Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố rạch giá, tỉnh kiên giang - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………../………….

BỘ NỘI VỤ
…../….

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VĂN NHỰT

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ,
TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP. HỒ CHÍ MINH - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………../………….

BỘ NỘI VỤ
…../…..

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VĂN NHỰT

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ,

- Đặc biệt là sự quan tâm, hướng dẫn khoa học tận tình và trách nhiệm
của GVCC,TS. Đào Đăng Kiên đã hết lòng chỉ bảo và dành nhiều thời gian
quý báu để hướng dẫn, gúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Với những cố gắng của bản thân, song kinh nghiệm và khả năng còn
hạn chế nên luận văn “Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn
thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang” khó tránh khỏi những thiếu sót và
khuyết điểm. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn
bè, đồng nghiệp và các độc giả đã giúp tôi có cơ hội hoàn thiện hơn nữa.
Xin chân thành cám ơn.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2017
Tác giả

Nguyễn Văn Nhựt


DANH MỤC CÁC BIỂU MẪU

Biểu 2.1. Cơ cấu trình độ văn hoá;
Biểu 2.2. Cơ cấu trình độ chuyên môn;
Biểu 2.3. Cơ cấu trình độ ngoại ngữ;
Biểu 2.4. Cơ cấu trình độ tin học.


DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1. Bảng thống kê trình độ văn hoá;
Bảng 2.2. Bảng thống kê trình độ chuyên môn;
Bảng 2.3. Bảng thống kê trình độ lý luận chính trị;
Bảng 2.4. Bảng thống kê trình độ quản lý nhà nước;
Bảng 2.5. Bảng thống kê trình độ ngoại ngữ;

1.3. Sơ lược kinh nghiệm một số nước về đào tạo, bồi dưỡng công
chức........................................................................................................................................ 23
1.3.1. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Singapore..................................... 23
1.3.2. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Nhật Bản...................................... 24


1.3.3. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Hàn Quốc.................................... 25
1.3.4. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Indonesia..................................... 26
1.3.5. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Pháp................................................ 27
1.3.6. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Hoa Kỳ......................................... 28
1.3.7. Bài học kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã có
thể vận dụng ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang................................. 29
Tiểu kết chương 1................................................................................................................. 31
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP
XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG .. 32
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức
cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang................................. 32
2.1.1. Về điều kiện tự nhiên.................................................................................. 32
2.1.2. Về điều kiện kinh tế - xã hội.................................................................... 33

2.2. Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch
Giá, tỉnh Kiên Giang..................................................................................................... 36
2.2.1. Đặc điểm công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên
Giang................................................................................................................................ 36
2.2.2. Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở
thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang............................................................. 45
2.2.3. Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá,
tỉnh Kiên Giang-ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân...................................... 50
Tiểu kết chương 2................................................................................................................. 58
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG

riêng.
Đội ngũ công chức cấp xã là những chủ thể quản lý rất quan trọng
trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, là “bộ mặt” hành chính tại địa
phương. Công chức cấp xã là cánh tay nối dài của hệ thống chính trị, là cầu
nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, là người gần dân nhất, trực tiếp đưa
đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân.
Công chức cấp xã là người thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân, mọi
hành động của công chức xã đều ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, niềm tin
của nhân dân đối với chính quyền địa phương.
Với vai trò to lớn như thế cho nên đội ngũ công chức cấp xã cần được
quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ lý luận chính trị để
có thể phục vụ Nhà nước và nhân dân được tốt hơn.
Thành phố Rạch Giá là trung tâm kinh tế, chính trị, hành chính, khoa
học-công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, du lịch và thương mại của tỉnh
Kiên Giang. Do đó, cấp ủy và chính quyền thành phố cũng rất quan tâm xây
dựng đội ngũ công chức cấp xã tinh thông về chuyên môn, nghiệp vụ, có đủ
năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

