SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP
4B TRƯỜNG TIỂU HỌC LAM SƠN 1 BẰNG VIỆC THIẾT
KẾ SÁNG TẠO BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ SINH ĐỘNG TRONG
DẠY HỌC KHOA HỌC LỚP 4
Người thực hiện: Đặng Thị Hạnh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Lam Sơn 1
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Khoa học
THANH HÓA NĂM 2017
1
1
MỤC LỤC
2
2
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong nền hội nhập kinh tế quốc tế, nền giáo dục Việt Nam đã thực sự đổi
mới về căn bản và toàn diện. Đó là “Giáo dục con người Việt Nam phát triển
toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân;
Đó là điều mà tôi luôn trăn trở. Nên tôi đã mạnh dạn nghiên cứu: “Kinh nghiệm
rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 bằng việc
thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học lớp
4”. Qua đó góp một phần nhỏ vào thực hiện phong trào thi đua mà Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã và đang phát động.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở dạy học sao cho học sinh vẫn đảm bảo phát huy tối đa tính tích
cực, chủ động sáng tạo của người học, giáo viên chỉ tổ chức, hướng dẫn. Chính
3
3
vì thế tôi đã Nghiên cứu sách “Khoa học lớp 4” để nắm được nội dung chương
trình, trên cơ sở lí luận thực tiễn, phân tích những ưu điểm tồn tại để tìm ra
những biện pháp, giải pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy rèn kĩ
năng sống cho học sinh. Qua đó tạo sự tự tin, tích cực, chủ động và hứng thú
học tập cho các em và thay đổi những sai lầm, thiếu sót về kĩ năng sống cho học
sinh khi học môn Khoa học.
3. Đối tượng nghiên cứu
Rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 bằng
việc thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học
lớp 4 chính là đối tượng nghiên cứu của đề tài này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích đề ra của sáng kiến: “Kinh nghiệm rèn kĩ năng sống
cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 bằng việc thiết kế sáng tạo bài
giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học lớp 4”, tôi đã xử dụng các
phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp khảo sát.
- Phương pháp thống kê.
Khoa học ở Tiểu học: môn Khoa học giúp học sinh tìm hiểu các kiến thức khoa
học đơn giản, cơ bản về con người và sức khoẻ, về tự nhiên, con người với thế
giới tự nhiên, chú trọng đến việc hình thành và phát triển kĩ năng như quan sát,
dự đoán, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, tìm kiếm thông tin, phân tích, so sánh để
giải đáp thắc mắc… đặc biệt chú trọng đến kĩ năng vận dụng kiến thức để ứng
xử thích hợp trong cuộc sống. Với những đặc điểm về đối tượng và phương
pháp nghiên cứu như vậy môn Khoa học ở Tiểu học có khả năng lớn trong giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh. Thực hiện tốt giáo dục KNS trong dạy học môn
Khoa học sẽ góp phần chuyển các kiến thức thành thái độ và hành vi tích cực,
phù hợp, giúp học sinh có thể xử trí có hiệu quả các tình huống thực tế trong
cuộc sống, giúp cho việc học tập môn Khoa học có ý nghĩa, mặt khác giúp các
em nắm vững kiến thức khoa học. Để thực hiện tốt được vấn đề này cần hình
thành cho các em tình yêu đối với khoa học. Nội dung dạy học mô phỏng sinh
động kiến thức khoa học và cách thức hình thành và phát triển năng lực ứng
dụng cho học sinh trong dạy học môn khoa học ở trường Tiểu học mang tính
quyết định đối với việc hình thành những KNS.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Hiện nay, ở các trường Tiểu học nói chung, hầu hết các giáo viên dạy học
Khoa học lớp 4 chưa thực sự sáng tạo trong việc tổ chức cũng như tìm ra
phương pháp dạy học giúp học sinh ứng dụng những kiến thức khoa học đó vào
cuộc sống của các em (hình thành KNS thông qua tiết học). Hầu hết giáo viên
chưa nhận thức đúng đắn được vai trò quan trọng này trong dạy học. Việc rèn
5
5
luyện kỹ năng sống cho trẻ chưa thu hút được trẻ và các bậc phụ huynh cùng
tham gia vào công tác giáo dục rèn kỹ năng sống cho các em. Đặc biệt có rất ít
giáo viên đầu tư thời gian, công sức vào việc soạn giảng giáo án điện tử trong
dạy học nhằm mục đích phát triển và nâng cao kỹ năng sống cho học sinh. Vì
%
45,8
Kĩ năng sống chưa
tốt
SL
9
%
37,5
Từ kết quả thực trạng trên cho thấy năng lực ứng dụng kiến thức khoa học
vào cuộc sống của học sinh lớp tôi còn nhiều hạn chế. Các em chưa có những kĩ
năng cơ bản trong cuộc sống cũng như chưa có niềm đam mê học tập môn học,
nhất là sự tìm tòi, sáng tạo trong thực hành ứng dụng các kiến thức khoa học
được học trên ghế nhà trường vào phục vụ bản thân, gia đình và xã hội còn yếu.
