ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ THOA
NHU CẦU ĐƯỢC TRỢ GIÚP TÂM LÝ CỦA HỌC
SINH TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG HUYỆN ĐAN PHƯỢNG – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGHÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ THU DUNG
TS. BÙI THỊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI - 2012
1
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 ACA
2 ASCA
3 ĐTB
4 HS
5
HĐTGTLHĐHoạt động trợ giúp tâm lý học đường
6
7.Phương pháp nghiên cứu .........................................................................
8.Cấu trúc luận văn .....................................................................................
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ..............
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường .....................................
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại nước ngoài ......................
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu tâm lý học đường tại Việt Nam .........................
1.2. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài ..........................................
1.2.1. Một số lý thuyết nghiên cứu về nhu cầu ...........................................
1.2.2.Khái niệm nhu cầu ............................................................................
1.2.3. Khái niệm tâm lý học đường ............................................................
1.2.4. Khái niệm “trợ giúp tâm lý học đường” ...........................................
1.2.5. Khái niệm nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh.
1.2.6. Một số đặc điểm tâm – sinh lý cơ bản của học sinh trung học
phổ thông .............................................................................................
1.2.7.Những khó khăn tâm lý mà học sinh trung học phổ thông thường gặp ....
1.2.8. Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THPT ..................................
1.3.Các tiêu chí để đánh giá nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường
của học sinh .................................................................................................
Kết luận chương 1 .......................................................................................
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............
2.1. Vài nét về khách thể nghiên cứu ..........................................................
2.2. Quy trình nghiên cứu ...........................................................................
2.3. Các phương pháp nghiên cứu ..............................................................
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu ......................................................
4
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn........................................................................... 43
Kết luận chương 2........................................................................................................................... 46
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU........................................................................... 47
sinh phong phú, đa dạng và bức xúc hơn. Các hoạt động tham vấn tâm lý xuất
hiện và ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, nhất là ở
những đô thị đông dân. Tham vấn tâm lý được ứng dụng ở nhiều loại hình
tham vấn khác nhau, trong đó trợ giúp tâm lý học đường đang trở thành một
nhu cầu cấp bách của xã hội cần được đáp ứng kịp thời. Hoạt động trợ giúp
tâm lý học đường không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với học sinh, sinh
viên mà nó còn rất cần thiết cho giáo viên, phụ huynh học sinh – những người
có liên quan đến sự nghiệp “trồng người”.
Sự phát triển với tốc độ nhanh và đầy biến động của nền kinh tế - xã hội,
các yêu cầu ngày càng cao của nhà trường và cả những điều bất cập trong
thực tiễn giáo dục; thêm vào đó là sự kỳ vọng quá cao của cha mẹ, thầy cô
đang tạo ra những áp lực rất lớn và gây căng thẳng cho học sinh trong cuộc
sống, trong học tập và trong quá trình phát triển. Mặt khác, sự hiểu biết của
học sinh về bản thân mình cũng như kỹ năng sống của các em vẫn còn hạn
chế trước những sức ép nói trên. Thực tế cho thấy, học sinh trong nhà trường
phổ thông có thể có những rối loạn về phát triển tâm lý, rối loạn phát triển các
kỹ năng nhà trường (như đọc, viết, tính toán…), những rối loạn về cảm xúc
như lo âu, trầm cảm hay những rối loạn về hành vi (như vô kỷ luật, bỏ học,
trốn học, trộm cắp, hung bạo…). Theo số liệu điều tra, tỷ lệ có dấu hiệu rối
nhiễu tâm lý trong trẻ em ở tuổi học đường là khoảng 20% (Hà Nội và các
tỉnh lân cận, theo điều tra năm 1999 của Bệnh viện Nhi Trung ương là 10 –
24% và năm 2003 là 20 – 30%; tại Biên Hòa, theo điều tra của sở Giáo dục và
Đào tạo Đồng Nai, năm 2000 là 10 – 24%; tại Hà Nội ở 1023 học sinh tiểu
1
học và trung học cơ sở là 19,46% theo điều tra năm 2005 của Bệnh viện Tâm
thần Ban ngày Mai Hương). Hậu quả là ngày càng có nhiều học sinh gặp
không ít khó khăn trong học tập, tu dưỡng đạo đức, xây dựng lý tưởng sống
cho mình cũng như xác định cách thức ứng xử cho phù hợp trong các mối
2
3.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ thông
huyện Đan Phượng – thành phố Hà Nội.
