Một số biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh lớp 2 - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG THỌ
MỤC LỤC

NỘI DUNG
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đich nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên
cứuKIẾN KINH NGHIỆM
SÁNG
2. Nội dun g
2.1. Cơ sở lí luận
MỘT
SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI
2.2. Thực trạng vấn đề
2.3. Các giải phápCHO
thực hiện
HỌC SINH LỚP HAI
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. Kết luận - Kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị

TRANG
1
1
2
3

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. Kết luận - Kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị

TRANG
1
1
2
2
2
3
3
4
6
19
19
19
21

1. Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
“Trẻ em như búp trên cành,
1


Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”
(Hồ Chi Minh).
Thật vậy, câu nói của Bác Hồ như là một khẳng định đối với tâm sinh lý của
các em ở lứa tuổi tiểu học. Chính vì thế trong quá trình dạy học để thực hiện hoàn

trong gia đình có người mắc lỗi mà không nhận lỗi, không sửa lỗi. Hoặc đôi khi
bản thân giáo viên vì công việc bộn bề nên có lúc thờ ơ với lỗi lầm của học sinh.
Vậy thì dù chúng ta có giảng lý thuyết đạo đức hay đến đâu, sinh động đến
đâu vẫn không thể nào thuyết phục được các em. Không bài giảng nào có giá trị tác
động đến nhận thức bằng chính hiện thực cuộc sống. Trong công tác giáo dục xưa
nay, mấy ai đã suy nghĩ và tìm cách giải quyết được những khó khăn đó chưa? Tôi
2


nghĩ việc tìm ra “Một số biện pháp giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh lớp
hai” là một vấn đề cần trao đổi, thảo luận để sớm tìm ra phương pháp, hướng đi
đúng đắn, đem lại hiệu quả thiết thực trong công tác giáo dục đạo đức.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Qua đề tài này tôi muốn đưa ra một số kinh nghiệm cụ thể nhằm nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân và góp một phần nhỏ bé của mình vào
việc giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh lớp hai thông qua phương pháp ứng xử
của giáo viên trên lớp; qua các tiết học, cách định hướng các em tự liên hệ thực tế
bản thân để tìm ra cách ứng xử có văn hoá, lễ phép.
Việc giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh nhằm giúp học sinh:
- Có những hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực, hành vi đạo đức và pháp
luật phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ giữa các em với gia đình, nhà
trường, cộng đồng, môi trường tự nhiên và ý nghĩa của việc đưa những chuẩn mực
đạo đức đó vào trong nhận thức, lối sống, hành động của các em.
- Giúp các em từng bước hình thành kĩ năng tự nhận xét, đánh giá hành vi
của bản thân và những người xung quanh theo chuẩn mực đạo đức đúng đắn, kĩ
năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp trong các quan hệ tình
huống đơn giản, cụ thể trong cuộc sống, biết nhắc nhở bạn bè cùng thực hiện.
- Dần dần hình thành trong các em thái độ tự trọng, tự tin, yêu thương, tôn
trọng con người, yêu con người, yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình
với cái ác, cái sai, cái xấu.