Chính vì vậy mà tôi đã mạnh dạn đưa một số giải pháp trong thực tiễn giảng dạy
và công tác giúp các em hình thành và phát triển niềm đam mê nghiên cứu khoa
học ngay từ cấp Tiểu học đồng thời hình thành và rèn các kĩ năng sống tốt cho
học sinh. Như vậy các em sẽ hứng thú và say mê học tập môn học này, đáp ứng
được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
3. Các giải pháp đã sử dụng để rèn kĩ năng sống cho học sinh bằng việc
thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học
lớp 4
Thực hiện “Rèn kĩ năng sống cho học sinh bằng việc thiết kế, sáng tạo bài
giảng điện tử trong dạy học môn Khoa học lớp 4” để giúp học sinh có kiến thức
cơ bản, ban đầu về con người và sức khỏe, cách chăm sóc bản thân; hiểu bản
6
6
nhiên; Phân tích và phán đoán những tình huống có nguy cơ với bản thân, tự
nhiên.
+ Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề: Khả năng quan sát, tìm
kiếm các thông tin, phân tích và đánh giá các lựa chọn, từ đó phán đoán các
nguy cơ, tư duy sáng tạo để ứng xử thích hợp trong một số tình huống có liên
quan đến sức khoẻ của bản thân, gia đình và môi trường xung quanh.
+ Kĩ năng làm chủ bản thân: Khả năng tự phục vụ; đặt mục tiêu; lập kế
hoạch cho bản thân; đảm nhận trách nhiệm, tự giác thực hiện các quy tắc vệ
sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng, tích cực thời gian bảo vệ môi
trường xung quanh, kiểm soát cảm xúc, ứng phó phù hợp; tự bảo vệ bản thân
trước các tác nhân từ môi trường.
Khả năng giáo dục KNS trong môn Khoa học lớp 4 không chỉ thể hiện ở
nội dung môn học ở từng bài học cụ thể mà còn được thể hiện ở phương pháp
dạy học đặc trưng, đổi mới của môn học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động
7
7
và sáng tạo của người học. Đặc biệt để giáo dục và phát triển KNS cho học sinh
một cách hiệu qủa nhất thì vai trò quan trọng lại ở sự sáng tạo, linh hoạt trong
vận dụng phương pháp và hình thưc tổ chức lớp học của giáo viên.
3.2. Vận dụng linh hoạt và sáng tạo xây dựng và thiết kế giáo án trình chiếu
phù hợp để phát triển kĩ năng sống cho học sinh lớp 4
Không phải bài học nào cũng làm được đồ dùng dạy học và giáo án trình
chiếu. Chính vì vậy, giáo viên phải chọn lựa nội dung, kiến thức phù hợp trong
việc ứng dụng CNTT để tạo ra những đoạn clip ảnh hay tạo các slide hình, slide
chữ sinh động, hấp dẫn phù hợp đặc điểm lứa tuổi học sinh, với nội dung bài
học. Từ đó, giúp học sinh chủ động, tích cực học tập, yêu thích môn học, có kĩ
năng sống tốt. Đồng thời hiểu rõ tầm quan trọng của việc hình thành và phát
triển KNS phù hợp với lứa tuổi. Như vậy sẽ tạo được hiệu quả giờ học cao nhất.
