MỤC LỤC
TT
Nội dung
1
MỞ ĐẦU
Trang
- Lý do chọn đề tài
2
- Mục đích nghiên cứu
3
- Đối tượng nghiên cứu
3
- Phương pháp nghiên cứu
3
2
NỘI DUNG
20
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết: Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, thời kỳ
đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kĩ thuật, xây dựng công
nghiệp hoá - hiện đại hoá nhằm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển,
nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân. Cùng với sự đổi mới của đất
nước, sự nghiệp giáo dục và đào tạo cũng từng bước đổi mới về Nội dung Phương pháp dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện nguồn nhân
lực: Có đủ phẩm chất đạo đức, trí thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và trình độ khoa học
kĩ thuật để phục vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá phù hợp với truyền thống và
tình hình thực tiễn của đất nước, tiếp cận với trình độ giáo dục phổ thông của
các nước phát triển trong khu vực và trên toàn thế giới.
Cùng với các môn học khác, Đạo đức là một trong những môn học quan
trọng bắt buộc trong trường Tiểu học. Môn Đạo đức đã giúp cho học sinh có
những hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật phù
hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với bản thân, gia đình, nhà
trường, cộng đồng, môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc thực hiện các chuẩn
mực đó. Từng bước hình thành kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân
và những người xung quanh theo chuẩn mực đã học, lựa chọn và thực hiện các
hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực trong các quan hệ và tình huống đơn giản,
cụ thể của cuộc sống. Từng bước hình thành thái độ tự trọng, tự tin, yêu thương
tôn trọng con người, yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác,
cái sai, cái xấu.
Như Bác Hồ đã nói: “Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó,
có tài mà không có đức là người vô dụng”. Trong thời gian gần đây, bên cạnh
những người tốt, những người có những hành vi ứng xử văn minh, lịch sự thì
+ Phương pháp Điều tra nghiên cứu.
+ Phương pháp Thống kê số liệu.
+ Phương pháp Quan sát.
+ Phương pháp Thực nghiệm.
3
PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
1. Vị trí của môn Đạo đức trong trường Tiểu học
Ở Tiểu học nói chung, lớp 2 nói riêng, mỗi môn học đều góp phần vào
việc hình thành cơ sở ban đầu nhân cách cho trẻ nhỏ, đặc biệt là môn Đạo đức
có vị trí rất quan trọng trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học.
Giáo dục Đạo đức cho học sinh tiểu học học một cách có hệ thống theo một
chương trình khá chặt chẽ giúp các em hình thành được ý thức đạo đức (tri thức
và niềm tin đạo đức) ở mức độ sơ giản, định hướng cho các em rèn luyện một
cách tự giác những thói quen hành vi đạo đức tương ứng.
Môn Đạo đức nhằm giúp học sinh có nhiều hiểu biết ban đầu về một số
chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các
em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng, với đất nước và ý nghĩa của
việc thực hiện các chuẩn mực đó. Môn Đạo đức từng bước hình thành thái độ tự
trọng, tự tin, yêu thương, tôn trọng con người, yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt,
không đồng tình với cái ác, cái xấu, cái sai. Như Bác Hồ đã dạy:
“Hiền dữ đâu phải là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
Chính vì vậy, môn Đạo đức có vị trí hết sức quan trọng trong trường Tiểu học:
- Là con đường cơ bản và quan trọng nhất trong việc thực hiện giáo dục
đạo đức, tiêu chí hàng đầu góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học
* Về phía học sinh:
- Ở mẫu giáo 5 tuổi, trẻ đã được cung cấp những chuẩn mực đạo đức ở
mức độ sơ giản như khi đi phải xin phép, khi về phải chào hỏi. Bước vào lớp
Một các em được tiếp tục học cách cư xử nhưng ở mức độ cao hơn ở Mẫu giáo
như là chào hỏi và xin phép như thế nào cho đúng và phù hợp.