vi thể hiện trong thái độ với bạn bè, gia đình, người khác và đối với Nhà nước, Tổ
quốc. Đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa không chỉ là thành phần quan
trọng về cơ bản của giáo dục mà là mục đích của toàn bộ công tác giáo dục thế hệ
trẻ. Trong giáo dục không những có kiến thức mà phải có đạo đức. Vì vậy công tác
giáo dục trước tiên phải đặt chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho học sinh, coi đó là cái
căn bản, cái gốc cho sự phát triển nhân cách. Khi nói đến nhân cách của việc học
trong chế độ mới chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Bây giờ phải học; học để yêu Tổ
quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức”.
Giáo dục đạo đức là một bộ phận rất quan trọng của quá trình sư phạm, đặc biệt
là ở Tiểu học. Nó nhằm hình thành những cơ sở ban đầu về mặt đạo đức cho học
sinh, giúp các em ứng xử đúng đắn qua các mối quan hệ đạo đức hàng ngày. Có thể
nói, nhân cách của học sinh Tiểu học thể hiện trước hết qua hành vi đạo đức theo
những chuẩn mực cụ thể như: Hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, tôn trọng thầy cô giáo,
yêu quê hương đất nước, thân thiện với những người xung quanh. giữ gìn vệ sinh
chung nơi công cộng, chấp hành luật lệ giao thông, giúp đỡ người già neo đơn, giúp
người có hoàn cảnh khó khăn, gặp hoạn nạn, nói lời hay, hành động lịch sự,
v.v....Đến việc lĩnh hội các khái niệm, các phạm trù đạo đức học khái quát: lương
tâm, nghĩa vụ, trách nhiệm, nhân phẩm, danh dự của người công dân đối với nhà
nước, pháp luật, những vấn đề về nhân sinh quan, thế giới quan...
Rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức là một việc làm thường xuyên và cần
thiết nhất là đối với thế hệ học sinh vốn dĩ hiếu động, thông minh đang sống và bị
chi phối trong điều kiện của nền kinh tế thị trường. Giáo dục là một yếu tố hết sức
quan trọng như Bác Hồ đã khẳng định:
“ Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
4


Phần nhiều do giáo dục mà nên”
2.2. Thực trạng vấn đề
a. Thuận lợi :

gian eo hẹp trên lớp học chỉ đủ để giảng dạy các môn theo đúng chương trình quy
định, việc lồng ghép, kết hợp giáo dục đạo đức cho học sinh cũng trở nên khó khăn.
5


Trong thực tế một số giáo viên chưa nắm chắc được sự phát triển tâm sinh lý
lứa tuổi học sinh tiểu học, các em chỉ là những đứa trẻ trong sáng, chờ người lớn
chúng ta viết những dòng chữ về cuộc đời lên đó. Vậy thì trong từng lời ăn tiếng
nói, cách đối nhân xử thế... Người lớn đã khi nào nhớ mình là tấm gương cho bọn
trẻ noi theo, hay vẫn cho rằng “Trẻ con chẳng biết gì?”.
Trong môi trường giáo dục của chúng ta phải có khen thưởng, động viên và
chê trách nhẹ nhàng, tinh tế. Trong tất cả các tiết học, việc động viên, khích lệ hoặc
chê trách tế nhị đúng cách luôn mang lại hiệu quả lớn. Nhưng khi việc học sinh
mắc phải sai phạm, phải chịu hình phạt thế nào cho đúng mức, cho hợp lý để đem
lại hiệu quả giáo dục? Đó là một vấn đề không dễ dàng.
Học sinh :
Ở học sinh chúng ta vẫn còn tồn tại những biểu hiện chưa tốt trong cách ứng
xử với cha mẹ, bạn bè; có em chưa vâng lời cha mẹ - thầy cô - anh chị, nhiều em
chưa hoàn thành ý thức tập thể, bảo vệ cây xanh, giữ gìn vệ sinh chung cho trường
lớp và nơi công cộng. Những tình trạng ấy vẫn xảy ra nhiều, hầu hết ở các học sinh
với những mức độ khác nhau. Đặc biệt có những em khi ở trên lớp thì có biểu hiện
ngoan, lễ phép... nhưng ngược lại về nhà thì lại chưa vâng lời, nói năng không lễ
phép, nũng nịu với cha mẹ.
Các em chưa nhận thức được hành vi của mình, khi có lỗi hoặc làm sai một
việc gì đó, các em chưa biết tự giác nhận lỗi hoặc xin lỗi …
Học sinh lớp 2 còn nhỏ vốn sống và khả năng ngôn ngữ của các em chưa
nhiều, diễn đạt câu trả lời còn cộc lốc, chưa biết chào hỏi lễ phép người lớn tuổi.
Học sinh có nhiều vấn đề khó khăn trong cuộc sống, học tập, học sinh không
thể tâm sự chia sẻ với thầy cô của mình, để lâu ngày bị dồn nén, bột phát thành
nhiều hành động xấu.

