Nghiên cứu nhân giống cây chuối đỏ Dacca (Musa acuminata) bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro - Pdf 57

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ NGỌC THƯƠNG

NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÂY
CHUỐI ĐỎ DACCA (MUSA ACUMINATA)
BẰNG KỸ THUẬT NUÔI CẤY IN VITRO

Đà Nẵng – Năm 2018


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ NGỌC THƯƠNG

NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÂY
CHUỐI ĐỎ DACCA (MUSA ACUMINATA)
BẰNG KỸ THUẬT NUÔI CẤY IN VITRO

Ngành: Công nghệ sinh học

Người hướng dẫn: TS. Võ Châu Tuấn

Đà Nẵng – Năm 2018


LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH ẢNH
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề: ..............................................................................................................1
2. Mục tiêu...................................................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...........................................................2
3.1. Ý nghĩa khoa học ............................................................................................ 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................................ 2
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................... 3
1.1. GIỚI THIỆU VỀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG IN VITRO Ở THỰC VẬT .......3
1.1.1. Sơ lược về kỹ thuật nhân giống in vitro ở thực vật ...................................... 3
1.1.2. Cơ sở khoa học ............................................................................................. 3
1.1.3. Các bước nhân giống in vitro ....................................................................... 4
1.1.4. Ưu, nhược điểm của nhân giống vô tính bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào 6
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhân giống in vitro ............................................ 7
1.2. NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÁC LOÀI CHUỐI BẰNG KỸ THUẬT
NHÂN GIỐNG IN VITRO ........................................................................................ 12
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới ....................................................................... 12
1.2.2. Các nghiên cứu trong nước ......................................................................... 14
3.1. TỔNG QUAN VỀ CÂY CHUỐI ĐỎ DACCA .................................................17
3.1.1. Đặc điểm sinh học....................................................................................... 17
3.1.2. Giá trị sử dụng ............................................................................................ 17
3.1.3. Các nghiên cứu trên đối tượng nghiên cứu ................................................. 17
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 19
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ...........................................................................19
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ..............................................................................19
2.3. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN .........................................................................19
2.3.1. Phương pháp khử trùng mẫu vật và tái sinh chồi ...................................... 20


: Diclorophenoxyacetic acid

AC

: Active carbon (than hoạt tính)

BA

: 6-benzyl adenine

BAP

: 6-benzylaminopurine

B5

: Gamborg (1968)

Cs

: Cộng sự

CW

: Coconut water (nước dừa)

ĐHST : Điều hòa sinh trưởng
IAA



DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng

Tên bảng

Trang

Ảnh hưởng thời gian khử trùng đến hiệu quả khử trùng
3.1.

3.2.

cây chuối đỏ Dacca 1 tháng tuổi sau 4 tuần nuôi cấy
Ảnh hưởng thời gian khử trùng đến hiệu quả khử trùng
cây chuối đỏ Dacca 3 tháng tuổi sau 8 tuần nuôi cấy

22

23

Ảnh hưởng của BA đến khả năng nhân chồi in vitro
3.3.

cây chuối đỏ Dacca sau 4 tuần nuôi cấy

25

Ảnh

Cây chuối đỏ Dacca ngoài tự nhiên

2.2.

Sơ đồ thí nghiệm

Trang
20
23

Chồi chuối đỏ Dacca 1 tháng tuổi sau hiệu quả khử
3.1.

trùng bằng cồn 70o sau 4 tuần nuôi cấy

22

3.2.

Chồi chuối đỏ Dacca 3 tháng tuổi sau hiệu quả khử
in vitro cây chuối mốc sau 4 tuần nuôi cấy
trùng bằng cồn 70o sau 8 tuần nuôi cấy

23

3.3.

