1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
“Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia, là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà
trường và các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học. Chuẩn bị cho trẻ vào lớp
một ở trường tiểu học là một trong những mục tiêu giáo dục toàn diện của giáo
dục mầm non, trong đó có việc chuẩn bị tiếng Việt.
Phần lớn trẻ em dân tộc thiểu số trước khi tới trường, lớp mầm non đều
sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Việt hoặc ít có môi
trường giao tiếp tiếng Việt” [4]. Với trường mầm non Điền Trung khi trẻ em
người dân tộc đi học đa số chưa thạo tiếng Việt. Nếu chưa hiểu tiếng Việt sẽ gặp
nhiều khó khăn trong giao tiếp, khi tham gia hoạt động giáo dục cũng như tiếp
thu kiến thức. Những rào cản về ngôn ngữ khiến các con ngại giao tiếp, không
hòa đồng, không thích tham gia các hoạt động và không muốn đi học. Trẻ em
dân tộc ở trường mầm non Điền Trung, huyện Bá Thước khi đến trường thích
trao đổi với nhau bằng tiếng mẹ đẻ và có thói quen giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ
trong hoạt động vui chơi, học tập và các hoạt động trong ngày. Hơn nữa môi
trường tiếng Việt tại gia đình, cộng đồng lại ít được sử dụng, vì nếu người lớn
mà sử dụng tiếng Việt thì bị coi là làm oai, oách thì sẽ bi tẩy chay, tính tự tôn
dân tộc rất cao.
Mặt khác ngay từ trong bụng mẹ các con đã được tiếp súc bằng tiếng dân
tộc được nghe những âm thanh quen thuộc. Khi bước ra một thế giới bên ngoài
thì được nghe những lời hát xường của dân tộc mường, hát ru em của dân tộc
thái. Hằng ngày trẻ giao tiếp với bố mẹ bằng tiếng mẹ đẻ vì vậy khi đến trường
trẻ được tiếp cận một môi trường khác cũng rất khó, làm sao để trẻ phát triển về
ngôn ngữ một cách toàn diện.
Dạy Tiếng Việt cho trẻ tuổi mầm non ở vùng dân tộc thiểu số có một ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Vốn tiếng Việt của trẻ phong phú thì sẽ giúp trẻ phát
triển nhân cách một cách toàn diện cả về ngôn ngữ, nhận thức, vận động, tình
cảm kĩ năng xã hội và thẩm mĩ. Đối với trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số,
tiếng Việt được coi là ngôn ngữ thứ hai của trẻ, trẻ vùng dân tộc thiểu số học
tiếng Việt cũng giống chúng ta học một ngoại ngữ nào đó, có rất nhiều khó khăn
tiếng Việt cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số tại trường mầm non Điền Trung,
huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Các giải pháp chỉ đạo việc thực hiện chuyên đề tăng cường tiếng Việt cho
trẻ em vùng dân tộc thiểu số tại trường mầm non Điền Trung, huyện Bá Thước,
tỉnh Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Tham khảo, nghiên
cứu Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 02/6/2016 của Chính phủ đã phê duyệt
Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân
tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025”, các tài liệu hướng dẫn
về tăng cường tiếng Việt cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số.
Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo thực hiện
các chuyên đề: Kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch
phù hợp với từng thời điểm, chủ đề, dự giờ góp ý các hoạt động trong ngày,
đánh giá theo giai đoạn.
Phương pháp thực nghiệm, áp dụng các giải pháp ở các lớp mẫu giáo
trường Mầm non Điền Trung, so sánh đối chứng: Các lớp mẫu giáo đầu năm và
các lớp mẫu giáo cuối năm.
Phương pháp phân tích: So sánh kết quả tăng cường tiếng Việt cho trẻ khi
chưa áp dụng các giải pháp với khi đã áp dụng các giải pháp tăng cường tiếng
Việt cho trẻ.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận.
Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 02/6/2016 của Chính phủ đã phê duyệt
Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân
tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025 với mục tiêu: Tập trung
tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học người dân tộc
thiểu số, đảm bảo các em có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để
2
cũng ảnh hưởng tới việc học tiếng Việt của trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu số.