môn học này mà học sinh có được một hệ thống khái niệm, tri thức đạo đức. Nhờ
đó học sinh có thể hiểu được mục đích hành động, biết được cần phải làm gì, phân
biệt được “cái tốt và cái xấu”, “cái đạo đức và cái vô đạo đức” v.v… Trên cơ sở
đó, các em định hướng đúng trong các hiện tượng phong phú và phức tạp ở quanh
mình và có được tính tự giác trong quá trình học tập. Ở bậc Tiểu học, việc dạy và
học môn Đạo đức với tư cách là môn học cũng có tác dụng đặc biệt; thông qua việc
dạy học môn Đạo đức nhằm thực hiện được các nhiệm vụ:
- Cung cấp cho học sinh các tri thức sơ đẳng về các chuẩn mực đạo đức gắn với
kinh nghiệm sống, giúp học sinh hình thành, định hướng về giá trị đạo đức, biết các
nghĩa vụ, trách nhiệm và phân biệt được cái đúng cái sai, cái thiện cái ác. Từ đó có
nguyện vọng thông qua hoạt động mà đưa các chuẩn mực, các giá trị ấy vào mọi
lĩnh vực của cuộc sống (phù hợp với trình độ nhận thức, tập quán hành vi đạo đức
đang hình thành ở mỗi em).
- Trên cơ sở đó giúp các em tập luyện trong đời sống thực tế, hình thành các hành
vi, tập quán hành vi lành mạnh, góp phần tạo nên lối sống phù hợp với các chuẩn
mực đạo đức văn hóa.
Nếu thực hiện tốt các nhiệm vụ trên chúng ta đã và sẽ đặt được những viên gạch
hồng đầu tiên trong quá trình giáo dục, bồi dưỡng hình thành cơ sở ban đầu của tư
cách đạo đức người công dân, người chiến sĩ, những người chủ tương lai của đất
nước, của dân tộc. Các em cũng hiểu bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình
trong các mối quan hệ xã hội, đòi hỏi trong giao lưu, giao tiếp ứng xử phải tuân
theo các chuẩn mực đạo đức, nhất là trong điều kiện xã hội phát triển nhanh chóng,
mạnh mẽ và phức tạp trong cơ chế thị trường. Cụ thể là:
+ Các quan hệ với gia đình (cha mẹ, ông bà, anh chị em);
+ Quan hệ với nhà trường (thầy cô giáo, bạn bè);
+ Quan hệ với cộng đồng (làng xóm, đoàn thể, xã hội);
7


+ Thái độ và quan hệ với lao động, với công việc hàng ngày;

Việt, Tự nhiên và Xã hội, môn Toán đều có khả năng tiềm tàng, nếu được khai thác
tốt, đúng hướng, nhằm vào việc giáo dục đạo đức. Khi hướng dẫn học sinh học bài,
làm bài nhờ vận dụng đúng các nguyên tắc và phương pháp giáo dục và dạy học sẽ
giúp học sinh đi từ mức độ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp và nâng cao dần,
… sẽ tập luyện cho học sinh thói quen vượt khó khăn hoàn thành nhiệm vụ học tập,
bước đầu hoàn thành các phẩm chất ý chí, các nét tính cách, lòng yêu chân lý, yêu
văn hóa khoa học. Cũng nhờ vậy mà tầm mắt của các em ngày càng mở rộng, càng
phong phú thêm, góp phần làm cho kiến thức đạo đức, thái độ đạo đức về cuộc
sống, vốn sống, kinh nghiệm sống của các em phát triển dần.
8