Ảnh hưởng của BA đến khả năng nhân nhanh chồi in
vitro cây chuối đỏ Dacca sau 4 tuần nuôi cấy cấy


các vườn gia đình. Chuối cung cấp cho hàng triệu người khắp các vùng nhiệt đới và
cận nhiệt cùng với các thực phẩm chủ yếu và được cho là một loại trái cây xuất
khẩu rộng lớn trên thế giới. Hiện nay chuối được trồng trong 150 quốc gia trên thế
giới trên khu vực 4.84 triệu ha, cung cấp 95.6 triệu tấn [50]. Chuối chiếm xấp xỉ
44% sản lượng trái cây tươi và là cây ăn trái quan trọng thứ hai trên thế giới, ở
Châu Phi chiếm khoảng 35% sản lượng trên thế giới [53]. Ở nước ta, tại khu vực
miền Nam Việt Nam, nơi có điều kiện trồng chuối thuận lợi, sản lượng chuối có thể
đạt 1 triệu tấn mỗi năm, diện tích trên 5 vạn ha trong số 8 vạn ha của cả nước [14].
Mặt khác, các bộ phận của chuối đều có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau
mang lại những lợi ích thiết thực cho con người, đặc biệt có thể làm thuốc chữa các
bệnh khác nhau như nõn chuối có tác dụng cầm máu nhanh [37]. Quả chuối có giá
trị dinh dưỡng khá cao và được chế biến ra nhiều sản phẩm khác nhau như chuối
sấy, mứt chuối, bánh chuối, kem chuối… đa dạng phục vụ cho giá trị dinh dưỡng
cũng như tín ngưỡng của người Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
Cây chuối đỏ Dacca có tên khoa học là Musa acuminata ‘Red Dacca’ thuộc
chi Musa được tìm thấy ở Úc và Trung, Nam Mỹ [53], [39] (đề tài nghiên cứu về
giống chuối đỏ Dacca nguồn gốc từ Úc). Chúng nhỏ hơn và có vỏ dày so với các
loại thông thường, thịt chuối có màu trắng kem cho đến màu hồng với hương vị
chuối thường đặc trưng hòa lẫn vị mâm xôi. Đây là món ăn yêu thích của vùng
Trung Mỹ với hơn 6,4 tỉ đô la tiêu thụ mỗi năm. Chuối đỏ cũng rất tốt cho sức khỏe
với hàm lượng 100 calo trên 10gr, đáp ứng 16% chất xơ (4gr), giàu Kali, vitamin
B6 và vitamin C. Ngoài ra chuối đỏ còn có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim, tiểu
đường type 2 [51].
Trong tự nhiên, chuối nói chung được nhân giống theo phương pháp nhân
giống sinh dưỡng, nghĩa là bằng cách dùng cây chuối con vốn phát triển từ các chồi
bên có nguồn gốc từ thân hành với một hay nhiều chồi được sử dụng [32].
Cây chuối được nhân giống theo phương pháp nhân giống sinh dưỡng có mức
nhân giống thấp, thường sinh trưởng kém, phát triển chậm, cây không đồng đều,



3

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. GIỚI THIỆU VỀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG IN VITRO Ở THỰC VẬT
1.1.1. Sơ lược về kỹ thuật nhân giống in vitro ở thực vật
Nuôi cấy mô (tissue culture) là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình nuôi cấy khử
trùng in vitro các bộ phận tách rời khác nhau của thực vật. Kỹ thuật nuôi cấy mô
dùng cho cả hai mục đích nhân giống và cải thiện di truyền (ví dụ: giống cây trồng),
sản xuất sinh khối các sản phẩm hóa sinh, bệnh học thực vật, duy trì và bảo quản
các nguồn gen quý… Các hoạt động này được bao hàm trong thuật ngữ công nghệ
sinh học [7].
Thuật ngữ nhân giống in vitro (in vitro propagation) hay còn gọi là vi nhân
giống (micropropagation) được sử dụng đặc biệt cho việc ứng dụng các kỹ thuật
nuôi cấy mô để nhân giống thực vật, bắt đầu bằng nhiều bộ phận khác nhau của
thực vật có kích thước nhỏ, sinh trưởng ở điều kiện khử trùng trong các ống nghiệm
hoặc trong các loại bình nuôi cấy khác [7].
Trong thực tế, các nhà vi nhân giống (micropropagators) dùng thuật ngữ nhân
giống in vitro và nuôi cấy mô thay đổi cho nhau để chỉ mọi phương thức nhân giống
thực vật trong điều kiện khử trùng. Thuật ngữ đồng nghĩa là nuôi cấy in vitro (in
vitro culture) [19].
Nhân giống in vitro và nuôi cấy mô bắt đầu bằng các mảnh cắt nhỏ của thực
vật, sạch vi sinh vật, và được nuôi cấy khử trùng. Thuật ngữ đầu tiên dùng trong
quá trình nhân giống là explant (mẫu vật) tương đương với các phương thức nhân
giống khác là cutting (cành giâm), layer (cành chiết), scion (cành ghép) hoặc seed
(hạt) [19].
1.1.2. Cơ sở khoa học
1.1.2.1. Tính toàn năng của tế bào
Haberlant (1902) là người đầu tiên đề xướng ra phương pháp nuôi cấy mô tế
bào thực vật để chứng minh cho tính toàn năng của tế bào. Theo ông mỗi một tế bào
bất kì của một cơ thể sinh vật đa bào đều có khả năng tiềm tang để phát triển thành

