháng 5 ; sau đó mật độ
bắt đầu gia tăng và hình thành hai đỉnh cao: đỉnh cao 1 vào ngày
29/6/2017 (với 16,2 con/lá; 1,6 con/quả) và đỉnh cao 2 vào ngày
thức thí nghiệm gồm: phun rửa trôi bằng nước với lượng 1000, 2000,
3000 lít/ha (tương đương và cao gấp 2, 3 lần so với lượng nước
khuyến cáo khi phun thuốc BVTV trên cây ăn quả) và đối chứng
(không phun nước). Dụng cụ phun thí nghiệm: vòi phun và bơm nén
áp công suất lớn. Phun rửa trôi 2 lần cách nhau 1 ngày. Phun đều
nước ở cả mặt trên và mặt dưới của lá vào 15-18 giờ chiều.
Điều tra mật độ rệp sáp giả trước và sau phun nước 7 ngày. Tính
hiệu lực theo công thức Henderson-Tilton.
2.4.4.3. Phương pháp nghiên cứu phòng chống bằng biện pháp sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật
Tiến hành đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P. marginatus
của các hoạt chất thuốc BVTV ở trong phòng thí nghiệm và thí
nghiệm diện hẹp trên đồng ruộng. Nghiên cứu xác định lượng dùng,
thời điểm phun, lượng nước phun, công cụ phun phù hợp.
Hiệu lực đối với rệp sáp giả tính theo công thức Abbot (thí nghiệm
trong phòng) và công thức Henderson-Tilton (thí nghiệm ở đồng ruộng).
2.5. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu đồng ruộng được xử lý bằng phần mềm Excel và
phần mềm xử lý thống kê Statistix window.
18
7
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần sâu hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội
3.1.1. Thành phần loài côn trùng và nhện nhỏ hại cây đu đủ
Đã thu thập và xác định được 8 loài sâu hại trên cây đu đủ thuộc
quả nghiên cứu của Walker et al. (2003). Theo các tác giả này, lượng
mưa lớn làm giảm nghiêm trọng mật độ quần thể của rệp sáp giả P.
Marginatus (hình 3.13; 3.14; 3.15 và 3.16).
Hình 3.13. Diễn biến mật độ của
rệp sáp giả đu đủ P. marginatus
trên lá các giống đu đủ khác nhau
tại Phúc Thọ, Hà Nội năm 2017
Hình 3.14. Diễn biến mật độ của
rệp sáp giả P. marginatus trên lá
các giống đu đủ khác nhau tại
Thạch Thất, Hà Nội năm 2017
Hình 3.15. Diễn biến mật độ của
Hình 3.16. Diễn biến mật độ của
rệp sáp giả đu đủ P. marginatus
rệp sáp giả P. marginatus trên quả
trên quả các giống đu đủ khác nhau
các giống đu đủ khác nhau tại
tại Phúc Thọ, Hà Nội năm 2017
Thạch Thất, Hà Nội năm 2017
3.3.2. Diễn biến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên cây
đu đủ ở các độ tuổi khác nhau
Trên cây đu đủ 1 năm tuổi rệp sáp giả P. marginatus xuất hiện
trên lá từ đầu tháng 3 và trên quả từ đầu tháng 5, hình thành 2 đỉnh
cao mật độ vào cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 và giữa tháng 10. Trong
17
3.2.2.8. Số thế hệ trong một năm của rệp sáp giả Paracoccus marginatus
Đã nuôi rệp sáp giả P. marginatus ở nhà lưới của Viện BVTV
từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016. Kết quả cho thấy trong
điều kiện ôn ẩm độ biến động (17,2-31,3oC; 75-84% ẩm độ), cá thể
phát dục nhanh nhất của rệp sáp giả P. marginatus có thể hoàn thành
được gần 11 vòng đời (vòng đời thứ 11 mới chỉ phát triển đến trưởng
thành cái vũ hóa). Thời gian vòng đời ngắn nhất là 22,88 ngày vào
tháng 6 khi nhiệt độ đạt 31,3oC với 75% ẩm độ. Thời gian vòng đời
dài nhất là 46,50-46,67 ngày vào thời gian từ giữa tháng 12 đến đầu
tháng 3 năm sau khi nhiệt độ đạt 17,2-17,4oC và 78-79% ẩm độ.
3.3. Diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng đến số lượng rệp sáp
giả Paracoccus marginatus hại đu đủ
3.3.1. Diễn biến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu
đủ trên các giống đu đủ khác nhau
Trên giống đu đủ lùn, mật độ rệp sáp giả P. marginatus luôn đạt
thấp hơn rất nhiều và ít biến động hơn so với mật độ trên giống đu đủ
16
Loài rệp sáp giả này có tên tiếng Anh là “papaya mealybug”, vì
vậy tên tiếng Việt của loài này được đề nghị gọi là “rệp sáp giả P.
marginatus hại cây đu đủ”.
3.2. Đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài rệp
sáp giả paracoccus marginatus
3.2.1. Đặc điểm hình thái học của rệp sáp giả Paracoccus marginatus
Trứng: màu vàng xanh, hình bầu dục, dài 0,2mm; được đẻ trong
túi trứng; bề mặt túi trứng được phủ một lớp sáp trắng. Túi trứng ở phía
cuối cơ thể trưởng thành cái; chiều dài túi trứng có thể dài gấp 3 lần
chiều dài cơ thể trưởng thành cái (hình 3.2).