Ví dụ: Bài tập đọc: Có công mài sắt, có ngày nên kim
Bài tập đọc: Chiếc bút mực
Ở môn Tiếng Việt qua các câu chuyện kể, các bài văn, bài thơ có nội dung
phong phú, sinh động ca ngợi vẻ đẹp của đất nước, ca ngợi văn hóa, các tập quán
truyền thống tốt đẹp của đất nước, của dân tộc nếu được khai thác, tiến hành đúng
đắn sẽ mở rộng được kiến thức về đạo đức, về truyền thống văn hóa, về kinh
nghiệm, lối sống mang tính dân gian, phản ánh bản sắc đạo đức của dân tộc. Tất cả
sẽ giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân
tộc, sự biết ơn và noi gương Bác Hồ, các vị anh hùng dân tộc.
Ví dụ: Bài tập đọc: + Chiếc rễ đa tròn
+ Ai ngoan sẽ được thưởng
+ Bóp nát quả cam
+ Lá cờ
+ Lượm
Giáo dục sự hiếu thảo, lòng biết ơn, chăm sóc giúp đỡ ông bà cha mẹ qua các
bài:
Bài tập đọc: + Thương Ông
+ Bà cháu

dung cần giáo dục cho học sinh.
- Tổ chức tốt các ngày chủ điểm trong năm học gắn với kỷ niệm các ngày lễ
lớn của dân tộc; thông qua đó giáo dục truyền thống cách mạng, lòng tự hào dân
tộc, ý chí quật cường và tình yêu quê hương đất nước cho học sinh. Thông thường
mỗi tháng trong năm học đều có ngày lễ lớn chẳng hạn:
+ Ngày 2/9 :Kỷ niệm cách mạng tháng Tám và Quốc khánh.
+ Ngày 20/10: Thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
+ 20/11: Ngày nhà giáo Việt Nam.
+ 22/12: Ngày thành Quân đội nhân dân Việt Nam
+ 03/02: Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.
+ 03/3 Ngày quốc phòng toàn dân.
+ 08/3: Ngày Quốc tế phụ nữ và khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
+ 26/3: Ngày thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
+ 10/3 âm lịch (thường vào tháng 4 dương lịch): Ngày giỗ Tổ Hùng Vương.
+ 30/4: Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
+ 19/5: Kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chủ Tịch.
+ 01/6: Ngày Quốc tế Thiếu nhi.
+ 27/7: Ngày thương binh liệt sĩ…
Ngoài ra còn nhiều ngày kỷ niệm khác nữa. Dựa vào các ngày lễ vừa nêu
trên, có thể tổ chức cho các em sinh hoạt theo chủ đề với nhiều nội dung phong phú
chẳng hạn:
+ Tháng 9-10: Hãy viết và nói gì về kỷ niệm một ngày khai trường để lại cho
em nhiều ấn tượng sâu sắc nhất. Hãy nói và kể những công việc em đã làm để làm
sạch đẹp trường lớp…;
+ Tháng 11: Trao đổi về tình thầy trò, ca hát, đọc thơ, kể chuyện, tiểu phẩm
nói về thầy giáo, cô giáo;
+ Tháng 12: Hãy tìm tấm gương về người con anh hùng của đất nước, của quê
hương;
+ Tháng 01-02: Mùa xuân và ước mơ của các em về nghề nghiệp; tìm hiểu
lịch sử truyền thống nhà trường, truyền thống văn hóa địa phương.

11


Hội thi văn nghệ còn là ngày hội của các em, mang tính chất của cuộc thi tài,
nên đã tạo được bầu không khí thi đua hào hứng, sôi nổi, hấp dẫn. Từ đó nếp sống
đạo đức của các em sẽ có chuyển biến tốt, trước hết là tinh thần đoàn kết, ý thức tập
thể, biết giúp đỡ nhau trong mọi hoạt động. Qua hoạt động tập thể, lòng nhân ái,
tính vị tha, tinh thần dũng cảm, trách nhiệm vì tập thể được thể hiện rõ và chính
những hoạt động đó đã đẩy mạnh phong trào học tập của các em hơn.