3.2.Khách thể nghiên cứu
Tổng số lượng khách thể nghiên cứu: 516 học sinh
Trong đó:
248 học sinh trường THPT Đan Phượng
268 học sinh trường THPT Hồng Thái
(Số khách thể này được lựa chọn một cách ngẫu nhiên)
Tại các trường, chúng tôi lựa chọn khách thể ngẫu nhiên ở cả 3 khối: khối
10, khối 11, khối 12 để làm tăng tính khách quan và đa dạng của kết quả
nghiên cứu.
4.
-
Giả thuyết nghiên cứu
Nhu cầu trợ giúp tâm lý học đường của học sinh trung học phổ thông huyện
Đan Phượng rất đa dạng và phong phú. Có sự khác nhau nhưng không nhiều
về mức độ và sự biểu hiện nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường giữa các
nhóm khách thể.
-Về thời gian nghiên cứu: đề tài được tiến hành trong khoảng thời gian từ
tháng 04/2011 đến 05/2012
7.
Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu và thực hiện luận văn này, chúng tôi lựa chọn những phương
pháp nghiên cứu sau:
8.
-
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
-
Phương pháp quan sát
-
Phương pháp phỏng vấn sâu
-
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
-
Phương pháp thống kê toán học
Jesse B. Davis có thể được xem là một trong những người đầu tiên
trong lĩnh vực này khi giới thiệu một chương trình “Những hướng dẫn về
nghề nghiệp và đạo đức” (Vocational and Moral Guidance) cho học sinh
trường công và Frank Parsons, được xem như là cha đẻ của nghề Hướng dẫn
(còn gọi là Khải đạo), khi ông giới thiệu cuốn sách “Lựa chọn một nghề”
(Choosing a Vocation) (1909), trong đó ông trình bày những phương pháp kết
nối những đặc điểm tính cách của mỗi cá nhân với một nghề nghiệp. Frank
Parsons đã hình dung ra công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp có hệ thống
trong trường học. Nguyên tắc của ông trong công tác hướng dẫn tư vấn nghề
đã ảnh hưởng sâu sắc đến những lĩnh vực rộng lớn hơn của công tác tham
vấn. Mục đích chính của Parsons đối với công tác hướng dẫn tư vấn nghề
được thể hiện trong 3 quá trình:
(1)
Thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng thích hoài bão,
nguồn lực cũng như những hạn chế của cá nhân đối với nghề, động lực thúc
đẩy cá nhân chọn nghề.
(2)
Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công, những thuận
lợi và khó khăn, sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển trong
giới hạn khác nhau của công việc.
(3)
Nguyên nhân thực sự trong mối liên hệ của hai nhóm trong thực tế.
5
Năm 1964, Hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ phát
triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tham vấn tâm lý học đường.
Năm 1980, các nhà tham vấn tâm lý học đường đã thay đổi chức năng
và vai trò của nhà tâm lý học đường từ “đánh giá và đánh giá chuyên sâu”
(assessment and placement intensive) sang “đánh giá và can thiệp sâu đối với
những nhóm có nguy cơ ở trường phổ thông” (preferential assessment,
interventions and at least secondary prevention for at risk groups). Những
thay đổi này đã làm cho nỗ lực đáp ứng nhu cầu của sinh viên, học sinh cũng
như phụ huynh học sinh, giáo viên và cộng đồng ngày được nâng cao.
Đến những năm của thập niên 80, 90, nhu cầu về việc làm rõ những đặc
tính và vai trò của nhà tham vấn tâm lý học đường được xuất hiện với sự
“chín muồi” của những vấn đề pháp lý liên quan.
Đến năm 1997, các tiêu chuẩn quốc gia dành cho các hoạt động tham
vấn, hỗ trợ tâm lý học đường (National Standards for School Counseling
Programs) xuất hiện. Kể từ đó, nghành tham vấn Tâm lý học đường được xem
như chính thức ra đời.