8
8
3.3.1. Thiết kế sáng tạo sinh động một số hiện tượng tự nhiên trong bài giảng
điện tử
Hiện tượng tự nhiên là những hiện tượng diễn ra trong thế giới tự nhiên
như gió, mưa, sấm chớp, mây, bão, lũ, động đất, sóng thần,… Song sự hình
thành và phát triển của những hiện tượng tự nhiên này luôn là những bí ẩn thú vị
mà con người mong muốn khám phá và chế ngự nó. Ở chương trình môn khoa
học lớp 4, để giúp học sinh hiểu biết được bản chất của một số hiện tượng tự
nhiên như: mây được hình thành như thế nào? Nước mưa từ đâu ra? Vòng tuần
hoàn của nước trong tự nhiên diễn ra như thế nào?,... cũng không mấy đơn giản.
Vậy làm thế nào để việc dạy học các kiến thức khoa học này đạt hiệu quả cao và
hình thành kĩ năng ứng dụng trong cuộc sống con người, tôi đã thiết kế và thực
hiện một số bài giảng điện tử trong dạy học môn Khoa học lớp 4 như sau:
Mô phỏng qua bài 23 “Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên” Khoa
học 4 - (trang 48-49)
Qua việc tổ chức cho học sinh quan sát và đọc kĩ thông tin các hình 1-2
trong SGK Khoa học 4, trang 48-49 ( Các em đã có hiểu biết ban đầu về sự hình
thành của mây là do hơi nước bốc lên từ biển, hồ, ao,..gặp lạnh ngưng tụ thành
mây, còn các hạt nước rơi xuống từ những đám mây đó thì gọi là mưa qua bài
22 SGK Khoa học 4 trang 46-47). Từ đó, tôi yêu cầu các nhóm tái hiện lại
những công việc mình đã làm bằng cách đóng vai trong nhóm (vai nước, mây và
mưa) mô tả lại sự hình thành của mây, mưa. Sau đó tôi giúp các em nắm rõ lại
bản chất của sự hình thành mây, mưa và vòng tuần hoàn hoàn của nước trong tự
nhiên một cách cụ thể, rõ ràng hơn bằng việc tạo một clips khoa học sinh động
trình chiếu cho học sinh quan sát và kết hợp cho đại diện nhóm thể hiện nhập vai
“Tôi là giọt nước nhỏ bé, đáng yêu”.
mát mẻ, dễ chịu ; Ảnh 2: Thời tiết sương mù; Ảnh 3: Gió bão; Ảnh 4: Thời tiết
sẽ nắng; Ảnh 5: Trời sẽ có mưa to, gió lớn. Điều đặc biệt hơn là sau bài học, các
em đã có năng lực tự phục vụ bản thân, thể hiện là các em chủ động trong việc
chuẩn bị cho mình trang phục, mũ nón, áo mưa trước khi đi học hay sắp xếp
công việc trong gia đình cho phù hợp với thời tiết. Ngoài ra, để giúp học sinh
hiểu thêm được vẻ đẹp kì lạ và cũng rất huyền bí của thiên nhiên, tôi đã tạo thêm
những slises hình ảnh mây sinh động cho các em quan sát như: ảnh mây có hình
dáng giống con người, giống đĩa bay,…
Thông qua việc mô phỏng sinh động những kiến thức khoa học về sự hình
thành mây, mưa trong tự nhiên để trình chiếu cho học sinh quan sát, mô tả lại
những kiến thức khoa học ứng dụng đó trong tiết học, tôi thấy học sinh không
chỉ nắm rõ bản chất và thuộc tính của mây, mưa, vòng tuần hoàn nước trong tự
nhiên mà các em còn có khả năng phán đoán thời tiết và nâng cao năng lực tự
phục vụ bản thân, gia đình trong cuộc sống thường nhật. Hơn nữa, các em còn
rất thích thú học tập, thích khám phá và giải thích các hiện tượng tự nhiên.