Hội thi văn nghệ chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
+ Hoạt động Chia khó vùng cao: Quyên góp ủng hộ học sinh bị thiên tai lũ
lụt xã Mường Lý, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá; hoạt động Tết vì bạn nghèo:
quyên góp ủng hộ học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong trường. Đây là những
việc làm vô cùng ý nghĩa nhằm động viên, chia sẻ giúp họ vơi đi phần nào những
khó khăn, mất mát và vững tâm vươn lên trong cuộc sống. Qua đó giúp học sinh ý
thức sâu sắc và xem đây là việc làm thiết thực, ý nghĩa và đồng lòng đồng sức thực
hiện trên tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, hướng về cộng đồng, phát huy truyền
thống Tương thân tương ái, Lá lành đùm lá rách…
12


Lễ trao quà cho học sinh vùng lũ xã Mường Lí, huyện Mường Lát, Thanh Hoá

+ Tham quan, dã ngoại: Học sinh được tham gia các hoạt động Thi nấu
cơm,… tại nông trại GOWDEN COW, Thường Xuân, Thanh Hoá. Các em
hiểu biết thêm về trò chơi dân gian độc đáo, mang tính cộng đồng, đoàn kết
cao; mang đậm giá trị văn hoá truyền thống của người Việt Nam
gắn với những nét đặc trưng riêng của nền nông nghiệp lúa nước.
Nó phản ánh đậm nét đời sống lao động của người dân trồng lúa.

địa phương. Cụ thể là:
- Xác định rõ nhiệm vụ của nhà trường, gia đình dựa trên cơ sở vai trò, chức
năng và thế mạnh của mỗi bên. Nhà trường là cơ quan chuyên trách về giáo dục. Vì
vậy, nhà trường và giáo viên có nhiệm vụ thông báo kết quả học tập, rèn luyện của
học sinh ở trường, thông báo chủ trương, kế hoạch công tác của nhà trường cho cha
mẹ học sinh. Chủ động thu hút cha mẹ học sinh tích cực tham gia công tác giáo
dục. Nhà trường phải chú ý đúng mức đến một số nội dung liên quan đến việc giáo
dục đạo đức cho học sinh như trao đổi về ưu, nhược điểm ở nhà trường, ở gia đình
để đưa ra biện pháp giáo dục phù hợp. Đặc biệt, nội dung bồi dưỡng kiến thức sư
phạm, kiến thức gia đình cho cha mẹ học sinh đã trở thành mối quan tâm của cả hai
phía.
- Xây dựng quy định nếp sống hằng ngày ở nhà, ở trường, ở địa phương của
học sinh làm cơ sở cho việc thống nhất yêu cầu, nội dung giáo dục cũng như việc
đánh giá kết quả giáo dục. Nội dung của bản quy định bao gồm các việc làm và các
quan hệ hằng ngày của học sinh ở nhà, ở trường, ở địa phương; Nội dung của từng
việc làm, yêu cầu cần đạt được khi thực hiện. Các việc làm đó được sắp xếp theo
một trật tự nhất định tùy điều kiện cụ thể của gia đình, nhà trường, địa phương và
trình độ phát triển của học sinh từng lớp. Quy định này là do giáo viên cùng cha mẹ
học sinh xây dựng từ đầu năm học trong phiên họp cha mẹ học sinh đầu năm.
Những điều chỉnh cần thiết sẽ được hai bên thông báo kịp thời cho nhau trong suốt
năm học.
15