Hiện nay, Hiệp hội các nhà tham vấn Tâm lý học đường Hoa Kỳ
(ASCA) được xem như là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình
tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới. ASCA
hiện là một phân hội của ACA với hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới.
Ngày nay, các dịch vụ tham vấn, hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên
phổ biến và không thể thiếu được trong các trường học, các cơ sở đào tạo ở
Anh, Pháp, Nga, Đức…. và nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Ở
Nga, hoạt động trợ giúp tâm lý xuất hiện muộn hơn vào khoảng
những năm 80 của thế kỷ XX cùng với những thực nghiệm tâm lý nhằm ứng
không chỉ đào tạo nghành tâm lý, giáo dục mà còn là những cơ sở nghiên cứu
về tâm lý học đường ở nước ta.Trong những năm qua, sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động giáo dục và đào tạo
trong nhà trường, gia đình và xã hội. Khi đời sống kinh tế được nâng cao đã
làm cho học sinh, sinh viên có điều kiện phát triển về thể lực, trí lực, về kỹ
năng sống… Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi quan trọng do sự phát triển
8
kinh tế - xã hội mang lại thì nó cũng có những thách thức. Có thể thấy, trong
thập niên gần đây,có khá nhiều học sinh, sinh viên trong các trường học vẫn
đang phải đối mặt với các vấn đề tâm sinh lý trong tiến trình phát triển con
người và vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình hội nhập. Thực tế cho thấy,
chưa bao giờ học sinh phổ thông lại phải chịu một áp lực học tập lớn như hiện
nay bởi những kì vọng của gia đình và bối cảnh cạnh tranh gắt gao của cơ chế
thị trường. Những áp lực này đã tạo nên những khó khăn tâm lý rất lớn và các
em cần tới sự trợ giúp. Trong nghiên cứu “Một số yếu tố ảnh hưởng đển công
tác hướng nghiệp cho học sinh trong các trường trung học phổ thông hiện
nay”(Hội thảo Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO. Hội tâm lí
học – giáo dục học 7/2007) tác giả Phạm Mạnh Hà đưa ra nhận định, gần 80%
trẻ có rối nhiễu tâm lý có căn nguyên từ học đường. Khi khảo sát thực trạng lo
âu của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội năm 2006 người ta thấy cứ 10
trẻ đến tư vấn và trị liệu rối nhiễu tâm lý thì có 7 đến 8 trẻ có căn nguyên liên
quan tới vấn đề học đường.Trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng
người ta cũng cảnh bảo hiện tượng tự tử hiện nay của học sinh sinh viên cũng
xuất phát từ một trong số lý do liên quan tới học tập của các em. Chính vì vậy,
thông tư số 9971/BGD – ĐT, Bộ giáo dục đào tạo đã gửi các cơ sở đào tạo và
trường học về việc “triển khai công tác tư vấn cho học sinh – sinh viên”, đồng
thời Bộ giáo dục cũng phát động việc xây dựng “ngôi trường thân thiện, học
sinh tích cực” trong trường học. Điều này chứng tỏ rằng, các cấp lãnh đạo
nghành giáo dục bước đầu đã có những hoạt động quan tâm đến việc phát
Hồ Chí Minh” do Viện nghiên cứu Giáo dục - Đại học sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh tổ chức.
-
Năm 2004, Trung tâm hỗ trợ tư vấn tâm lý (CACP) thuộc trường Đại học
khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) được thành lập và hoạt động
tham vấn tâm lý học đường được xem là một trong những lĩnh vực hoạt động
chính của trung tâm.
-Năm 2005, hội thảo “Kinh nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn trong
trường học” do Văn phòng tư vấn trẻ em thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
-
Hội nghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý, giáo dục, thực tiễn và định hướng
phát triển” do Hội khoa học tâm lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh tổ chức
năm 2006
-
Năm 2007, hội thảo khoa học “Hỗ trợ tâm lý cho học sinh sinh viên” do Hội
khoa học tâm lý Đồng Nai tổ chức.