- Học sinh lớp 2 rất thích học môn Đạo đức. Đây là môn học gắn với thực
tế, có thể sử dụng nhiều ví dụ thực tế để liên hệ trong học tập. Các em rất thích
các hoạt động của môn học như đóng vai, trò chơi, kể chuyện, múa hát, quan sát
tranh, ...
- Học sinh phần lớn được sống trong sự quan tâm hết mực của gia đình,
có mối quan hệ họ hàng thân thiết, gắn bó. Các em đều là những học sinh ngoan
ngoãn, kính thầy yêu bạn.
* Về phía giáo viên:
- Trong những năm học vừa qua tổ nhóm chuyên môn có được sự quan
tâm, chỉ đạo sâu sát của Ban giám hiệu, Chuyên môn nhà trường, và đặc biệt là
có sự quan tâm, chỉ đạo của Phòng Giáo dục để dạy tốt môn Đạo đức trong nhà
trường.
- Phương tiện dạy học chủ yếu trong giờ đạo đức là vở bài tập đạo đức,
với nội dung nhẹ nhàng, giúp giáo viên truyền thụ bài cũng như học sinh tiếp
nhận một cách dễ dàng hơn.
b, Khó khăn:
* Về phía học sinh:
- Tâm lý học sinh Tiểu học thích "bắt chước" nên hành vi đạo đức các em
có thể thu nhận qua việc giao tiếp, qua tranh ảnh, sách báo, truyện, đài, phim
kịch, ... nhưng các em chưa biết phân biệt để lựa chọn hành vi đạo đức phù hợp
cho mình nên dẫn đến việc bắt chước cả cái xấu, trái với chuẩn mực hành vi đạo
đức một cách vô thức. Chính vì vậy những chuẩn mực hành vi đạo đức giáo dục
trẻ phải được cung cấp và uốn nắn ngay từ những lớp đầu cấp, nhất là lớp 2.
- Đặc biệt học sinh không biết áp dụng kiến thức đã học vào thực tế.
Chẳng hạn học sinh lớp 2 vừa được học bài “Chăm chỉ học tập” nhưng trong
với ông bà và bác vì vậy việc soạn sách vở hàng ngày chưa đầy đủ, bảo quản
sách vở chưa tốt, ... dẫn đến kết quả học tập các môn học nói chung và môn Đạo
đức nói riêng của các em chưa cao.
Cụ thể kết thúc học kì I năm học 2014 - 2015 môn Đạo đức đạt kết quả
như sau:
Sĩ số
29
Hoàn thành
SL
%
21
72,4
Chưa hoàn thành
SL
%
8
27,6
Với kết quả trên cho thấy chất lượng môn Đạo đức chưa cao, còn 27,6%
học sinh chưa hoàn thành nội dung môn học. Đây chính là vấn đề mà mỗi giáo
viên trực tiếp giảng dạy phải trăn trở làm sao cho chất lượng môn Đạo đức lớp
mình dạy đạt kết quả cao.
Xuất phát từ tình hình thực tế và kết quả học tập của học sinh, bản thân tôi
đã có những suy nghĩ và tìm ra các biện pháp nhằm giúp học sinh lớp 2 học tốt
môn Đạo đức.
6
Lịch sự khi gọi điện và nhận điện thoại; Lịch sự khi đến nhà người khác; Giúp
đỡ người khuyết tật, ...
- Nội dung môn Đạo đức lớp 2 theo chương trình mới là dạy học sinh
những hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội trong tình
huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống hàng ngày. Nội dung chương trình mới
không chỉ giáo dục bổn phận trách nhiệm của học sinh đối với gia đình, nhà
trường, xã hội, môi trường tự nhiên mà còn giáo dục học sinh có trách nhiệm đối
với chính bản thân, biết quý trọng bản thân, biết tự chăm sóc bản thân, có trách
nhiệm về các hành vi, việc làm của mình.