triển của cơ thể (cơ chế điều hòa hoạt động của gen) [53].
Về bản chất của sự phân hóa và phản phân hóa là quá trình hoạt hóa gen. Do
thông tin về vị trí của tế bào, tương quan dinh dưỡng và tương quan hormone quy
định. Trong đó quan trọng nhất là thông tin về vị trí của tế bào, khi nằm trong một
cơ thể các tế bào có sự ức chế lẫn nhau, khi được tách rời và trong điều kiện nhất
định thì các gen được hoạt hóa dễ dàng hơn. Đó là cơ sở nền tảng cho việc nuôi cấy
mô, tế bào [11].
1.1.3. Các bước nhân giống in vitro
Bước 1: Chọn lọc và chuẩn bị cây mẹ


5
Trước khi tiến hành nhân giống in vitro cần chọn lọc cẩn thận các cây mẹ
(cây cho nguồn mẫu nuôi cấy). Các cây này cần sạch bệnh, đặc biệt là bệnh virus và
ở giai đoạn sinh trưởng mạnh. Việc trồng các cây mẹ trong điều kiện môi trường
thích hợp với chế độ chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hiệu quả truớc khi lấy mẫu sẽ
làm giảm tỷ lệ mẫu nhiễm, tăng khả năng sống và sinh trưởng của mẫu cấy in vitro
[19].
Bước 2: Tạo vật liệu khởi đầu
Là giai đoạn khử trùng mẫu vào nuôi cấy in vitro. Giai đoạn này cần đảm
bảo các yêu cầu: tỷ lệ nhiễm thấp, tỷ lệ sống cao, mô tồn tại và sinh trưởng tốt.
Kết quả giai đoạn này phụ thuộc vào rất nhiều vào cách lấy mẫu, tuỳ thuộc
vào mục đích khác nhau, loại cây khác nhau để nuôi cấy phù hợp. Khi lấy mẫu cần
chọn đúng mô, đúng giai đoạn phát triển của cây, quan trọng nhất là đỉnh chồi ngọn,
đỉnh chồi nách sau đó là đỉnh chồi hoa và cuối cùng là đoạn thân, mảnh lá.
Cần thiết phải khử trùng mẫu trước khi đưa vào nuôi cấy bằng hoá chất khử
trùng để loại bỏ các vi sinh vật bám trên bề mặt mẫu cấy. Chọn đúng phương pháp
khử trùng sẽ đưa lại tỷ lệ sống cao và chọn môi trường dinh dưỡng thích hợp sẽ đạt
được tốc độ sinh trưởng nhanh. Thường dùng các chất: HgCl2 0,1% xử lý trong 510 phút, NaOCl hoặc Ca(OCl)2 5-7% xử lý trong 15-20 phút, hoặc H2O2, dung dịch
Br…