1


Tuy nhiên, trong thời gian qua, đội ngũ công chức cấp xã ở thành phố
Rạch Giá nhìn chung còn hạn chế, bất cập nhiều mặt, phần lớn chưa được đào
tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ và còn hạn chế về các kỹ năng quản lý
như: giao tiếp, nhận dạng và thực thi các văn bản qui phạm pháp luật, điều
hành, thanh kiểm tra và giám sát trong quản lý nhà nước.
Bên cạnh đó nhận thức trong đội ngũ công chức không đồng đều, thiếu
tính chủ động sáng tạo, việc vận dụng các chủ trương chính sách của cấp trên
vào điều kiện cụ thể của từng địa phương chưa linh hoạt. Không ít công chức
cấp xã chưa nắm vững chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền được giao, không

đi học tập trung hàng mấy năm trở lên, công việc ở xã rất cấp bách và trực
tiếp, giải quyết hàng ngày nên đi học lâu rất khó bố trí.
- Lại Đức Vượng (2005): “Hoàn thiện hệ thống các cơ quan đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước”, Luận văn thạc sỹ Hành chính công,
Học viện Hành chính. Kết quả nghiên cứu của luận văn chủ yếu về tổ chức cơ
quan đào tạo, bồi dưỡng, mà ít bàn đến nội dung đào tạo, bồi dưỡng, nên có
khác biệt với luận văn mà tác giả đang nghiên cứu. Tuy nhiên, luận văn cũng
cho tác giả một cách tiếp cận đa dạng về đào tạo, bồi dưỡng và tổ chức các cơ
quan đào tạo, bồi dưỡng.
- Dương Thanh Tuấn (2006): “Những giải pháp chủ yếu trong việc tạo
nguồn cán bộ, công chức cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Trà Vinh”, Luận văn thạc
sỹ Hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia.
- Phạm Cao Việt Linh (2007): “Hoàn thiện quản lý nhà nước về công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính ở thành phố Hồ Chí
Minh trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Hành chính công, Học viện
Hành chính. Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trí về lý luận và thực tiễn
cao, hệ thống làm rõ khung lý thuyết về quản lý nhà nước về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức ở thành phố Hồ Chí Minh, phân tích thực trạng rõ
ràng, có tính cập nhật cả về lý luận và thực tiễn ở thành phố Hồ Chí Minh,

3


Các giải pháp có tính đặc thù và khả thi. Luận văn có giá trị tham khảo cho tác
giả nghiên cứu bổ sung về lý luận và cách tiếp cận phân tích thực trạng. Tuy
nhiên, vị trí và không gian của thành phố Hồ Chí Minh khác biệt so với thành
phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang và thời gian nghiên cứu đã hơn 10 năm nên
cần phải nghiên cứu bổ sung lý luận và thực tiễn ở địa phương trong điều kiện
cải cách hành chính hiện nay.
- Phạm Hoa Mai (2009): “Đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính

đến chế độ tiền lương và các nhóm giải pháp nâng cao chế độ tiền lương cho
đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Nội dung hữu ích cho nghiên cứu của tác
giả vì nâng cao năng lực trách nhiệm và tinh thần của cán bộ, công chức cần
phải kết hợp với chế độ đãi ngộ phù hợp cho cán bộ, công chức cấp xã, tạo
điều kiện cho cán bộ, công chức yên tâm thực thi nhiệm vụ, đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của nhân dân trong tiến trình cải cách hành chính hiện nay ở
nước ta.
- PGS,TS. Nguyễn Thanh Tuấn (2014): “Xây dựng và hoàn thiện
chính quyền cấp xã theo tinh thần Hiến pháp năm 2013”. Tạp chí Tổ chức
Nhà nước - Cổng thông tin điện tử Bộ Nội vụ. Nội dung chính của bài nghiên
cứu cho biết cho đến nay, nhiều vấn đề quan trọng đang đặt ra trong phương
thức quản lý của chính quyền xã, như: thể chế quản lý một cách dân chủ và
hiệu lực, hiệu quả phù hợp với đặc điểm vùng miền, tộc người và phát huy
đúng mức vai trò của chính quyền cấp xã trong quản lý, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã. Đổi mới tổ chức và hoạt động của
Hội đồng nhân dân xã, đổi mới tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân xã,
nâng cao năng lực tiến tới tiêu chuẩn hóa đội ngũ công chức xã và đổi mới nội
dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng và công tác mặt trận, các đoàn
thể nhân dân tại xã.
Đánh giá năng lực hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

