Một số giải pháp khuyến khích học sinh trung học phổ thông hứng thú và tích cực trong việc chuẩn bị trước bài học môn ngữ văn - Pdf 57

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHUYẾN KHÍCH HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HỨNG THÚ VÀ TÍCH CỰC TRONG VIỆC
CHUẨN BỊ TRƯỚC BÀI HỌC MÔN NGỮ VĂN
Lê Thị Ngọc Hân - trường THPT Chuyên Bến Tre
Nguyễn Thị Huỳnh Trang - trường THPT Chuyên Bến Tre
Nguyễn Thị Kim Thoa - trường THPT Chuyên Bến Tre
1. Tình trạng giải pháp đã biết:
- Thực trạng vấn đề:
Trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học là nhu cầu
thiết yếu đặt ra đối với những người đang làm nhiệm vụ giảng dạy. Vậy, làm thế
nào để học sinh ngày nay có tình yêu bộ môn xã hội và đặc biệt có thể học tốt Ngữ
Văn? Đó là vấn đề khiến nhiều giáo viên dạy Ngữ Văn trăn trở. Thiết nghĩ, muốn
học tốt môn Ngữ Văn, bên cạnh năng khiếu thì tự học là một yêu cầu bắt buộc với
học sinh. Các em không thể “học vẹt” một cách máy móc các tác phẩm văn học
mà cần phải tiếp nhận, cảm thụ văn chương bằng “một trái tim nóng” và “một cái
đầu lạnh”. Muốn thế, học sinh phải tự học, tự nghiên cứu trước mỗi bài học. Thế
nhưng, có một thực tế đáng buồn là rất nhiều học sinh học văn một cách máy móc,
thụ động, thiếu cảm xúc và sáng tạo dẫn đến chán ghét, thậm chí sợ hãi môn văn.
Rất nhiều học sinh còn thụ động trong soạn bài mới coi đó là nhiệm vụ bắt
buộc khi lên lớp. Một số em khi kiểm tra vở soạn thì rất đầy đủ, sạch đẹp, trình
bày khoa học nhưng thực chất là những bài sao chép trong sách Học tốt Ngữ văn
một cách máy móc mà không hiểu gì cả, có những em không soạn bài, hoặc soạn
chiếu lệ, qua loa dẫn đến tiết học thụ động, khả năng tiếp thu kiến thức của học
sinh cũng hạn chế. Điều này chúng tôi đã gặp ở nhiều năm, nhiều lớp học sinh.
Chính vì thế, chúng tôi thiết nghĩ việc khuyến khích học sinh tự học, tự
chuẩn bị trước khi đến lớp là một việc làm cần thiết và hiệu quả để nâng cao kết
quả của bộ môn cũng như giúp các em học văn dễ dàng và có cảm xúc hơn. Với đề
tài “Một số giải pháp khuyến khích học sinh trung học phổ thông hứng thú và

vai trò quan trọng của tự học trong môn Ngữ Văn, phát huy tính
tích cực, sáng tạo trong học tập của các em. Đặc biệt, dần dần
rèn luyện và hình thành thói quen tự học sáng tạo môn Ngữ văn
cho học sinh.
- Tính mới của đề tài: từ việc vận dụng kiến thức lý thuyết về
tổ chức hoạt động dạy học, đưa ra các hình thức hướng dẫn tự
học, tự chuẩn bị bài trước Ngữ văn cụ thể cho từng dạng bài học
khác nhau, phát huy tính sáng tạo, khả năng cảm nhận của học
sinh.