- Nếu như chương trình môn Đạo đức trước đây chỉ quan tâm đến việc
trang bị kiến thức thì chương trình mới quan tâm đến 3 mặt: Trang bị kiến thức;
7
bồi dưỡng tình cảm, thái độ; Đặc biệt quan tâm đến việc hình thành kĩ năng và
hành vi đạo đức cho học sinh.
- Nội dung chương trình đạo đức lớp 2 mới gần gũi với cuộc sống thực
của học sinh. Các tranh, ảnh, truyện, tình huống, tấm gương,... để dạy học môn
Đạo đức lớp 2 được lấy từ chính cuộc sống thực tiễn, với các mối quan hệ gần
gũi, quen thuộc hàng ngày của các em.
* Như vậy trong chương trình Đạo đức lớp 2 mới, nội dung và hình thức
được mở rộng phong phú hơn, yêu cầu nhẹ nhàng hơn, học sinh không phải học
thuộc lòng bài học gò bó như trước mà điều quan trọng là học sinh biết thể hiện
thái độ, hành vi phù hợp trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày.
2) Nhận thức về đổi mới Sách giáo khoa.
Nội dung chương trình mới ở giai đoạn I (từ lớp 1 đến lớp 3), chưa có
sách giáo khoa mà chỉ có vở Bài tập Đạo đức. Trình bày ở khổ giấy to hơn, rõ
ràng hơn, nội dung cũng được mở rộng, đầy đủ hơn, phần lý thuyết được giảm
nhẹ. ...
3) Nhận thức về đổi mới cách đánh giá.
trò chơi, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp kể chuyện, phương pháp
đàm thoại. Đặc biệt nổi bật trong phương pháp dạy học mới là phương pháp tổ
chức hoạt động trò chơi, thảo luận theo nhóm, ... Đây là các phương pháp mới
tác động tích cực đến tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, nhằm thu hút sự chú ý gây
hứng thú, ham muốn hoạt động học tập cho các em. Với các phương pháp này
học sinh thích thú học tập hơn, tinh thần thoải mái hơn, giờ học sôi nổi hơn, làm
cho tất cả mọi đối tượng học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập.
Từ đó các em sẽ chủ động tìm tòi phát huy tìm ra kiến thức mới.
- Dạy học đạo đức theo hướng đổi mới là phương pháp khuyến khích sử
dụng những tình huống, bức tranh, băng hình, tiểu phẩm, những trò chơi, những
câu chuyện mở để dưới sự điều khiển hướng dẫn của giáo viên học sinh liệt kê
ra các giải pháp có thể có, tự đánh giá giải pháp đó, so sánh để tìm ra giải pháp
tối ưu nhất. Chống lại thói quen học tập thụ động.
Tóm lại: Mỗi phương pháp và hình thức dạy học đạo đức đều có mặt
mạnh và mặt yếu. Nó phù hợp với các loại bài riêng, từng khâu riêng của từng
tiết dạy. Vì vậy giáo viên không nên quá lạm dụng hoặc phủ định hoàn toàn một
phương pháp và hình thức dạy học nào. Điều quan trọng là căn cứ vào hoàn
cảnh cụ thể của lớp, của trường mà lựa chọn sử dụng kết hợp các phương pháp
và hình thức dạy học hợp lý.
*Giải pháp 2: Giáo viên nắm vững quy trình dạy một tiết Đạo đức lớp 2 và
một số yêu cầu về dạy Đạo đức theo hướng đổi mới::
1. Quy trình một tiết dạy Đạo đức:
Tiết 1:
1) Kiểm tra bài cũ (2 - 3')
- Giáo viên nêu câu hỏi để kiểm tra kiến thức của bài học trước.
2) Bài mới (27 - 28'):
a) Gới thiệu bài - khởi động (2 - 3')
- Hình thức: Giáo viên nêu mục tiêu tiết học hoặc tổ chức các trò chơi, bài
hát có liên quan đến chủ đề bài học.