Bước 5: Thích ứng cây in vitro ngoài điều kiện tự nhiên
Để đưa cây từ ống nghiệm ra ngoài vườn ươm với tỷ lệ sống cao, cây sinh
trưởng tốt cần đảm bảo một số yêu cầu:
- Cây trong ống nghiệm đã đạt những tiêu chuẩn hình thái nhất định (số lá,
số rễ, chiều cao cây…)
- Cần có thời gian huấn luyện cây con (từ 1-2 tuần tuỳ từng loại cây) để
thích nghi với những thay đổi về nhiệt độ, độ ẩm, sâu bệnh bằng cách đặt bình cây
ngoài điều kiện tự nhiên, mở nắp bình nuôi…
- Có giá thể tiếp nhận cây in vitro thích hợp: giá thể sạch, tơi xốp, thoat
nước. Phải chủ động điều chỉnh được độ ẩm, sự chiếu sánh của vườn ươm cũng như
có chế độ dinh dưỡng thích hợp [19].
1.1.4. Ưu, nhược điểm của nhân giống vô tính bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế
bào
1.1.4.1. Ưu điểm
Theo E.F. Gerge (1993) cho biết ưu điểm của nhân giống in vitro [9].
- Phương pháp nhân giống in vitro có khả năng hình thành một số lượng lớn
cây giống từ một mô, cơ quan với kích thước nhỏ 0,1 -10 mm.


7
- Hoàn toàn tiến hành trong điều kiện vô trùng nên cây giống tạo được sạch
bệnh
- Sử dụng vật liệu sạch virus có khả năng nhân được các giống sạch bệnh
- Có khả năng điều chỉnh các tác nhân ảnh hưởng đến khả năng tái sinh cây
như thành phần dinh dưỡng, nhiệt độ, các chất điều hòa sinh trưởng … theo ý
muốn.
- Hệ số nhân giống khá cao, có khả năng sản xuất lượng lớn cây giống trong
một thời gian ngắn.
- Có thể tiến hành quanh năm, không chịu sự chi phối của các nhân tố môi
trường.

NO3- (nitrat). Trong đó, việc hấp thụ NO3- của các tế bào thực vật tỏ ra có hiệu quả
hơn so với NH4+. Nhưng đôi khi NO3- gây ra hiện tượng “kiềm hóa” môi trường vì
vậy giải pháp sử dụng phối hợp cả hai nguồn nitơ với tỷ lệ hợp lý được sử dụng
rộng rãi nhất.
+ Các nguyên tố đa lượng: bao gồm sáu nguyên tố: nitơ (N), phốt pho(P), kali
(K), canxi (Ca), magiê (Mg) và lưu huỳnh (S), tồn tại dưới dạng muối khoáng, là
thành phần của các môi trường dinh dưỡng khác nhau, được sử dụng ở nồng độ trên
30 ppm (tỷ lệ phần nghìn). Môi trường nuôi cấy phải chứa ít nhất 25 mmol/L nitrate
và potassium. Các nguyên tố chính khác, như: Ca, P, S và Mg, nồng độ thường dùng
trong khoảng 1-3 mmol/L [19].
Các môi trường khoáng khác nhau có hàm lượng và thành phần các chất khoáng
khác nhau, ví dụ thành phần và nồng độ khoáng của môi trường White hoặc Knop
khá nghèo nàn, nhưng lại rất giàu ở môi trường MS và B5. Việc lựa chọn thành phần
và hàm lượng khoáng cho một đối tượng nuôi cấy là rất khó đòi hỏi người làm công
tác nuôi cấy mô phải có những hiểu biết cơ bản về sinh lý thực vật đối với dinh
dưỡng khoáng.
+ Nhóm nguyên tố vi lượng: Fe, Cu, BO, Zn, Mn, Co, I… là các nguyên tố rất
quan trọng cho sự phát triển của mô và tế bào do chúng đóng vai trò quan trọng
trong các hoạt động của enzym. Chúng được dùng ở nồng độ thấp hơn nhiều so với
các nguyên tố đa lượng để đảm bảo sinh trưởng và phát triển bình thường của cây
[15].
+ Các vitamin: Mặc dù cây nuôi cấy mô có thể tự tổng hợp được vitamin,
nhưng không đủ cho nhu cầu (Czocnowki, 1952). Do đó, để cây sinh trưởng tối ưu
một số vitamin nhóm B được bổ sung vào môi trường với lượng nhất định tuỳ theo
từng hệ mô và giai đoạn nuôi cấy. Các vitamin inositol, B1 (thiamin) và B6
(pyridocin) là những vitamin cơ bản nhất thường dùng trong môi trường nuôi cấy
với nồng độ thấp khoảng 0,1-1 mg/L Linsmaier và Skoog đã khẳng định vitamin


9

chế sự vươn cao của chồi nhưng lại ảnh hưởng tốt tới sự sinh trưởng của mô sẹo.