Sự khác biệt về điều kiện sống của các nhóm dân tộc thiểu số có tác động
nhất định đối với việc học tiếng Việt của trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu số [5].
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Giao
tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác với một mục đích
nhất định nào đó. Khi giao tiếp người ta trao đổi tư tưởng tình cảm với nhau, tác
động đến nhau, những tư tưởng, trí tuệ của người này được truyền từ người này
đến người khác , từ thế hệ này đến thế hệ khác đó là nhờ ngôn ngữ, một trong
những động lực đảm bảo sự tồn tại của xã hội loài người.
Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy: Tư duy của con người – sự phản ánh
thế giới khách quan xung quanh chủ yếu được tiến hành dưới hình thức ngôn
ngữ. Ngôn ngữ là hình thức tồn tại, là phương tiện vật chất để thể hiện tư duy.
3
Về phương tiện này tư duy là cái được biểu hiện, còn ngôn ngữ là cái để biểu
hiện tư duy. Các kết quả của hoạt động tư duy (thuộc lĩnh vực tinh thần) bao giờ
cũng được khoác lên mình một cái vỏ vật chất làm cho người khác “thấy được”.
Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ có thể hình dung như hai mặt tờ giấy đã
có mặt này phải có mặt kia.
Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, là phương tiện để giao tiếp, là công cụ
để tư duy. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ giúp cho tư duy của trẻ phát triển và còn
là một phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện về nhân cách, đạo đức.
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người, nhờ có ngôn
ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau
những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những điều thầm kín…ngôn ngữ đã góp
phần đào tạo các em trở thành con người hoàn thiện.
Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ: Ngôn ngữ có vai trò rất
lớn trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ trước hết, ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ
nhận thức thế giớ xung quanh. Song sự lĩnh hội những tri thức đó lại không thể
động trí tuệ, vì vậy việc phát triển trí tuệ không tách rời việc phát triển ngôn
ngữ.
Vai trò ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức: Ở lứa tuổi mầm non, đặc
biệt là tuổi mẫu giáo, các cháu bắt đầu hiểu biết và lĩnh hội những khái niệm,
những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Tuy mới chỉ là những khái
niệm ban đầu nhưng lại vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định những nét
tính cách riệng biệt của mỗi con người trong tương lai. Muốn cho các cháu hiểu,
và lĩnh hội những khái niệm đạo đức này, chúng ta không thể thông qua những
hoạt động cụ thể hoặc qua những sự vật hiện tượng trực quan đơn thuần, mà
phải có ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà các cháu có thể hiện được đầy đủ những
nhu cầu và nguyện vọng đầy đủ của mình . Cũng nhờ có ngôn ngữ mà các bậc
cha mẹ, các nhà giáo dục có điều kiện hiểu con cháu mình hơn, để từ đó có thể
uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho các cháu những tình cảm và những hình vi
đạo đức trong sáng nhất. [7].
2.2. Thực trạng của vấn đề:
2.2.1. Thuận lợi:
- Nhà trường nhận được sự chỉ đạo sát sao của Phòng Giáo dục và Đào tạo
huyện Bá Thước trong việc thực hiện các nhiệm vụ.
- Cơ sở vật chất đáp ứng được với yêu cầu tối thiểu của việc thực hiện
chuyên đề.
- Đội ngũ cán bộ giáo viên tâm huyết, nhiệt tình, trẻ khỏe, yêu nghề, 100
cán bộ giáo viên có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn, trong đó có 26/32 đ/c có
trình độ trên chuẩn đạt 81%.
- Tổng số cán bộ giáo viên nhà trường 32 đồng chí, trong đó có 17 đồng chí
là người dân tộc. Số cán bộ giáo viên là người kinh đa số nghe và hiểu được
tiếng dân tộc, một số đồng chí biết giao tiếp bằng tiếng dân tộc.
- Có đầy đủ tài liệu phục vụ chuyên đề.
- Đơn vị được chọn là nơi xây dựng hoạt động thực hành cho đợt sơ kết 03
phát âm không chuẩn hoặc lẫn lộn cả tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt, những người già
không biết nói tiếng Việt và không muốn nói tiếng Việt với con trẻ vì muốn gìn
giữ tiếng mẹ đẻ.