5


được xác định bởi rất nhiều tiêu chí, là khâu quan trọng trong quá trình quản
lý cán bộ, công chức cấp xã nói riêng và cán bộ, công chức nói chung. Sau khi
phân tích thực trạng công tác đánh giá cán bộ, công chức cấp xã hiện nay, tác
giả hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, với
các tiêu chí về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực.
Ngoài ra, còn có các tiêu chí đặc thù đối với các chức danh công chức của Hội

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về đào tạo, bồi dưỡng công
chức cấp xã.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức
cấp xã ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào
tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá, tỉnh
Kiên Giang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Nghiên cứu công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức
cấp xã từ năm 2010 đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2025.
- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn thành phố
Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm, đường lối chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước
về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã và một số công trình nghiên
cứu có liên quan đến đề tài.

7


- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập thông tin :
+ Về thu thập thông tin thứ cấp: Tác giả nghiên cứu, tham khảo trong
các công trình đề tài, luận văn, các bài nghiên cứu khoa học và các báo cáo

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về đào tạo, bồi dưỡng công chức
cấp xã.
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi
dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

9


Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Khái quát về công chức cấp xã
1.1.1. Khái niệm công chức cấp xã
Công chức cấp xã bao gồm công chức phường, công chức xã, công
chức thị trấn.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức cấp xã lần đầu tiên được sử dụng
trong Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức
(năm 1998) được ban hành ngày 29/4/2003, trước đó khái niệm công chức cấp
xã chưa được đề cập trong các văn bản pháp luật.
Pháp lệnh số 11/2003/PL-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội
ngày 29/4/2003 sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh cán bộ, công chức
(năm 1998) quy định “công chức cấp xã là những người được tuyển dụng,
giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp
xã” [19,tr.1].
Cụ thể hóa văn bản này, Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003
của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thì: công chức cấp
xã là công dân Việt Nam được tuyển giữ một chức chuyên môn, nghiệp vụ
thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách

hội. Các chức danh của công chức cấp xã được Luật Cán bộ, Công chức quy
định rõ ràng cụ thể, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của công chức xã trong bộ
máy chính quyền địa phương, được thể hiện đầy đủ hơn so với Nghị định
114/2003/NĐ-CP của Chính phủ.
Theo Luật Cán bộ, Công chức (năm 2008), công chức cấp xã được
hiểu là những người được tuyển dụng và giao giữ một chức danh chuyên môn,
nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước.

11


Công chức cấp xã có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản
lý nhà nước về lĩnh vực công tác và thực hiện những nhiệm vụ khác do Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao. Mỗi một chức danh công chức cấp xã có
những nhiệm vụ và phải đạt một số tiêu chuẩn nhất định do pháp luật quy
định về tuổi đời về trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị... Vì vậy, công
chức cấp xã sau khi được tuyển dụng phải được tham gia các khóa đào tạo,
bồi dưỡng về trình độ lý luận chính trị và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của mình để có thể đáp ứng yêu cầu của công việc
chuyên môn.
1.1.2. Đặc điểm công chức cấp xã
Có thể nói trong đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước ta hiện nay
đội ngũ công chức cấp xã thực sự là công bộc, là đầy tớ của nhân dân. Vì đây
là lực lượng tiếp xúc với nhân dân nhiều nhất và giải quyết thỏa đáng tâm tư,
nguyện vọng và bức xúc của nhân dân. So với đội ngũ cán bộ, công chức nói
chung, đội ngũ công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản như sau:
- Công chức cấp xã phần lớn là những người được sinh ra và lớn lên ở
địa phương, là những người cùng sinh sống, có quan hệ tình cảm với bà con
nhân dân tại địa phương. Do đó, họ có thể nắm bắt, hiểu rõ đặc điểm, tình