10
Chính vì vậy mà trong phòng thí nghiệm thường sử dụng ánh sáng của đèn huỳnh
quang với cường độ 2000 - 3000 lux.
+ Nhiệt độ: là nhân tố có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phân chia tế bào và các quá
trình trao đổi chất của mô nuôi cấy. Nhiệt độ cho phép tế bào thực vật có thể sinh
trưởng và phát triển trong điều kiện in vitro là từ 23°C đến 29°C (Endress 1994;
Fowler 1988).
+ Độ ẩm: Trong các bình nuôi cấy thì độ ẩm tương đối luôn bằng 100% nên ta
không cần phải quan tâm nhiều đến độ ẩm khi nuôi cấy mô [7].
1.1.5.3. Điều kiện vô trùng
Bất kì hình thức nuôi cấy in vitro nào cũng đều cần có điều kiện vô trùng. Nếu
điều kiện này không được đảm bảo thì mẫu nuôi cấy hoặc môi trường sẽ bị nhiễm
nấm hoặc vi khuẩn, mô nuôi cấy sẽ bị chết, các thí nghiệm ở giai đoạn sau sẽ bị
ngừng lại. Muốn đảm bảo điều kiện vô trùng cần có phương pháp vào mẫu và các
thao tác đúng quy cách, phương tiện khử trùng hiện đại, buồng, bàn nuôi và dụng
cụ nuôi cấy phải vô trùng [7].
1.1.5.4. Các chất điều hòa sinh trưởng
Ở thực vật, các chất điều hòa sinh trưởng còn được gọi là các phytohormon,
có thể chia các chất phytohormon ra thành 5 nhóm: auxin, cytokinin, giberillin,
ethylen, abscisic acid. Các chất ĐHST được sử dụng riêng rẽ hay phối hợp, nồng
độ sử dụng cao hay thấp là yếu tố quyết định đến sự thành công của nghiên cứu.
Auxin và cytokinin là 2 nhóm chính thường được sử dụng trong nuôi cấy mô
thực vật. Nhóm auxin gồm các chất IAA, IBA, NAA, 2,4-D. Trong đó, IAA ít
được sử dụng do kém bền vững với nhiệt và ánh sáng, IBA, NAA, 2,4-D thường
được sử dụng ở nồng độ thấp 0,1 – 2 mg/L, còn IAA thường được sử dụng ở
nồng độ khá cao từ 1 - 30 mg/L [13]. Auxin thường được sử dụng để kích thích
sự phân chia tế bào, hình thành rễ, hình thành mô sẹo, phân chia rễ phụ… [15].

phôi, ức chế tạo rễ phụ (Picrick, 1987) cũng như tạo chồi phụ (Street, 1973). Ngoài
ra, nó còn có tác dụng ảnh hưởng đến sự ra hoa của một số thực vật và có tác dụng
rút ngắn thời gian sinh trưởng dinh dưỡng của cây.
+ Abscisic acid (ABA): là chất ức chế sinh trưởng tự nhiên nhưng vẫn được
dùng trong nuôi cấy tế bào in vitro. ABA có ảnh hưởng âm tính đến mô nuôi cấy,
khi ABA tương tác với BAP cho hệ số nhân chồi cao hơn khi dùng BAP riêng rẽ
[6]. ABA được sử dụng để gây phôi soma trong hệ thống nuôi cấy mô thực vật và
trong nghiên cứu giống cây tổng hợp. Chống thoát hơi nước, tăng thời gian thích
ứng với điều kiện khí hậu của cây nuôi cấy mô và làm giảm sự mất nước của lá
[44]. Ethylen: có biểu hiện tác động hai chiều, nó kìm hãm sự hình thành chồi ở giai
đoạn sớm nhưng lại kích thích sự phát triển chồi ở giai đoạn muộn. Trong một số
trường hợp, ethylen có tác dụng kích thích hình thành rễ nhưng một số trường hợp
nó lại kìm hãm quá trình này [15].