- Khả năng tiếp thu của trẻ không đồng đều.
- Tính cục bộ địa phương cao, nếu cô giáo người dân tộc mà giao tiếp với
cha mẹ trẻ bằng tiếng Việt thì một số cho là không giữ gìn tiếng mẹ đẻ, thích
làm oai, làm oách nên hiệu quả của việc tuyên truyền chưa cao.
- Một bộ phận cha mẹ trẻ đi làm ăn xa nên việc chăm sóc cũng như dạy bảo
thường là phó mặc cho ông bà và cô giáo.
- Môi trường giao tiếp của các con ở gia đình, thôn bản là tiếng dân tộc.
- Đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị còn nghèo nàn, chưa đủ theo yêu cầu tối
thiểu.
- Đồ dùng tự làm phục vụ cho chuyên đề giá trị thẩm mĩ và độ bền chưa
cao, chưa đồng bộ.
- Xây dựng môi trường tiếng Việt cho trẻ hoạt động chưa phong phú, đa
dạng, chưa hấp dẫn trẻ.
- Xã có 10 thôn bản nhưng chỉ có 01 thôn là đa số người kinh sinh sống,
còn 11 thôn bản có 100% người dân tộc sinh sống nên môi trường giao tiếp của
trẻ chỉ là tiếng dân tộc.
- Việc tuyên truyền với cha mẹ trẻ và cộng đồng về phát triển vốn tiếng
Việt cho trẻ chưa được làm thường xuyên.
- Sự pha trộn giữa hai dân tộc về nòi giống chưa nhiều, có sự phân biệt rõ
nét, họ thường gọi người kinh là chếnh, cũng giống người kinh gọi người
mường là dân tộc.
2.2.3. Kết quả thực trạng:
TT
1
2
53.6
344
50
14.
143
41.
15
43.9
6
người dân tộc thường
xuyên giao tiếp bằng tiếng
5
6
1
Việt, phát âm chuẩn âm
tiếng Việt.
3
Xây dựng môi trường tiếng
17.
35.
0
cường tiếng Việt cho trẻ
6
Ứng dụng công nghệ thông
17.
21.
tin vào các hoạt động trong
28
5
6
17 60.7
9
4
ngày.
7
Cha mẹ trẻ thường xuyên
10.
giao tiếp với trẻ bằng tiếng
327
20 6.1 33
274 83.8
1
Việt khi ở nhà.
Nhìn vào bảng khảo sát thực trạng cho thấy việc tận dụng mọi cơ hội ở tất
cả các hoạt động trong ngày, mọi lúc mọi nơi để tăng cường tiếng Việt cho trẻ,
hay công tác tuyên truyền với cha mẹ trẻ và cộng đồng, ứng dụng công nghệ
thông tin để thực hiện chuyên đề còn hạn chế.
2.3. Các giải pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ em vùng dân tộc thiểu
số tại trường Mầm non Điền Trung, huyện Bá Thước.
2.3.1. Nâng cao năng lực đội ngũ:
2.3.2. Xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc
thiểu số:
- Xây dựng góc sách:
+ Xây dựng ngân hàng từ cho trẻ: Viết các từ (có thể vẽ thêm hình ảnh
mang biểu tượng của từ đó đối với trẻ nhỏ) mà trẻ thích vào miếng bìa carton cô
đã chuẩn bị trước, cho trẻ cất vào hộp của mình, sau đó tập cho trẻ xâu các
miếng bìa hoặc làm sách tranh mà trẻ thích. Yêu cầu trẻ đọc từ mình yêu thích
bằng cách nhớ kí hiệu những chữ cái ban đầu hoặc những hình ảnh quen thuộc.
+ Chuẩn bị các chữ cái rời cả chữ in hoa, in thường, viết thường kèm hình
ảnh để trẻ làm sách tranh và tập kể chuyện sáng tạo theo tranh. Cho trẻ mô tả cô
viết theo lời kể của trẻ. Trẻ rất thích quan sát người lớn viết theo những gì mình
nói. Cho trẻ hoạt động ở góc sách trong tất cả các nhóm lớp như một phương
tiện học một cách hiệu quả.