2


- Nội dung giải pháp: Trên cơ sở tiếp thu lời nhận định vô cùng
quý báu: “Qua mỗi giờ văn học, thầy giáo có thể làm rung động
các em, làm cho các em yêu đời, yêu lẽ sống, và lớn lên thêm
một chút” cùng với những kiến thức hữu ích tiếp thu được từ tài
liệu tập huấn “Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo định hướng phát triển năng lực học sinh” môn Ngữ Văn –
NXB Hà Nội 2014, chúng tôi đã đút rút và áp dụng trên thực tế
những hoạt động cụ thể như sau để hướng dẫn học sinh tự học
Ngữ văn:
 Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi ở nhà
sau khi đã đọc văn bản
1. Nội dung giải pháp
- Mục đích của chính của giải pháp là giúp các em chủ động
hơn trong việc tìm hiểu bài học. Xuất phát từ thực tế:
+ HS có tâm lý ỷ lại, thụ động trong việc tìm hiểu bài học trước
ở nhà, nhất là đối với môn Văn và các môn khoa học xã hội khác.
Mặt khác, giáo viên khi đứng lớp thường có tâm lí dạy cho kịp bài,

Bước 2: Vận dụng bài soạn vào tiến trình bài học
- Đầu mỗi bài học, giáo viên thu lại những tờ ghi tổng hợp từ 4 tổ trưởng,
đọc trước lớp và cùng lớp giải quyết những vấn đề đặt ra (từ nhỏ đến lớn), nếu có
sự trùng ý tưởng giữa các tổ thì chỉ thông qua một lần.
- Đầu tiên, cho học sinh phát biểu ý kiến trả lời các câu hỏi của bạn mình đặt
ra, cho các em tự do tranh luận, càng tạo ra được tính tranh luận càng tốt.
- Sau đó, giáo viên tổng kết lại có bao nhiêu vấn đề còn vướng chưa có câu
trả lời xác đáng, ghi ra bảng phụ (học sinh nên ghi chép vào vở soạn), sau đó bắt
đầu bài học. Khi bài học đi đến những phần nội dung có liên quan đến những vấn
đề được đặt ra trước đó mà học sinh chưa tìm được câu trả lời, giáo viên bằng kinh
nghiệm và bản lĩnh nghề nghiệp của mình, hướng học sinh đi đến lời giải thích
hợp lí nhất, không áp đặt, mà phải chỉ ra cho các em những cơ sở vững vàng theo
tiêu chí càng bám nhiều vào cơ sở văn bản thì sự giải quyết càng thuyết phục (vì
mọi thứ bắt đầu từ việc đọc văn bản chứ không phải là những kiến thức ngoài văn
bản).
2. Phạm vi ứng dụng
Tất cả các lớp mà giáo viên có tham gia giảng dạy.
3. Ví dụ qua một bài học cụ thể
Sau đây là một minh họa cho giải pháp từ một bài học cụ thể:
■ Bài học: ĐỌC TIỂU THANH KÍ (Độc Tiểu Thanh kí) của tác giả Nguyễn
Du
■ Tiến hành ở lớp 10H (2017 – 2020) trường THPT Chuyên Bến Tre
■ Tổng kết những câu hỏi ghi nhận được từ 4 tổ: ở đây chỉ minh họa một vấn
đề (vì dung lượng trình bày có hạn), để thấy được tiến trình hỏi và trả lời để đi đến
điểm cần ghi nhận của bài học.
- Tổ 1:
+ Cẩm Thi: Tại sao nội dung bài thơ là khóc cho nàng Tiểu Thanh mà cuối bài
thơ lại khóc cho mình “khấp Tố Như”?
Học sinh 1 trả lời: Vì bài thơ này Nguyễn Du vừa khóc cho Tiểu Thanh, vừa
khóc cho mình