- Mục đích: Khơi gợi hứng thú học tập, xây dựng động cơ học tập đúng
đã thực hiện được các hành vi đạo đức đúng đắn chưa, nếu chưa thực hiện được
các em biết tự mình sửa chữa để ứng xử trong cuộc sống.
* Cách tiến hành: Giáo viên sử dụng các phương pháp.
- Đàm thoài
- Điều tra
- Đánh giá, tự đánh giá
- Nêu gương.
- Khuyến khích khen thưởng.
- Phê bình trách phạt.
3) Củng cố - dặn dò (3 - 5'): Có thể chọn 2 trong 3 hình thức sau:
- Giáo viên nêu 1 - 2 câu hỏi để kiểm tra kiến thức đã nắm được qua giờ học.
- Kể cho các em nghe câu chuyện theo gương tốt người tốt việc tốt có liên quan
đến bài học.
- Học sinh hát bài hát theo chủ đề vừa học.
- Giáo viên nhận xét tiết học.
Tiết 2
1) Kiểm tra bài cũ (2 - 3')
- Giáo viên nêu câu hỏi để kiểm tra kiến thức của tiết 1.
2) Bài mới (27 - 28')
a) Giới thiệu bài (1 - 2'): Tương tự như tiết 1
b) Tổ chức các hoạt động dạy học (26 - 27').
Hoạt động 1: Khai thác vận dụng vốn hiểu biết của mình để thực hành luyện tập
củng cố kiến thức
+ Cách tiến hành: Giáo viên sử dụng các phương pháp.
10
- Quan sát tranh
- Thảo luận
- Đàm thoại
liên hệ, điều tra thực tiễn; lập kế hoạch hành động của học sinh; quan sát, phân
tích tiểu phẩm; múa, hát, đọc thơ, vẽ tranh, triển lãm, chơi các trò chơi có liên
quan đến chủ đề bài học...
- Dạy-học môn Đạo đức phải gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực của học
sinh. Các truyện kể, tình huống, tấm gương sử dụng để dạy-học môn Đạo đức
phải lấy chất liệu từ cuộc sống thực của học sinh. Đồng thời, giáo viên phải
hướng dẫn học sinh phân tích, đánh giá hành vi của bản thân và những người
xung quanh theo các chuẩn mực hành vi đã học. Hướng dẫn học sinh điều tra,
tìm hiểu, phân tích, đánh giá các sự kiện trong đời sống đạo đức của lớp học,
11
nhà trường và địa phương. Điều đó sẽ giúp cho bài học Đạo đức thêm phong
phú, gần gũi, sống động đối với các em.
- Phương pháp và hình thức tổ chức dạy - học Đạo đức ở lớp 2 rất phong
phú, đa dạng, bao gồm cả các phương pháp truyền thống như kể chuyện, đàm
thoại, nêu gương, sử dụng đồ dùng trực quan, ... và các phương pháp hiện đại
như đóng vai, thảo luận nhóm, tổ chức trò chơi, điều tra thực tiễn, giải quyết vấn
đề, động não, ...; Bao gồm cả hình thức: Học theo lớp, theo nhóm và cá nhân;
hình thức học ở lớp, ngoài sân trường, tham quan các di tích lịch sử, văn hoá các
địa điểm ngoài trường có liên quan đến nội dung học tập.
Mỗi phương pháp và hình thức dạy học môn Đạo đức đều có mặt mạnh và
hạn chế riêng, phù hợp với từng loại bài riêng, từng khâu riêng của tiết dạy. Vì
vậy không nên quá lạm dụng hoặc phủ định hoàn toàn một phương pháp hoặc
hình thức dạy - học nào. Điều quan trọng là cần căn cứ vào nội dung, tính chất
từng bài; căn cứ vào trình độ học sinh và căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, cụ thể
của từng đối tượng học sinh mà lựa chọn, sử dụng kết hợp các phương pháp và
hình thức dạy học một cách hợp lý, đúng mức.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc giáo dục đạo đức cho học sinh
thầy - trò hoặc trò - trò về một chủ đề đạo đức trên một hệ thống câu hỏi nhằm
hướng dẫn học sinh đi đến chuẩn mực đạo đức các em cần nắm và thực hiện.