+ Yêu cầu trẻ sưu tầm tranh ảnh có chứa các chữ cái đã học có trong từ để
làm sách tranh cho phong phú, cô chuẩn bị giúp trẻ sách tranh gắn sẵn bóng kính
để trẻ có thể thay đổi vị trí các bức tranh theo ý tưởng sáng tạo câu truyện của
riêng mình, từ đó phát triển vốn từ và tư duy logic cho trẻ một cách sáng tạo và
hiệu quả.
- Góc phân vai: Chuẩn bị các đồ dùng tự làm theo chủ đề có gắn tên các
loại hoa quả, đồ dùng, đồ chơi, in tiền, bảng niêm iết giá, bảng báo giá tiềnhàng …, chuẩn bị đồ dùng đồ chơi phong phú, mầu sắc hài hòa, đẹp mắt, sắp
xếp theo hướng mở để hấp dẫn trẻ chơi, kích thích giao tiếp để tăng vốn từ cho
trẻ.
8
- Trang trí phòng nhóm, lớp theo chủ đề, tên chủ đề cũng như các góc được
đặt tên một cách gần gũi, dễ hiểu, được viết bằng chữ in thường. Tủ đồ dùng cá
nhân được ghi tên và kí hiệu riêng của trẻ ở tất cả các độ tuổi. Trẻ được khuyến
khích tham gia trang trí, tạo môi trường chữ cùng cô như: tô chữ, đồ chữ, sao
Luôn duy trì môi trường tiếng Việt trong lớp cũng như ngoài trời để
tạo được môi trường tốt nhất cho trẻ hoạt động tích cực.
2.3.3. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi:
Hằng năm nhà trường đầu tư mua sắm, bổ sung thêm một số đồ dùng
đồ chơi, trang thiết bị theo yêu cầu tối thiểu phục vụ cho các hoạt động như
thiết bị âm thanh, loa, mic đeo, ti vi, giá góc, bàn ghế…
Huy động mọi nguồn lực trong xã hội để đầu tư cơ sở vật chất trường
học như phòng y tế, văn phòng, sân bê tông, khuôn viên, môi trường bên
ngoài….
Huy động cha mẹ trẻ đóng góp các nguyên học liệu sẵn có ở địa
phương để làm đồ dùng đồ chơi tự tạo cho trẻ như các đồ dùng đồ chơi ở
các góc, sưa tầm các thơ ca, hò vè, tranh ảnh phù hợp, thân thiện với trẻ em
vùng dân tộc.
12
2.3.4. Tăng cường tiếng Việt cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi trong ngày.
Chỉ đạo giáo viên lồng ghép việc thực hiện chuyên đề tăng cường tiếng
Việt cho trẻ ở tất cả các hoạt động, ở tất cả các thời điểm trong ngày, sử dụng cả
tiếng mẹ để để phát triển vốn từ cho trẻ như:
- Hoạt động đón trả trẻ: Cô chào trẻ, chào cha mẹ trẻ bằng tiếng Việt nếu
trẻ còn ngại thì cô gần gũi động viên khuyến khích trẻ để trẻ tự tin giao tiếp với
cha mẹ và cô giáo bằng tiếng Việt. Cho trẻ vào chơi ở các góc hay các trò chơi
mình yêu thích để được giao tiếp với các bạn chơi một cách tự nhiên.
- Hoạt động chung: Khi cô đưa ra các hệ thống câu hỏi nếu trẻ không hiểu
thì cô biết tiếng dân tộc hỏi lại bằng tiếng dân tộc và giải thích cho trẻ hiểu tiếng
mẹ đẻ nói là như vậy nhưng tiếng Việt phải nói như thế này, cô làm mẫu và tập
13
Trưng bầy các sản phẩm của trẻ tạo ra theo chủ đề để thông qua sản phẩm
các bậc cha mẹ trẻ hiểu được mức độ tiếp thu lĩnh hội kiến thức của các con.