3.3.2. Thiết kế sáng tạo mô phỏng sinh động một số thí nghiệm khoa học ứng
dụng trong thực tiễn cuộc sống cho học sinh lớp 4.
Trong chương trình khoa học lớp 4, có những kiến thức khoa học khi
cung cấp cho học sinh chúng ta cần giúp các em trải nghiệm, khám phá những
kiến thức khoa học ấy bằng việc thực hành làm những thí nghiệm. Song, có một
11
11
số thí nghiệm khi tiến hành thực hiện lại gặp khó khăn do đồ dùng thí nghiệm
thiếu thốn hay việc thực hiện phức tạp, tính an toàn thấp. Chính vì vậy mà việc
tạo ra những hình ảnh động hay những clips khoa học nhằm mô phỏng lại quá
trình thí nghiệm đó là giải pháp tối ưu nhất trong dạy học kiến thức khoa học
này.
Mô phỏng qua bài 27 “Một số cách làm nước sạch” SGK Khoa học 4trang 56-57
Chùm ảnh người dân địa phương xử lí lọc nước nhiễm phèn, đá vôi
Có thể nói, khi áp dụng cách dạy này trong môn khoa học lớp 4 đã phát
huy năng lực ứng dụng khoa học của học sinh, huy động được cộng đồng cùng
tham gia tích cực vào công tác giáo dục đồng thời động viên, khích lệ học sinh
có thêm niềm đam mê học tập môn học, hình thành sở thích nghiên cứu khoa
học từ nhỏ. Cụ thể, các em đã thành lập “Nhóm bạn yêu thích khoa học”, ban
đầu chỉ có số ít học sinh trong lớp tham gia, sau đó đã có thêm nhiều học sinh
không chỉ ở lớp mà còn ở các khối lớp khác cùng tham gia, đổi tên là “Câu lạc
bộ bạn yêu khoa học”. Hàng tuần, trong giờ sinh hoạt ngoại khóa, các em dành
thời gian cùng nhau trao đổi, làm một số thí nghiệm hay ghi một số câu hỏi đố
vui liên quan đến môn học lên bảng Đội, kết hợp với cô Tổng phụ trách và các
13
13
cô giáo chủ nhiệm hướng dẫn đã mang lại hiệu quả rất tốt. Ví dụ như: làm thí
nghiệm lọc nước sạch từ nước có cặn bẩn; làm bè cây xanh làm sạch nguồn
nước ao, hồ;…
3.3.3. Thiết kế sáng tạo mô phỏng sinh động kiến thức về vật chất và năng
lượng trong bài giảng điện tử môn Khoa học lớp 4
Chủ đề Vật chất và năng lượng trong môn khoa học lớp 4 là chủ đề cung
cấp những kiến thức về các điều kiện vật chất và năng lượng phục vụ con người
và sản xuất. Trong tự nhiên, nguồn nước sạch đang ngày càng bị ô nhiễm, ngày
càng hạn hẹp do ý thức người dân trong sử dụng quá lãng phí nguồn nước sạch
này. Vì vậy làm thế nào để hình thành ý thức tiết kiệm nước của học sinh, nâng
cao trách nhiệm trong việc nhắc nhở mọi người xung quanh cùng tham gia công
việc tiết kiệm nước sạch hàng ngày, hàng giờ một cách trực quan và tạo hiệu quả
nhanh nhất, đó là điều mà tôi quan tâm trong dạy học môn khoa học 4.
Khi dạy bài 29 “Tiết kiệm nước” - SGK Khoa học 4 - trang 60-61, để giúp
Trong thế giới tự nhiên không thể thiếu các loài thực vật và động vật. Quá
trình trao đổi chất của thực vật và động vật giúp cân bằng hệ sinh thái trong tự
nhiên. Đặc biệt, thông hiểu quá trình này sẽ giúp học sinh vận dụng những kiến
thức về nhu cầu nước, ánh sáng, không khí, chất khoáng của động thực vật trong
việc chăm sóc cây trồng, vật nuôi. Vì vậy, tôi đã thiết kế và thực hiện một số bài
giảng điện tử mô phỏng sinh động các kiến thức đó, cụ thể là:
a) Mô phỏng qua bài 60 “Nhu cầu về không khí của thực vật?” (SGK Khoa học
lớp 4 – trang 120-121.