12

1.2. NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG CÁC LOÀI CHUỐI BẰNG KỸ THUẬT
NHÂN GIỐNG IN VITRO
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Chuối là loại cây ăn quả rất gần gũi và có giá trị, đã góp một phần đáng kể
phục vụ ngành sản xuất chuối xuất khẩu. Vì vậy, kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào nhân
giống chối đã được nghiên cứu, ứng dụng từ rất lâu tại nhiều nước trên thế giới.
Rahman và cs (2004) nghiên cứu trên ảnh hưởng của chất ĐHST BAP và
NAA trên giống chuối BARI-I ở nồng độ BA (0,1,2,3,4,5 và 6 mg/L) riêng rẽ và kết
hợp BA (0, 4 và 5 mg/L), NAA (0; 0,5; 1; 1,5 và 2 mg/L). Số lượng chồi tái tạo đạt
cao nhất (4,52 chồi) với chiều cao thân cao nhất đạt 3,62 cm ở môi trường MS cơ
bản bổ sung 4 mg/L BAP + 1,5 mg/L NAA [43].
Năm 2006, Akbar và cs nghiên cứu trên Musa sapientum L., sự hình thành rễ
sau 2 tuần nuôi cấy khi chúng được tách riêng lẻ và nuôi cấy ở môi trường MS bán

mô. Kết quả cho thấy môi trường MS cơ bản bổ sung 6,0 mg/L BAP cho sự tăng
trưởng số lượng chồi cao nhất và sự tương tác khi kết hợp 6 mg/L BAP + 0,35 mg/L
IAA cho thấy sự sinh trưởng khỏe của chồi. Ở giai đoạn ra rễ, 2,0 mg/L IBA tác
động mạnh mẽ nhất đến số lượng và chiều dài của rễ so với các nồng độ khác [38].
Năm 2013, Iqbal và cs nghiên cứu nhân giống in vitro trên đối tượng Musa
saientum L.. Sau khi nuôi cấy trên môi trường MS cơ bản bổ sung các chất ĐHST
cho thấy môi trường MS bổ sung BAP + IAA (5,0 + 1,0 mg/L) + 10% CW cho hiệu
quả nhân chồi cao nhất, môi trường MS bổ sung 2mg/L IAA cho hiệu quả ra rễ cao
nhất [34].
Năm 2013, Demissie nghiên cứu ảnh hưởng của BAP và NAA đối với việc tái
tạo và nhân giống chuối (Musa spp.) cv. Matoke. Callus được hình thành sau 28
ngày, sau đó phát triển thành cây con. Trong số các nồng độ khác nhau, 5 mg/L
BAP + 1,0 mg/L NAA cho thấy sự sinh trưởng cao nhất là 1,00; 1,67; 1,75 và 3,08
chồi trên mỗi cụm lần lượt sau 10, 20, 30 và 60 ngày. Số lượng chồi tốt đạt được ở
mức 5 mg/L BAP + 0,5 mg/L NAA ở sau 60 ngày là 3,08. Chồi dài nhất được sản
xuất ở nồng độ 5 mg/L BAP + 1.0 mg/L NAA (0,43, 2,42, 2,63 và 3,42 chồi trên
mỗi cây con) lần lượt sau 10, 20, 30 và 60 ngày. Số lượng lá tối đa sau 10, 20, 30 và
60 ngày được sản xuất trên môi trường được bổ sung với 5,0 mg/L BAP và 0,50
mg/L NAA là 1,67, 2,67, 3,67 và 4,33 cho mỗi lần cấy. Số lượng lá thấp nhất thu
được từ đối chứng. Lá dài nhất được tạo ra bởi nồng độ 5,0 mg/L BAP + 1,0 mg/L
NAA (1,52, 2,27, 2,70 và 3,13 cm) ở lần lượt sau 10, 20, 30 và 60 ngày [29].
Năm 2014, Ahmed và cs nghiên cứu nhân giống chuối (Musa sp.) cv. Grand
Naine bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro. Sử dụng HgCl2 (0,1%) trong 6 phút cho tỷ lệ
nhiễm ít nhất với khả năng sống sót cao nhất. Môi trường MS bổ sung BAP