ngộ đối với công chức xã nhiều hơn.
1.1.3. Vai trò của công chức cấp xã
- Công chức cấp xã là những người làm việc trong bộ máy chính
quyền ở địa phương, là cánh tay nối dài của hệ thông chính trị, là người gần
dân nhất, trực tiếp đưa đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước đến với nhân dân. Với vai trò to lớn như thế, việc đào tạo, bồi dưỡng
công chức xã luôn luôn là vấn đề quan trọng đối với bất kỳ bộ máy chính
quyền địa phương nào. Nếu đội ngũ công chức cấp xã có kiến thức cơ bản về
lĩnh vực chuyên môn, cũng như nắm rõ những quy định, chính sách, pháp luật
của Nhà nước thì mới có thể tuyên truyền, chuyển tải đến người dân địa

13


phương, giúp họ hiểu những yêu cầu của Nhà nước đối với từng vấn đề cụ
thể; từ đó người dân địa phương sẽ chấp hành tốt những quy định của pháp
luật, đảm bảo được trật tự quản lý xã hội cũng như đảm bảo được tính pháp
chế xã hội chủ nghĩa.
- Công chức cấp xã là người trực tiếp xem xét công việc ở địa phương
và tư vấn cho cán bộ lãnh đạo giải quyết công việc theo đúng quy định của
pháp luật. Do đó họ phải là người nắm bắt rõ nhất tình hình kinh tế, văn hóa,
xã hội ở địa phương và cung cấp những thông tin trên cho cán bộ lãnh đạo.
Trên cơ sở đó, những người làm công tác quản lý có thể ban hành các văn bản
điều chỉnh kịp thời những vấn đề xảy ra ở địa phương, đồng thời có hướng
động viên, khuyến khích những công chức xã cố gắng học tập, nâng cao trình
độ làm tốt nhiệm vụ của mình. Có như thế, thì bộ máy chính quyền ở địa
phương có thể hoạt động tốt, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước xã hội chủ
nghĩa ngày càng vững mạnh.
- Công chức cấp xã là người thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân
dân. Công chức tốt hay không tốt đều có ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm của

năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước thì cần phải tăng cường công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói
riêng. Đây là hoạt động vô cùng quan trọng của Nhà nước vì đội ngũ cán bộ,
công chức mạnh thì tất yếu bộ máy nhà nước sẽ hoạt động đạt hiệu quả cao.
“Đào tạo” và “bồi dưỡng” là các thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến
trong các văn bản quy phạm pháp luật, cũng như trong các tài liệu nghiên cứu
ở nước ta, tuy nhiên về cách tiếp cận cũng theo nhiều cách khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn
quốc gia năm 2005: “đào tạo làm cho trở thành người có năng lực theo những
tiêu chuẩn nhất định”, “bồi dưỡng là làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng
thêm”.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam của Viện Từ điển học và

15


Bách khoa toàn thư Việt Nam, thuật ngữ “đào tạo, bồi dưỡng” được giải thích
là “quá trình tác động đến một con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm
vững những trí thức, kỹ năng, kỹ xảo,... một cách có hệ thống để chuẩn bị cho
người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một phân công lao động
nhất định, góp phần mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền
văn minh của loài người”.
Tại Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của Chính
phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giải thích: đào tạo là quá trình
truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của
từng cấp học, bậc học” và “bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng
cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [11, tr.1].
Từ các cách tiếp cận trên có thể hiểu: đào tạo là quá trình trang bị
những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thích hợp để người được đào tạo có thể
đảm nhận một công việc nhất định và bồi dưỡng là quá trình nâng cao kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status