Tổ chức các hoạt động điển hình để mời cha mẹ trẻ tham dự và biết cách hỗ
trợ giáo viên, nhà trường trong việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ khi trẻ ở nhà,
cũng như việc hỗ trợ các nguồn nguyên học liệu làm đồ dùng đồ chơi phục vụ
công tác học tập, vui chơi cho trẻ nhưng không làm mất đi bản sắc của vùng
miền.
Tuyên truyền về tầm quan trọng của việc giao tiếp và hiểu được ngôn ngữ
tiếng Việt, Tiếng Việt là ngôn ngữ Quốc gia vì vậy trẻ em phải giao tiếp được
ngôn ngữ tiếng Việt và hiểu được tiếng Việt để tạo tiền đề cho các bậc học tiếp
theo.
Một cha mẹ trẻ hiểu được tầm quan trọng thì sẽ tuyên truyền được cho các
thành viên trong gia đình, các thành viên trong gia đình có những người thân
khác và họ đã trở thành những tuyên truyền viên một cách vô thức, chính những
thành viên này họ đã làm thành hiệu ứng của việc tuyên truyền tạo môi trường
14
tiếng Việt tại thôn bản và gia đình nơi họ sinh sống, từ đó họ giao tiếp song ngữ
với trẻ, phát triển vốn tiếng mẹ đẻ và tăng cường tiếng Việt.
2.4. Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với Hội đồng giáo dục, với
bản thân, với đồng nghiệp cũng như cộng đồng.
Trong 3 năm thực hiện chuyên đề, cùng với việc áp dụng những giải pháp
chỉ đạo tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số của bản thân vào quá
trình thực hiện chuyên đề tại đơn vị, thì tập thể cán bộ giáo viên đã hiểu đúng
bản chất của chuyên đề và tận dụng mọi cơ hội để tăng cường tiếng Việt cho trẻ,
hay trong những đám đông có cả người dân tộc và người kinh thì giáo viên đã
giao tiếp bằng tiếng Việt với nhau. Đặc biệt là cha mẹ trẻ đã có những thay đổi
và quan tâm đến việc tạo môi trường giao tiếp với trẻ bằng tiếng Việt, giúp trẻ
làm giầu vốn từ một cách rõ rệt.
Giáo viên, học sinh là
người dân tộc thường
25 72.
12.
xuyên giao tiếp bằng tiếng
344
43
51 14.8
0
7
5
Việt, phát âm chuẩn âm
tiếng Việt.
3
Xây dựng môi trường tiếng
58.
29.
17
10
5
2 11.8
Việt cho trẻ hoạt động.
8
4
4
Tận dụng nguồn nguyên
học liệu sẵn có của địa
60.
21.
28
ngày.
7
Cha mẹ trẻ thường xuyên
21.
60.
giao tiếp với trẻ bằng tiếng
327
70
197
60 18.3
5
2
Việt khi ở nhà.
- Thường xuyên giao tiếp với trẻ bằng tiếng Việt, vốn tiếng Việt của trẻ
được tăng lên rõ rệt, trẻ hứng thú, tự tin, mạnh dạn tham gia các hoạt động, phát
âm chuẩn tiếng Việt.
15
- Cha mẹ trẻ và cộng đồng quan tâm trong việc giao tiếp với trẻ bằng tiếng
Việt khi ở nhà (song ngữ).
- Tranh thủ được sự quan tâm của các cấp, các ngành, cha mẹ trẻ và cộng
đồng trong việc xây dựng môi trường tiếng Việt cho trẻ từ trong lớp cũng như
ngoài trời, số kinh phí huy đông được từ các nguồn lực là: 3.344.000.000 đồng
( Ba tỷ ba trăm bốn tư triệu đồng).
+ Ngân sách huyện: 807.000.000 đồng ( Tám trăm linh bảy triệu đồng).
Gồm tu sửa phòng học, xây mới nhà vệ sinh, tường rào, vườn cổ tích, khu vận
động cho trẻ.
+ Ngân sách UBND xã: 2.015.000.000 đồng ( Hai tỷ không trăm mười lăm
triệu đồng).