14
4.00mg/L và IAA 2.00 mg/L cho tỷ lệ cảm ứng mẫu cao nhất với thời gian ít nhất.
Môi trường MS bổ sung BAP 4.00 mg/L và IAA 2.00 mg/L cho tỷ lệ ra chồi cao
nhất. Tỷ lệ ra rễ cao nhất khi nuối cấy trên môi trường ½ MS bổ sung IBA 1.00


15
nồng độ auxin được áp dụng. Ở chuối cau mẫn, 0,1 mg/L 2,4-D kích thích sự hoạt
hóa tế bào để tạo mô phân sinh rễ trong khi 0,4 mg/L NAA kích thích sự tăng
trưởng của các tế bào mô phân sinh để hình thành rễ thật sự [18].
Năm 2014, Hà Minh Tuân và cs, Đại học nông Lâm- Đại học Thái Nguyên
xác định kỹ thuật vào mẫu in vitro hiệu quả cho giống chuối Tây bản địa Bắc Kạn
(Musa x Paradisiaca). Bốn thí nghiệm trong phòng được triển khai nhằm đánh giá
ảnh hưởng của mẫu cây con từ các vườn cây mẹ có tuổi khác nhau, vị trí lấy mẫu và
các nồng độ của chất khử trùng H2O2, HgCl2 đến tỷ lệ sống và tỷ lệ tái sinh chồi.
Kết quả cho thấy, dùng chồi đỉnh của vườn cây mẹ 03 tháng tuổi để vào mẫu đem
lại hiệu quả cao nhất. Việc sử dụng hóa chất khử trùng H2O2 và HgCl2 không cải
thiện tỷ lệ tái sinh chồi, trong khi nồng độ hóa chất cao có thể giảm tỷ lệ tái sinh
chồi của giống chuối nghiên cứu [3].
Năm 2015, Huỳnh Thị Bích Vân, đại học sư phạm Đà Nẵng đã nghiên cứu
thành công nhân giống cây chuốc mốc (Musa paradisiaca L.) bằng kĩ thuật nuôi
cấy in vitro. Khử trùng mẫu bằng cồn 70o trong 3 phút cho hiệu quả khử trùng tốt
nhất với tỉ lệ sống sót đạt 100%, sau 4 tuần nuôi cấy. Môi trường MS có 3%
sucrose, 0,8% agar bổ sung 5 mg/L BA và 0,01 NAA là môi trường nhân nhanh
chồi in vitro tốt nhất từ chồi đỉnh chuối mốc, với hệ số nhân chồi cao đạt 7,8
chồi/mẫu, chiều cao đạt 4 cm, số lá đạt 3,7 lá/chồi sau 4 tuần nuôi cấy. Môi
trường MS có 3% sucrose, 0,8% agar bổ sung 0,5 NAA thích hợp để tạo rễ in vitro.
Sau 2 tuần nuôi cấy, đạt 7,9 rễ/chồi, chiều dài rễ là 9,8 cm, cây con phát triển
tốt. Cây chuối mốc in vitro có tỉ lệ sống sót rất cao (đạt 100%) khi trồng ngoài
nhà lưới trên cả 3 giá thể cát + xơ dừa + phân chuồng hoai mục + trấu hun
(1:1:1:1), cát + xơ dừa + phân chuồng hoai mục (1:1:1) và cát + phân chuồng
hoai mục + trấu hun (1:1:1). Cây chuối mốc sinh trưởng tốt trên giá thể cát + xơ
dừa + phân chuồng hoai mục + trấu hun (1:1:1:1) sau 4 tuần trồng [4].
Năm 2017, Giảng viên Mai Hương Trà, đến từ Khoa Kỹ thuật hóa học và Môi
trường (Trường đại học Lạc Hồng) đã thực hiện khảo sát thành công ảnh hưởng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status