- Xác định những hình thức phối hợp nhằm đảm bảo mối quan hệ thường
xuyên giữa gia đình, nhà trường, xã hội. Hình thức trao đổi trực tiếp được thực hiện
qua việc giáo viên đến thăm gia đình học sinh, qua các cuộc họp cha mẹ học sinh,
qua điện thoại. Những cuộc gặp gỡ, trao đổi trực tiếp nêu trên cho phép được đề
cập nhiều vấn đề và đi sâu vào từng trường hợp cụ thể, tạo được mối quan hệ thân
mật hiểu biết lẫn nhau giữa giáo viên và cha mẹ học sinh, giúp giáo viên hiểu rõ

cách lớn giữa nói và làm.
Vì vậy, muốn giáo dục kịp thời, chấn chỉnh những sai lệch cho các em trong
cuộc sống, học tập hàng ngày tôi tiến hành thực hiện như sau: Mời phụ huynh học
sinh họp, nêu lý do, tầm quan trọng của việc giáo dục kịp thời những hành vi ứng
16


xử cho học sinh. Từ đó giáo viên cùng phụ huynh ký bản thoả ước, cùng phối hợp
thực hiện giáo dục con em ở nhà, đồng thời luôn có sự thông tin kịp thời giữa giáo
viên chủ nhiệm và phụ huynh về hành vi đạo đức của các em. Vào đầu năm học tôi
cho mỗi học sinh chuẩn bị một quyển vở để ghi chép và trao đổi những điều giáo
viên cùng phụ huynh học sinh. Qua thực hiện tôi đã nhận được thông tin phản hồi
của phụ huynh học sinh hàng tuần. Với cách làm này nó giúp chấn chỉnh kịp thời
những hành vi đạo đức mà các em biểu hiện chưa đúng, góp phần rất lớn trong
công tác giáo dục đạo đức học sinh.
2.3.4. Giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh qua các câu thành ngữ - tục
ngữ, ca dao mà ông cha ta đã đúc kết
Trong giao tiếp thông qua “cử chỉ hành vi”, ta có thể đánh giá phẩm chất đạo
đức con người, ta có thể đánh giá người đó có biết lễ nghĩa hay không? Lễ theo
quan niệm của người xưa có tác dụng điều chỉnh hành vi con người, hướng đến
những điều đúng và đó là những chuẩn mực, những quy tắc trong phạm vi giao
tiếp, ứng xử mà bất kỳ ai, dù ở cương vị nào cũng cần phải thực hiện cho phù hợp
với vai trò và vị trí, chức trách của mình trong mọi tình huống. Từ trong cuộc sống
hằng ngày ở gia đình cho đến lúc hội hè, đình đám ở chỗ đông người. Người có lễ
nghĩa là người lịch sự, biết giao tiếp, ứng xử phù hợp với mọi người trong các tình
huống khác nhau, không tỏ ra thô lỗ cộc cằn, hấp tấp...cho nên họ cũng là người có
văn hóa. Ông cha ta đã có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”
Tôi cho rằng việc nhấn mạnh cho học sinh thấy được: “ Tiên học lễ, hậu học
văn” nghĩa là, trước tiên con người phải học lễ nghĩa đạo đức, đạo lí làm người, sau
mới học đến văn chương, chữ nghĩa và các lĩnh vực khác. Khi giáo dục cho học