diễn biến khá phức tạp. Một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến tâm
lý các em là môi trường xã hội. Một số không nhỏ học sinh hiện nay còn quá
ham chơi, xem nhẹ việc học, lười học, chán học, ... Vì vậy, cùng với các bậc
phụ huynh, tôi luôn ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình là thường
giáo dục tư tưởng để các em có cái nhìn đúng đắn hơn về tầm quan trọng của
việc học tập tích cực nói chung và việc soạn bài môn Ngữ Văn nói riêng. Từ
đó, học sinh chú trọng hơn đến nhiệm vụ của mình và tích cực hơn trong học
tập.
- Bước 2: Tách thang điểm 10 trong cột điểm kiểm tra miệng thành hai cột
nhỏ hơn. Trong đó, phần bài cũ là 7 điểm, 3 điểm còn lại cho phần soạn bài
mới. Trong 7 điểm đó, giáo viên lại chia thành hai phần. Một cho phần lí
thuyết, chiếm 5 điểm. Phần còn lại học sinh sẽ được 2 điểm nếu có làm bài
tập. Đối với một số bài học không có bài tập về nhà thì thang điểm 7 đó

5


thuộc về lí thuyết. Để có được trọn 3 điểm trên là không dễ nếu giáo viên
chỉ yêu cầu học sinh trả lời chính xác những câu hỏi trong phần Hướng dẫn
học bài thuộc SGK. Vì thế, căn cứ vào từng câu hỏi đó, giáo viên “giảm
nhẹ” yêu cầu bằng những câu hỏi dễ hiểu hơn nhưng về cơ bản vẫn đảm bảo
được những kiến thức cơ bản của đơn vị bài học.
Giải pháp trên được thực hiện cụ thể theo biểu mẫu sau:
ST
HỌ VÀ TÊN BÀI CŨ (7Đ)
BÀI
TỔNG GHI CHÚ
LT
BT
T

còn khá xa lạ với khả năng tư duy của học sinh. Do đó, để hiểu và
trả lời những câu hỏi đó là cả một vấn đề. Vì vậy để các em học
6


sinh có ít nhiều hứng thú với việc soạn bài, giáo viên cần “gia
công” lại một số câu hỏi theo hướng đơn giản hóa, dễ hiểu, gần
gũi hơn với khả năng của các em và phù hợp với tiến trình dạy
học nhưng vẫn đảm bảo đúng yêu cầu kiến thức kỹ năng của bài.
c. Các bước tiến hành:
*Bước 1: Giáo viên tự soạn một hệ thống câu hỏi sao cho phù hợp đặc trưng của
từng phân môn khác nhau: đọc văn, tiếng Việt, làm văn. Có khi có thể sử dụng lại
hệ thống câu hỏi SGK, có khi cần thêm hoặc thay thế bằng hệ thống câu hỏi khác.
 Đối với phân môn Đọc hiểu văn bản:
- Văn xuôi:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kĩ nội dung văn bản và gạch dưới trong
SGK những chi tiết quan trọng.
+ Lưu ý học sinh xem những chú thích ở cuối các trang thuộc văn bản trên.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu lời nói, cử chỉ, hành động và những
chi tiết thể hiện thái độ của nhân vật cộng với việc phân tích một số biện pháp
nghệ thuật. Qua đó, rút ra nhận xét chung về tính cách của nhân vật.
+ Đọc kỹ và trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa dựa vào những dẫn
chứng trong nội dung bài học.
- Thơ:
+ Giáo viên yêu cầu học sinh học thuộc lòng thơ trước khi đến lớp mới có
thể phân tích cảm thụ tốt hình ảnh thơ.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích từ ngữ, nghệ thuật miêu tả, các
biện pháp tu từ thể hiện tư tưởng, tình cảm của nhà thơ để trả lời các câu hỏi trong
sách giáo khoa.
+ Yêu cầu học sinh giải nghĩa một số từ ngữ hay, khó trong tác phẩm (có thể