- Trong nhà trường đã tạo được môi trường giao tiếp, môi trường chữ viết
phong phú để trẻ được thỏa mãn trong việc thể hiện bản thân trước mọi người
xung quanh.
16
Từ việc vào cuộc của các ban ngành đoàn thể, các tổ chức chính trị để
tăng cường cơ sở vật chất, sự kết hợp hài hòa trong trang trí, sắp xếp, tạo môi
trường tiếng Việt cho trẻ đa dạng, hấp dẫn và thiết thực nên cha mẹ trẻ nhận ra
tầm quan trọng và cùng vào cuộc, ủng hộ vật chất lẫn tinh thần, ngày công…
Đặc biệt đến nay số người kinh lấy vợ, lấy chồng người dân tộc rất nhiều,
họ không còn mặc cảm người dân tộc hay người kinh nữa, và đã có sự giao thoa
về văn hóa, phong tục tập quán của hai dân tộc một cách hài hòa, bây giờ người
dân tộc không còn gọi người kinh là “chếnh” nữa. Nên môi trường giao tiếp
tiếng Việt được mở rộng một cách tự nhiên và bền vững hơn.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
3.1. Kết luận:
Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục giúp con người
phát triển toàn diện. Sự phát triển chậm trễ về mặt ngôn ngữ có ảnh hưởng đến
sự phát triển toàn diện của trẻ. Cho nên cán bộ giáo viên cần phải đề ra nhiệm
vụ, nội dung, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc và phù hợp với
lứa tuổi.
Giao tiếp hiệu quả là một trong những khả năng quan trọng nhất mà con
người cần có. Hình thành và phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ từ tuổi mầm
non là xây dựng nền móng thiết yếu cho thành công trong những năm tháng tiếp
theo ở trường phổ thông và cả cuộc sống lâu dài sau này của trẻ.
Dạy ngôn ngữ thứ hai cần có cách tiếp cận khác với dạy tiếng mẹ đẻ cho
trẻ. nội dung bài học và phương pháp cần phải thích hợp với trẻ học nói tiếng
Việt. Đây là điều đặc biệt quan trọng đối với trẻ chuẩn bị đi học lớp 1. Trẻ dân
tộc sẽ có cơ hội tốt hơn để nắm tiếng Việt cũng như tiếng mẹ đẻ nếu như kế
- UBND huyện Bá Thước: Ban hành Chỉ thị đến các xã, Thị Trấn về việc
tạo môi trường tăng cường tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số, tăng cường cơ
sở vật chất, trang thiết bị trường học.
- Sở Giáo dục và Đào tạo: Hỗ trợ, biên soạn thêm tài liệu về tăng cường
tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số.
XÁC NHẬN CỦA
Điền Trung, ngày 20 tháng 03 năm 2019
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT SKKN
Tào Thị Nhung
Nguyễn Thị Vinh
Tài liệu tham khảo
1. Quyết định số: 1008/QĐ-TTg ngày 02/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học
vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025”
2. Thông Tư số: 17/TT-BGD&ĐT ngày 25/07/2009 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo về việc ban hành chương trình giáo dục Mầm non. và được sửa đổi bổ
sung một số nội dung theo Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30/12/2016.
3. Tạp chí Giáo dục mầm non số 02/2016.
4. Hướng dẫn chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số
trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non, mẫu giáo 3-4 tuổi.
5. Hướng dẫn chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số
trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non, mẫu giáo 4-5 tuổi.
6. Hướng dẫn tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số
7. Chuyên đề phát triển ngôn ngữ
Ngành GD cấp
B
2010-2011
huyện
Một số biện pháp chỉ đạo nâng
cao chất lượng dạy vận động
âm nhạc cho trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi tại trường Mầm non Điền
Trung, huyện Bá Thước.
Một số biện pháp Kiểm tra Ngành GD cấp
đánh giá hoạt động sư phạm
tỉnh
của giáo viên tại trường Mầm
non Điền Trung, huyện Bá
C
2012 2013
19
Thước.
3
Một số kỹ năng xử lý tình
huống của Hiệu trưởng trong
quản lý Giáo dục tại trường
Mầm non Điền Trung, huyện