Hay:.
“Cha đưa cả tấm lưng gầy
Chở che con được tới ngày hôm nay”,
“Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ
Mây trời lồng lộng không phủ kín lòng cha”,
“Chỗ ướt mẹ nằm chỗ ráo con lăn”
Đó cũng chính là bài học đầu đời mà ai cũng từng học qua. Sự nghiêm khắc
của người cha, sự hy sinh thầm lặng của người mẹ đã cho chúng ta khôn lớn theo
từng ngày. Cha mẹ thương con vô bờ bến không gì có thể sánh bằng, vì vậy làm
con ở tuổi nào cũng phải yêu kính cha mẹ.
Người có nhân cách là người được giáo dục và phải có ý thức tự giáo dục,
học tập những việc được coi là bình thường đơn giản nhất như: “ Học ăn, học nói,
học gói, học mở”. Đến việc học tập và rèn luyện những phẩm chất cơ bản bên trong
như: Lòng nhân ái, đức khiêm tốn, sự chân thành, lòng vị tha, và sự hướng thiện,
hướng vào những mục tiêu cao thượng. Tôi cho học sinh thấy được giá trị của việc
được giáo dục và rèn luyện nhân cách qua những việc bình thường trong cuộc sống
hằng ngày, ví dụ như việc rèn luyện về “lời ăn tiếng nói” sao cho lịch sự và có văn
hóa. Ca dao có câu:
“ Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe”
Hay
“Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Truyền thống đạo lý của dân tộc ta đã quy định một số khuôn mẫu làm người,
trong đó có mối quan hệ của con cái đối với cha mẹ,con cháu đối với ông bà. Ngoài
lòng hiếu kính thì người con còn có bổn phận phải biết vâng lời dạy bảo của các
bậc sinh thành Bổn phận đó được ông bà ta nhắc nhở qua câu tục ngữ:
“ Cá không ăn muối cá ươn,
18


đức xấu như nói chuyện với bạn xưng hô là “mi – tau” trong lúc chơi đùa, không
biết giúp đỡ người khác,… Việc giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh không chỉ
dành riêng cho các buổi học, các giờ lên lớp mà phải luôn được quan tâm mọi lúc
mọi nơi. Việc làm này đòi hỏi người giáo viên phải có tâm huyết, yêu thương học
sinh hết mực do phải mất nhiều thời gian. Để thực hiện tốt việc giáo dục hành vi
đạo đức cho học sinh mọi lúc mọi nơi tôi phải thường xuyên để mắt đến tất cả
những sinh hoạt của học sinh bên trong nhà trường từ trong học tập, vui chơi, giao
tiếp với thầy cô, người lớn, bạn bè, lúc ăn, giờ ngủ… khi các em có những biểu
hiện bất thường về việc vi phạm hành vi đạo đức, tôi kịp thời điều chỉnh cho các
em một cách thật tế nhị, mềm dẻo, linh hoạt, tránh những lời nói xúc phạm như
quát, mắng, phạt học sinh. Không chỉ dừng lại ở khía cạnh giáo dục hành vi đạo
19


đức đối với những học sinh vi phạm mọi lúc mọi nơi, mà tôi còn thường xuyên, kịp
thời tuyên dương những học sinh có những biểu hiện hành vi đạo đức tốt, nhằm lan
toả, nhân rộng hành vi đạo đức tốt trong lớp.
Tóm lại: Tất cả các biện pháp trên đều nhằm đạt tới một mục đích cuối cùng
là: Giáo dục học sinh thực hiện tốt “5 Điều Bác Hồ dạy”, biết ứng xử tốt nhất các
mối quan hệ với bản thân, gia đình, nhà trường và biết giữ gìn bảo vệ vệ sinh môi
trường nơi công cộng. Các em nắm vững các chuẩn mực hành vi đạo đức; biết thực
hành vận dụng hàng ngày để những hành vi đạo đức đó trở thành phẩm chất đạo
đức tốt của người học sinh trong nhà trường. Sau này lớn lên các em sẽ trở thành
những công dân có ích cho đất nước.
2.4. Hiệu quả:
Qua một thời gian tìm hiểu thực trạng, nghiên cứu và qua quá trình thực
hiện các biện pháp nêu trên vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà
trường tôi thấy các em học sinh có chuyển biến rõ rệt, có ý thức cao trong học tập
và rèn luyện, được đông đảo phụ huynh phản hồi đồng tình ủng hộ, biểu hiện cụ thể
như sau:

điều kiện thường xuyên tiếp xúc với các em, người giáo viên Tiểu học có cơ hội
hiểu biết đầy đủ đặc điểm tâm lí, sinh lí của học sinh, theo dõi được sự phát triển
của từng em để có biện pháp giáo dục phù hợp.
Để thực hiện được nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học, người
giáo viên cần:
- Góp phần vào việc xây dựng một bầu không khí lành mạnh (đầy lòng
thương yêu, tin cậy, an toàn) trong trường và lớp.
- Hiểu về đặc điểm phát triển của trẻ, lựa chọn biện pháp giáo dục với cả lớp
và từng học sinh.
- Tiến hành giáo dục đạo đức thông qua những tình huống cụ thể. Hết sức
tránh lý thuyết và hô hào, trừ những trường hợp đặc biệt.
- Tổ chức việc giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài lớp và ngoài
giờ, kết hợp chặt chẽ với giáo dục ở lớp.
- Sử dụng một cách thận trọng các biện pháp giáo dục đạo đức trực tiếp, vì
mỗi phương pháp giáo dục đều có hạn chế riêng của nó.
- Chớ quên rằng khi dạy bất kỳ môn học nào, người giáo viên đều làm nhiệm
vụ giáo dục giá trị đạo đức. Cần làm cho học sinh hiểu môn học trong tổng thể; nội
dung thông tin, phương pháp, những giá trị có trong đó.
- Người giáo viên có tác dụng giáo dục bằng toàn bộ nhân cách của mình. Trẻ
em nhìn người giáo viên một cách tổng quát, vì vậy người giáo viên cần không
ngừng tu dưỡng đạo đức. “Tấm gương bao giờ cũng có giá trị hơn lời giáo huấn”
điều này nhắc nhở rằng người giáo viên cần phải trung thực, thẳng thắn trong cách
đối xử với học sinh. Nếu người giáo viên yêu môn học nào, học sinh cũng yêu môn
học đó; Nếu người giáo viên quan tâm bảo vệ môi trường, học sinh cũng sẽ quan
tâm đến điều đó; Nếu người giáo viên làm việc và sinh hoạt đúng giờ, cẩn thận, có
tinh thần trách nhiệm, học sinh sẽ cố gắng được như vậy. Chúng ta luôn luôn lưu ý
rằng giáo dục đạo đức không chỉ dừng ở việc hình thành thói quen, mà điều chủ
yếu là phải từ việc luyện thói quen hành vi đạo đức mà xây dựng được niềm tin đạo
đức, làm cơ sở cho ứng xử đạo đức thường xuyên của các em.
Trên đây là một số giải pháp mà tôi đã vận dụng trong quá trình giáo dục

không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện

Lê Thị Anh

22


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK Đạo đức 2 - Nhà xuất bản giáo dục
2. Tài liệu hướng dẫn giảng dạy Đạo đức lớp 2- Nhà xuất bản giáo dục
3.Tham khảo bài viết phóng sự trên báo điện tử
4. Đạo đức và phương pháp dạy học đạo đức ở trường Tiểu học - Nguyễn Sinh
Huy.
5. Tâm lý học Tiểu học - Bùi Văn Huệ - Đại học Sư phạm I Hà Nội.
6. Một số vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh - Đặng Vũ Hoạt - Viện nghiên cứu
khoa học giáo dục.
7. Vấn đề giáo dục - Hồ Chí Minh - Giáo dục học 1990.
8. Nghiên cứu giáo dục - Tạp chí giáo dục.
6. Tâm lý giáo dục học sinh Tiểu học - Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội 1998.
10. Phát triển nhân cách học sinh Tiểu học - Ma Văn Hiệp - Trung tâm giáo dục
thường xuyên tỉnh Thái Nguyên 1998.
11. Một số phương pháp tiếp cận giáo dục đạo đức. NXB giáo dục H, 1999.
12. Chương trình tiểu học năm 2000. Bộ giáo dục và đào tạo.
13. Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 giáo dục Tiểu học.
14. Tạp chí giáo dục số 85 năm 2004. Bộ giáo dục và đào tạo.
15. Trang www.moet.gov.vn của Bộ giáo dục và đào tạo.

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status