Phương pháp đàm thoại giúp học sinh phát huy vốn kinh nghiệm đạo đức đã có;
chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm của thầy, của bạn, tiếp thu bài học một cách tích
cực, chủ động; tránh được xu hướng thuyết lý khô khan, áp đặt, nặng nề.
Cùng với phương pháp kể chuyện đàm thoại, phương pháp Thảo luận
phân tích tình huống nhằm giúp học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực
vào quá trình học tập tạo điều kiện cho các em có thể chia sẻ kinh nghiệm, ý
kiến, hay để giải quyết một vấn đề đạo đức nào đó.
* Nhóm phương pháp luyện tập, rèn luyện hành vi thói quen và cách
ứng xử bao gồm: Luyện tập thực hành; ứng xử tình huống; động não; Tổ chức
trò chơi; Đóng vai.
Luyện tập thực hành là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh thực
hành luyện tập theo mẫu hành vi đã xác định ở tiết 1. Đồng thời để củng cố lại
kiến thức đã học. Các em thực hành luyện tập làm các bài tập giải quyết tình
huống trong vở bài tập đạo đức. Cùng với phương pháp luyện tập thực hành là
phương pháp đóng vai.
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng
xử và bày tỏ thái độ trong tình huống cụ thể. Đóng vai gây chú ý và hứng thú
cho các em. Qua đó tạo điều kiện nảy sinh óc sáng tạo của học sinh đồng thời
khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo
đức. Qua đóng vai có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc
làm của các vai diễn.
Còn phương pháp Tổ chức trò chơi là phương pháp giúp học sinh phát
hiện và chiếm lĩnh những nội dung học tập thông qua việc chơi một trò chơi nào
đó. Qua trò chơi các em không những được phát triển về các mặt trí tuệ, thể
chất, thẩm mỹ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất hành vi đạo đức. Chính
vì vậy trò chơi được sử dụng trong tiết đạo đức như là một phương pháp dạy học
quan trọng để giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh.
Nội dung trò chơi sẽ minh hoạ một cách sinh động cho các mẫu hành vi
chức cho học sinh chơi trò chơi “Ghép đôi”, qua trò chơi học sinh biết cách ứng
xử các tình huống nhận và sửa lỗi.
*Giải pháp 4: Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học.
Để thực hiện đổi mới phương pháp, việc sử dụng đồ dùng dạy học là rất
quan trọng với tất cả các môn học. Đồ dùng dạy học có tầm quan trọng trong sự
thành công của một tiết dạy. Vì vậy trước mỗi tiết dạy người giáo viên cần phải
chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng phục vụ cho tiết dạy của mình. Mỗi khi thiết kế bài
học giáo viên cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung tính chất, hình thức của bài học
để lựa chọn thiết bị dạy học cho phù hợp, dễ sử dụng.
Hiện nay trang thiết bị và đồ dùng dạy học môn Đạo đức chỉ có tranh ảnh
nên giáo viên cần sử dụng các tranh ảnh trong Vở bài tập Đạo đức cho học sinh
quan sát một cách triệt để. Ngoài ra giáo viên có thể sử dụng các đồ dùng tự làm
hoặc phải sưu tầm thêm, chuẩn bị trước mỗi tiết học những đồ dùng cần thiết
cho từng hoạt động của từng bài.
Ví dụ: Khi dạy bài 7 "Giữ gìn trường lớp sạch đẹp", giáo viên cần sử
dụng những đồ dùng như:
+ Một ít bánh kẹo, một hộp giấy (cho hoạt động 1 - Tiết 1).
+ Bộ tranh phóng to (gồm 5 tranh) (cho hoạt động 2 - Tiết 1).
+ Một số dụng cụ như sọt rác, chổi, phấn (cho hoạt động 1 - Tiết 2).