-
Hội thảo “Tâm lý học đường triển khai và ứng dụng thực tiễn vào nhà
trường Việt Nam” do trường Đại học sự phạm Hà Nội và Viện nghiên cứu sư
phạm tiên hành, năm 2008
10
viên Việt Nam hiện nay” của tác giả Bùi Thị Xuân Mai cho thấy có trên 90%
số khách thể được hỏi cho là cần và rất cần có các dịch vụ tham vấn tâm lý.
Nhóm khách thể ở lứa tuổi vị thành niên thì có nhu cầu tham vấn về vấn đề
học tập,quan hệ bạn bè, vấn đề trạng thái tâm lý không cân bằng…. Trong khi
đó, nhóm lứa tuổi thanh niên lại quan tâm nhiều hơn đến
các vấn đề về việc làm, tình bạn, tình yêu, sức khỏe trong đó có trạng thái tâm
lý không cân bằng.
11
Nghiên cứu “Nhu cầu được trợ giúp tâm lý học đường của học sinh cuối
THCS và THPT thành phố Nam Định” của tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng,
Nguyễn Thu Trang, cho thấy có đến 84,7% số học sinh được hỏi cho rằng, các
hoạt động trợ giúp tâm lý học đường là rất cần thiết và có 69,8% các em cho
biết nếu có các hoạt động này ở trường thì các em sẽ tham gia vào các hoạt
động trợ giúp tâm lý học đường nói chung và sẵn sàng đến phòng tâm lý học
đường khi bản thân có những khó khăn tâm lý.
Ngoài những công trình nghiên cứu, các luận văn, các nghiên cứu về nhu
cầu tư vấn tâm lý… ở các cơ quan, tổ chức nghiên cứu về tâm lý thì tại khoa
tâm lý học trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia
Hà Nội cũng còn có các khóa luận tốt nghiệp, luận văn khác của sinh viên,
học viên cao học nghiên cứu về những khó khăn, rối nhiễu tâm lý mà học sinh
thường gặp phải như: Khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu một số nguyên nhân
tâm lý của hiện tượng kém thích nghi học đường ở học sinh lớp 6” của
Nguyễn Thị Thúy (2002); “Bước đầu phát hiện và đánh giá rối nhiễu tăng
động giảm chú ý của học sinh THCS” của Trần Quang Minh (2002); “Bước
đầu tìm hiểu về rối nhiễu lo âu, trầm cảm của học sinh THPT” của Lê Thị Hà
(2003); “Tìm hiểu những rối nhiễu hành vi và một số yếu tố liên quan đến rối
nhiễu hành vi ở trẻ vị thành niên” của Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2004)…
Những nghiên cứu trên đây đã phần nào cho thấy những khó khăn, rối
đo được. Vì thế chúng đều là phi vật chất và không thể quyết định được một
hiện tượng vật chất. Nhưng mặt khác, ngay từ thế kỉ 19, các tác giả như
Ethorndike, NE. Miller đã có những thí nghiệm nghiên cứu về nhu cầu ở động
vật và khẳng định: các kiểu hành vi của con vật được thúc đẩy bởi nhu cầu,
nhu cầu có thể quyết định hành vi. Sau này, các đại biểu tâm lý học hành vi
mới đưa vào công thức S – R một biến số trung gian: đó là nhu cầu, trạng thái
chờ đón, kinh nghiệm sống,… Các tác giả này giải thích rằng biến số trung
gian có tác dụng điều chỉnh đáp ứng phù hợp với các kích thích vào cơ thể.
Các nhà hành vi không coi nhu cầu là thuộc về tâm lý, nhưng trên thực tế,
nghiên cứu của họ cho thấy các thực nghiệm đã chỉ ra rằng các nhà tâm lý học
13
hành vi nghiên cứu khá rõ và kỹ lưỡng về nhu cầu, đặc biệt là những nhu cầu
sinh lý. Điểm hạn chế của họ là quan niệm đồng nhất nhu cầu của con người
và nhu cầu ở con vật. Thiếu sót này do các thực nghiệm mà các nhà tâm lý
học hành vi dựa vào để đi đến kết luận thường là thực nghiệm trên động vật.