dẫn một số câu hỏi cho các em chuẩn bị:
- Nhân vật Mị khiến em nghĩ đến nhân vật nào trong văn học hiện đại mà em
đã từng học? hãy so sánh?
- Âm thanh tiếng sáo gọi bạn đầu làng đã thức tỉnh điều gì ở Mị? Âm thanh
này gợi ta nhớ đến âm thanh nào trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao (Âm
thanh đã góp phần làm thức tỉnh phần Người trong Chí Phèo)?
- Nhận xét về chi tiết kết thúc tác phẩm so với kết thúc tác phẩm Chí Phèo?
 Giải pháp 4: Có thể khuyến khích học sinh soạn bài
ngay trên sách giáo khoa
a. Phạm vi áp dụng: có thể áp dụng cho tất cả các đơn vị bài học, nhưng
hiệu hiệu quả cho những bài lý thuyết: Lịch sử văn học, Lý luận văn học; Tiếng
Việt, Tập làm văn; đối với những bài đọc - hiểu văn bản, cần kết hợp soạn trong
SGK và trên vở bài soạn.
b. Mục đích, yêu cầu: để tiết kiệm thời gian có thể hướng dẫn học sinh soạn
ngay trong SGK, đồng thời sẽ giúp các em nhớ lâu kiến thức và dễ dàng hơn trong
quá trình học bài. Soạn bài theo phương pháp này cần ghi chú ngắn gọn nhưng
trọng tâm.

8


c. Các bước tiến hành:
*Bước 1: giống như soạn bài trên tập bài soạn, giáo viên cung cấp cho học sinh hệ
thống câu hỏi và yêu cầu học sinh thực hiện
*Bước 2: học sinh trả lời câu hỏi bằng cách gạch chân những ý chính trong SGK
hoặc ghi chú ngay bên cạnh những từ ngữ, chi tiết thể hiện được nội dung trả lời
cho câu hỏi, yêu cầu của giáo viên.
*Bước 3: giáo viên kiểm tra việc soạn bài của học sinh trên SGK (phát hiện những
trường hợp gạch chân qua loa, đại khái để nhắc nhở)
d. Ví dụ minh hoạ

thể nắm được nội dung bài thơ, học sinh có thể đặt câu hỏi cho các bạn. Sau
đó lớp sẽ nhận xét và giáo viên rút lại.
Khi dạy bài “Những yêu cầu sử dụng tiếng Việt”, chúng tôi yêu cầu lớp
chia nhóm thiết kế trò chơi liên quan đến những yêu cầu về ngữ âm, chữ
viết; ngữ pháp, …

10


Khi dạy chùm bài ca dao, chúng tôi yêu cầu các em chuẩn bị tái hiện lại
sức sống của ca dao – dân ca trong đời sống người Việt; yêu cầu các nhóm
trình bày cảm nhận về những bài ca dao trong SGK

5. Hiệu quả đạt được do áp dụng sáng kiến:
Học sinh tái hiện lại cảnh hát
Học sinh trình bày cảm nhận
- Tiếnđối
hànhđáp
áp dụng
giải
pháp
trên
từ
đầu
năm
học nàyca
đến
nay,“Thân
chúng tôi
đã

làm quen với quá trình học đại học sắp tới (chủ yếu là tự học).
 Học sinh chủ động hơn trong học tập, tích cực hơn trong việc học của mình,
đặc biệt thấy việc soạn bài môn Ngữ Văn không quá nhàm chán, nặng nề; dần
hứng thú với môn học.
- Bằng cách làm này, giáo viên đã thật sự tạo được sự hứng thú cho khá
nhiều người học thậm chí là có cả niềm đam mê ở một số học sinh. Khi đã đạt
được điều đó cũng có nghĩa là điểm số các em đạt được cũng được cải thiện đáng
kể.
- Kết quả trên mặc dù không phải là kết quả tốt nhất nhưng cũng phần nào
thể hiện sự nổ lực của bản thân và tính khả thi của giải pháp mà chúng tôi đã thực
hiện trong từ đầu năm học này cho đến nay. Điều đó cho thấy rằng tôi phải không
ngừng tìm hiểu, nắm bắt và vận dụng có sáng tạo những chương trình đổi mới giáo
dục của ngành cho công việc này trong thời gian sắp tới.
5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần
đầu: giáo viên trong nhóm viết sáng kiến
6. Tài liệu kèm theo: không có.
Bến Tre, ngày 14 tháng 03 năm 2018

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status