+ Phiếu ghi câu hỏi (cho hoạt động 3 - Tiết 2).
Khi dạy bài 11 "Lịch sự khi nhận và gọi điện thoại" giáo viên cần chuẩn
bị một số đồ dùng như: Bộ đồ chơi điện thoại hoặc là điện thoại thật loại để bàn.
Sử dụng trong tiểu phẩm ở hoạt động 1 - Tiết 1 và hoạt động 3 tiết 1.
Ngoài ra, khi sử dụng máy chiếu, giáo viên chỉ xem đây là thay cho việc
chuẩn bị đồ dùng làm tay, chứ không lạm dụng.
*Giải pháp 5: Dạy đạo đức cho học sinh thông qua các môn học khác
Dạy môn Đạo đức qua các môn học khác là hình thức giáo dục rất quan
trọng. Dạy đạo đức cho học sinh không chỉ bó hẹp ở một môn học Đạo đức mà
có thể nói rằng dạy đạo đức ở mọi lúc, mọi nơi và trong tất cả các môn học.
Trong môn Tiếng việt học sinh được học các bài tập đọc với chủ điểm của
Bản thân tôi luôn học hỏi, vận dụng các giải pháp nêu trên thông qua các
bài dạy.
*Ví dụ: Bài 6: “Quan tâm giúp đỡ bạn”(tiết 1)
Tôi đã phối hợp và sử dụng các phương pháp dạy học:
*Hoạt động 1: Giáo viên kể chuyện, học sinh trả lời câu hỏi.
1) Bạn Hợp và các bạn lớp 2A đã làm gì khi Cường bị ngã ?
2) Em có suy nghĩ gì về việc làm của các bạn ?
Với câu hỏi 2, học sinh có thể trả lời nhiều cách. Giáo viên chấp nhận tất
cả ý kiến của học sinh, không chê, không nhận định đúng sai. Cuối giờ tôi đã
nhấn mạnh kết luận này là kết quả tham gia chung của tất cả học sinh (kết luận
đúng).
*Hoạt động 2: Học sinh quan sát tranh và thảo luận nhóm đôi.
Học sinh chỉ ra được bức tranh có nội dung thể hiện hành vi quan tâm
giúp đỡ bạn và giải thích tại sao.
Học sinh tự suy nghĩ thảo luận. Sau một thời gian quy định giáo viên gọi
từng nhóm lên trình bày ý tưởng thảo luận của nhóm mình. Nhiều nhóm được
lên trình bày để các em tự tin, phấn khởi.
*Hoạt động 3: Học sinh làm việc cá nhân.
Tôi đã cho học sinh làm việc cá nhân dưới hình thức trình bày ý kiến của
riêng mỗi học sinh bằng vở bài tập với yêu cầu:
Đánh dấu + vào ô trống trước ý kiến mà em tán thành cần quan tâm và
giúp đỡ bạn vì...
+ Hoạt động 4:
Trò chơi: Đoán chữ
Giáo viên hướng dẫn và tổ chức trò chơi để học sinh nói được nội dung
câu thơ về chủ đề Tình bạn. Cho biết tiếng đầu và tiếng cuối. Tổ chức 3 đội chơi
có thưởng để học sinh đoán lần lượt các tiếng tiếp theo trong câu thơ và từ đó rút
ra nội dung của bài học:
Bài 2: Biết nhận lỗi và sửa lỗi.
Bài 5: Chăm chỉ học tập.
Bài 9: Trả lại của rơi.
- Loại bài bắt đầu từ câu chuyện, bài thơ như:
Bài 2: Biết nhận lỗi và sửa lỗi.
Bài 4: Chăm làm việc nhà.
Bài 6: Quan tâm giúp đỡ bạn.
Bài 10: Biết nói lời yêu cầu, đề nghị.
IV. HIỆU QUẢ:
Qua quá trình học tập, nghiên cứu, giảng dạy và tổ chức thực hành vận
dụng“Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy học môn Đạo đức cho
học sinh lớp 2.” tôi đã thu được những kết quả như sau:
- Chất lượng giảng dạy và chất lượng học tập môn Đạo đức đạt kết quả rõ rệt.