Clark Hull (1952) với thuyết xung năng theo hướng tiếp cận sinh học
cho rằng: nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con người, thúc đẩy hoạt động của
con người. ng không phủ định sự có mặt của những nhu cầu, động cơ khác
nhưng theo ông, chúng kết hợp và bị chi phối bởi nhu cầu thể chất. Về bản
chất, thuyết xung năng đã sinh vật hóa nhu cầu của con người, xem nhu cầu
như là xung năng mang tính sinh vật, nảy sinh từ sự thiếu hụt thức ăn, nước
uống, không khí… qua đó phủ nhận tính xã hội, bản chất xã hội của nhu cầu,
quy gán nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã hội đều do yếu tố sinh vật tạo ra.
Một trong những học thuyết về tâm lý có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong
nhiều lĩnh vực cuộc sống và có giá trị thực tiễn cho đến ngày hôm nay là
thuyết Phân tâm học. Nó gắn liền với tên tuổi của Sigmund Freud (1856 –
1939) và đã trở nên quen thuộc với nhiều người. Trong quá trình nghiên cứu
của mình, ông cũng đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết
Tâm lý học nhân văn ra đời như là một khuynh hướng đối lập với tâm lý
học hành vi và Phân tâm học. Trường phái tâm lý học nhân văn là sự tổng hợp
nhiều khuynh hướng mới và nhiều trường phái tư tưởng khác nhau với các đại
diện tiêu biểu như: A. Maslow, C. Rogers, G. Allport... trong đó “Thuyết thứ
bậc nhu cầu” của A. Maslow (1908 – 1970) có tầm ảnh hưởng rất lớn trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục. Trong lý thuyết này,
ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự thứ bậc từ
cấp thiết đến ít cấp thiết hơn như sau:
15
=>nhu cầu tham gia các quan hệ
liên cá nhân, giúp người khác tự
khẳng định
=>nhu cầu tự hoàn thiện, tự
khẳng định
=> nhu cầu thẩm mỹ, vươn tới
cái đẹp
=> nhu cầu nhận thức, khám phá
=> nhu cầu được tôn trọng, được
biết đến
=>nhu cầu được sở hữu và yêu
thương
=> nhu cầu được an toàn
=> Nhu cầu về cơ thể: đói, khát,
mệt
Bốn nhu cầu đầu tiên (bắt đầu từ dưới chân tháp lên) Maslow gọi là nhu
thuộc tính tâm lý đặc trưng giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi.
ng quan niệm rằng: nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực, nó xác
định xu hướng, tính chất hành vi. Và ông cũng cho rằng, dựa vào nhu cầu của
con người để phân loại hành vi của con người.
Nghiên cứu về nhu cầu, X.L.Rubinstein khẳng định, con người có nhu
cầu sinh vật, nhưng bản chất của con người là sản phẩm của xã hội vì thế phải
xem xét đồng thời các vấn đề cơ bản của con người với nhân cách. Nhu cầu
mang tính tích cực, thúc đẩy con người hoạt động tìm kiếm cách thức, phương
tiện, đối tượng thỏa mãn nó. Sự hình thành nhu cầu cụ thể có sự tham gia của
ý
thức và trải qua các giai đoạn:
Ý hướng là bước khởi đầu của nhu cầu. Chủ thể mới xuất hiện trạng
thái thiếu thốn của cơ thể, chưa có ý thức đầy đủ về đối tượng và khả
năng thỏa mãn nó.
Ý muốn là khi chủ thể đã ý thức rõ về đối tượng, mục đích hoạt động
nhằm thỏa mãn nhu cầu, nhưng chưa có, đang tìm kiếm phương thức,
điều kiện thỏa mãn nhu cầu.
17
Ý định, là giai đoạn chủ thể ý thức đầy đủ về ý thức, phương thức,
phương tiện, điều kiện thỏa mãn nhu cầu và sẵn sàng hành động.
Trong từ điển Tâm lý học (Nguyễn Khắc Viện chủ biên): Nhu cầu trong
tiếng Anh là “need”, trong tiếng Pháp là “besoin” có thể được hiểu như sau:
Nhu cầu là điều cần thiết để đảm bảo tồn tại và phát triển của con người.
Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó khăn, căng thẳng, ấm ức. Có nhu
cầu của con người, có nhu cầu chung của tập thể, khi hòa hợp, khi mâu
thuẫn; có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu, giả tạo. Nhu cầu do
trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi.[33, tr.266]. Cho nên, cần xác định
rõ những tiêu chuẩn sinh lý, xã hội, tâm lý để phân biệt những nhu cầu xác
đáng và những ham muốn, đòi hỏi không quan trọng.
Theo Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Minh Hạc trong cuốn Tâm lý
học, cho rằng: Nhu cầu là đòi hỏi ở môi trường xung quanh những cái cần
thiết (không thể thiếu) cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân.
Theo tác giả Trần Hiệp trong cuốn Tâm lý học xã hội, cho rằng: Nhu cầu
là một trạng thái tâm lý xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có điều kiện
nhất định để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình. Trạng thái tâm lý đó
kích thích con người hoạt động nhằm đạt được những điều mình mong muốn.
Theo Leonchiev (1903 – 1979) thì “Nhu cầu là một trạng thái của con
người cần một cái gì đó cho cơ thể nói riêng và con người nói chung để sống và
hoạt động. Nhu cầu luôn có đối tượng. Đối tượng của nhu cầu có thể là vật chất
hoặc tinh thần chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu có vai trò định
hướng đồng thời là động lực bên trong kích thích hoạt động của con người”.
Tóm lại: Ở mỗi quan điểm khi nghiên cứu về nhu cầu có cách diễn đạt khác
nhau, nhưng tựu chung lại chúng ta có những ý chính sau:
Nhu cầu là trạng thái tâm lý của con người, thể hiện sự cần thiết thỏa mãn
về một đối tượng cụ thể cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của chủ thể.
thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển với tư cách là một nhân
cách”.[33]
1.2.2.1. Một số đặc điểm cơ bản của nhu cầu
-
Tính đối tượng của nhu cầu: Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể. Đối
tượng của nhu cầu có thể là nhu cầu vật chất hay nhu cầu tinh thần (chức
năng). Khi đối tượng được phản ánh cụ thể, rõ ràng và có phương thức thỏa
mãn thì nó trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động.
-
Tính nội dung của nhu cầu: Nhu cầu luôn có nội dung cụ thể. Nội dung của
nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quy định. Phương
thức thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào sự phát triển, phong tục tập quán,
truyền thống của mỗi xã hội; phụ thuộc vào trạng thái tâm lý riêng, vào khả
năng hoạt động của chủ thể.
-
Tính ổn định của nhu cầu: Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất hiện
lặp lại (thông thường ở mức độ cao hơn) khi đòi hỏi sự gây ra nhu cầu tái
thiết. Ở cấp độ tâm lý, nhu cầu có tính ổn định.
-
Tính tích cực của nhu cầu: Nhu cầu bao giờ cũng mang tính tích cực. Nó
thúc đẩy cá nhân tiến hành hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
Chính thông qua hoạt động mà tâm lý, ý thức, nhân cách của con người mới
1.2.2.2. Mối quan hệ giữa nhu cầu và nhận thức
Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó. Cái đó nó được cá
nhân nhận thức ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn về ý nghĩa của nó đối với sự
tồn tại và phát triển của cá nhân. Lúc đó, nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy
cá nhân hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu.
Nhận thức có một vị trí đặc biệt đối với nhu cầu:
-
Thứ nhất, nhận thức giúp nhu cầu chuyển thành động cơ thúc đẩy hành động.
-
Thứ hai, nhận thức giúp cá nhân tìm ra phương thức và cách thức thỏa mãn
nhu cầu phù hợp với nền văn hóa xã hôi đương đại.
-
Thứ ba, nhận thức giúp cá nhân xác định được các công cụ, điều kiện thỏa
mãn nhu cầu.
-Thứ tư, nhận thức giúp cá nhân lựa chọn nhu cầu cơ bản, thường trực trong
thời điểm hiện tại để thỏa mãn và kìm nén một số nhu cầu khác.
21