Nhộng nằm trong kén, có cơ thể hình trụ, màu vàng nhạt. Cơ thể có
3 phần là phần đầu, ngực, bụng và có mầm cánh. Cơ thể nhộng có chiều
dài là 1,04±0,03 mm và chiều rộng là 0,37±0,02 mm (hình 3.7).
Hình 3.11. Tỷ lệ sống (lx) và sức sinh sản (mx) của trưởng thành cái rệp
sáp giả P. marginatus theo thời gian ở nhiệt độ 25oC, ẩm độ 80%
Trong điều kiện thí nghiệm nêu trên, trưởng thành cái rệp sáp giả
P. marginatus bắt đầu đẻ trứng từ ngày tuổi thứ 25. Sức sinh sản (mx)
theo ngày tuổi đạt cao nhất (40,0) vào ngày tuổi thứ 30. Sau đó, sức sinh
sản (mx) theo ngày tuổi giảm dần và đến ngày tuổi thứ 52 tất cả cá thể
trưởng thành cái ngừng đẻ trứng (hình 3.11).
Ở 30ºC và 80% ẩm độ, chiếu sáng 16 giờ/ngày đêm, thức ăn là
lá cây đu đủ, trưởng thành rệp sáp giả P. marginatus có tỷ lệ sống (lx)
đạt 100% đến ngày tuổi thứ 27. Sau đó, chỉ tiêu này bắt đầu giảm, tất
cả trưởng thành cái chết vào ngày tuổi thứ 44 (hình 3.12).
Hình 3.6. Tiền nhộng của rệp sáp giả P. Marginatus
Hình 3.12. Tỷ lệ sống (lx) và sức sinh sản (mx) của trưởng thành cái
rệp sáp giả P. marginatus theo thời gian ở 30ºC và ẩm độ 80%
Ở điều kiện thí nghiệm nêu trên, trưởng thành cái rệp sáp giả
P. marginatus bắt đầu đẻ trứng từ ngày tuổi thứ 22. Sức sinh sản (mx)
theo ngày tuổi của trưởng thành cái đạt cao nhất (39,267) vào ngày
tuổi thứ 26. Sau đó, chỉ tiêu này giảm dần theo thời gian. Ngày tuổi
thứ 41 là ngày đẻ trứng cuối cùng của các cá thể trưởng thành cái rệp
sáp giả P. marginatus (hình 3.12).
10
15
3.2.2.7. Bảng sống của rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ
Ở 25ºC và 80% ẩm độ, chiếu sáng 16 giờ/ngày đêm với thức ăn
là lá cây đu đủ, trưởng thành cái rệp sáp giả P. marginatus có tỷ lệ
sống (lx) đạt 100% đến ngày tuổi thứ 34. Từ ngày tuổi thứ 35 tỷ lệ
sống (lx) bắt đầu giảm và giảm mạnh từ ngày tuổi thứ 38. Đến ngày
tuổi thứ 60 tất cả trưởng thành cái đều chết (hình 3.11).
14
Hình 3.7. Nhộng của rệp sáp giả P. marginatus
Trưởng thành: trưởng thành đực có màu đỏ nâu, cơ thể nhỏ bé,
thon dài, chiều dài chỉ 1 mm. Trưởng thành cái có màu sắc tương tự
rệp sáp non tuổi 3 giới tính cái với chiều dài thân là 2,39±0,06 mm và
chiều rộng thân là 1,29±0,05 mm. Đến cuối chu kỳ sinh sản cơ thể
trưởng thành cái chỉ còn lại lớp vỏ xác màu xám tối (hình 3.8 và 3.9).
Hình 3.8. Trưởng thành cái rệp
Hình 3.9. Trưởng thành đực
sáp giả P. marginatus
rệp sáp giả P. marginatus
3.2.2. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài rệp sáp giả
Paracoccus marginatus hại đu đủ
3.2.2.1. Tập tính sống của rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ
Rệp sáp giả P. marginatus sống trên tất cả các bộ phận trên mặt
đất của cây cây đu đủ (lá, chồi, hoa, quả, phần non của thân). Trên lá
đu đủ đã mở, rệp sáp giả P. marginatus chủ yếu sống ở mặt dưới,
phía gần cuống lá, cạnh gân chính của lá. Trưởng thành cái không có
cánh, di chuyển chỉ bằng cách bò trong khoảng cách ngắn hoặc bị
11
ngày ở 25oC và 25,56 ngày ở 30oC (bảng 3.7).
12
Bảng 3.7. Thời gian phát triển các pha của trưởng thành đực rệp
sáp giả P. marginatus
(Thí nghiệm trong phòng tại Viện Bảo vệ thực vật)
Thời gian phát triển (ngày)
Các pha/giai đoạn
ở các điều kiện thí nghiệm
phát triển
25oC, 80% ẩm độ
30oC, 80% ẩm độ
a
Trứng
7,42±0,08 (7-8)
6,13±0,06 b (6-7)
a
Rệp sáp non
11,53±0,22 (10-15)
8,63±0,33 b (6-15)
Tiền nhộng
2,51±0,16 a (1-6)
1,2±0,09 b (1-3)
Nhộng
3,16±0,20 a (2-7)
1,83±0,08 b (1-3)
Thời gian từ trứng
24,63±0,28 a (22-29) 17,8±0,35 b (14-24)
đến trưởng thành
Thời gian phát triển các pha/giai đoạn của quá trình phát triển cá
Trứng đến trưởng thành 23,56±0,33 a (20-29) 20,03±0,31 c (17-23)
Thời gian vòng đời
30,31±0,52 a (25-36) 25,56±0,48 b (22-29)
13