- Giáo viên nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong quá trình giáo dục đạo
đức cho học sinh.
- Giáo viên đã tích cực học tập bồi dưỡng, vững vàng hơn về chuyên môn,
nắm chắc quy trình, phương pháp giảng dạy.
18
- Trong tiết học, tôi nhận thấy các em học tập rất tích cực, chủ động tìm tòi và
sáng tạo hơn trong việc lĩnh hội kiến thức, kết quả thực hành được nâng lên rõ
rệt. Các em đã biết vận dụng những điều đã học vào trong cuộc sống hàng ngày
khi giao tiếp, cư xử với thầy cô, bạn bè, cha mẹ, anh chị em và với mọi người.
Các em đã mạnh dạn hơn, tự tin hơn khi thể hiện trước đám đông.
- Không khí lớp học sôi nổi, hào hứng, học sinh thích thú với môn học Đạo
đức.
Kết quả cụ thể cuối năm học 2014-2015 và kết quả cuối học kì I năm học
2015-2016 đạt được như sau:
23
100%
0
\
Nhìn vào kết quả học tập của lớp 2A cuối năm học 2014-2015 và lớp 2B
cuối học kì I năm học 2015-2016 cho thấy chất lượng môn Đạo đức được nâng
lên rõ rệt. So với kết quả học kì I, năm học 2014-2015, lớp 2A có 8 em chưa
hoàn thành nội dung môn học chiếm tới 27,6%. Cuối năm học 2014-2015 lớp
2A có 100% học sinh hoàn thành nội dung môn học trong đó có nhiều em hoàn
thành tốt nội dung môn học, không còn học sinh chưa hoàn thành nội dung môn
học. Năm học 2015-2016, tôi tiếp tục áp dụng các biện pháp nêu trên vào giảng
dạy môn Đạo đức lớp 2B, kết quả của học kỳ I của lớp 2B có 23/23 em hoàn
thành nội dung môn học đạt 100%. Với kết quả đạt được, ta nhận thấy môn Đạo
đức đã tăng lên rõ rệt.
Kết quả trên cho thấy, việc sử dụng các biện pháp đã nêu đem lại kết quả
đáng kể trong giảng dạy môn Đạo đức. Tôi tin tưởng rằng, với biện pháp nêu
trên sẽ cho hiệu quả giảng dạy môn Đạo đức ngày một nâng cao.
19
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua việc nhận thức, vận dụng và thực hiện, bản thân tôi thiết nghĩ, để dạy
tốt môn đạo đức, người giáo viên cần:
- Tham gia đầy đủ các chuyên đề do Nhà trường, Phòng Giáo dục tổ chức.
thức đúng về vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ của môn Đạo đức trong Trường tiểu học.
20
Phối kết hợp chặt chẽ với Nhà trường và xã hội để giáo dục, uốn nắn các em kịp
thời.
+ Đối với Nhà trường: Trang bị mua sắm, bổ sung đồ dùng, thiết bị (máy
chiếu, băng đĩa,...) phục vụ cho dạy học môn Đạo đức đầy đủ, phong phú hơn.
Ban giám hiệu tăng cường dự giờ để góp ý, xây dựng giờ dạy cho mỗi giáo viên.
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi đã trải nghiệm và đúc
rút trong quá trình giảng dạy. Bước đầu đã có những chuyển biến và hiệu quả
thiết thực. Hi vọng những kinh nghiệm này sẽ góp phần nhỏ bé vào việc “nâng
cao chất lượng dạy học môn Đạo đức cho học sinh lớp 2”. Mặc dù đã có nhiều
cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng đề tài không tránh khỏi những khiếm
khuyết. Tôi kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý chân thành của các đồng nghiệp,
của Hội đồng Khoa học các cấp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Hậu Lộc, ngày 15 tháng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Nguyệt
21