Quá trình trao đổi khí của thực vật trong quang hợp có vai trò quan trọng
đối với đời sống của mọi sinh vật trên trái đất, trong đó có con người. Nó đảm
bảo sự cân bằng ô-xi và khí các-bô-níc thuận lợi cho các hoạt động sống của mọi
sinh vật. Để giúp học sinh hiểu rõ quá trình trao đổi khí trong quang hợp của
thực vật, sau khi cho các em thảo luận trong nhóm, tôi tạo hiệu ứng sinh động
mô phỏng lại quá trình này trình chiếu cho học sinh quan sát và giúp các em
Các-bô-níc
khắc sâu, nắm vững quá trình trao đổi khí của thực
vật.
Các-bô-níc
Hình 1
Sơ đồ sự trao đổi khí
trong
hô hấp
Sơ đồ
sự trao
đổi của
khí thực
trongvật.
quang hợp của thực vật.
Kết quả thí nghiệm
Sẽ chết sau con chuột trong
Sẽ chết sau con chuột trong hộp 4 và hộp 2
Hộp 2
Hộp 1
Sống bình thường
Hộp 3
Sống không khỏe m
Sẽ chết trước tiên
Hộp 4
Hộp 5
Hiệu ứng động thể hiện kết quả thí nghiệm chứng tỏ động vật cần gì để sống?
Qua được quan sát các hiệu ứng sinh động kết hợp với sự tư duy phong
phú của mình, tôi thấy các em rất hứng thú và tập trung cao vào bài học, nhanh
chóng nắm bắt được nội dung yêu cầu của hoạt động, các kĩ năng hợp tác của
học sinh cũng được nâng cao.
Để giúp học sinh có thêm khả năng ứng dụng kiến thức đã học vào thực
tiễn cuộc sống bản thân, phần liên hệ thực tế tôi đã yêu cầu các nhóm thảo luận,
16
kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, phục vụ cho bản thân, gia đình và cộng
đồng.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Sau khi áp ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp dạy
học “rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 bằng
việc thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học
lớp 4” tôi thấy mỗi giờ học khoa học lớp 4 đã thực sự hấp dẫn người học, học
sinh tiếp thu bài nhanh, kiến thức được khắc sâu, mở rộng; Các em thực sự tự
giác, tích cực và sáng tạo trong mỗi giờ học và các giờ ngoại khóa, trong việc
hợp tác cùng nhau làm các thí nghiệm ứng dụng; Các kĩ năng như: hoạt động
nhóm, giao tiếp, làm chủ bản thân, tự phục vụ, đặt câu hỏi và giải quyết vấn đề,
…ở học sinh ngày một nâng cao. Ngoài ra, các em còn biết cách chăm sóc bản
thân, thu vén gia đình, tiết kiệm nước trong sinh hoạt,…hay có ý thức và yêu
thích chăm sóc cây trồng, vật nuôi trong nhà, thích tạo môi trường sống xanhsạch-đẹp. Đặc biệt, các em đã yêu thích môn học, thích được khám phá kiến
17
17
thức khoa học tự nhiên bổ ích. Do đó chất lượng dạy học môn học được nâng
lên một cách rõ rệt, đồng thời kĩ năng sống của các em tốt lên rất nhiều.
Từ kết quả trên cho thấy việc thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động
mô phỏng kiến thức khoa học lớp 4 nhằm rèn kĩ năng sống cho học sinh mà tôi
đã tiến hành thực sự đem lại hiệu quả như mong đợi, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 tôi
phụ trách. Điều đó được thể hiện ở bảng thống kê sau:
Tổng số
HS
24
thành công nhất định. Được sự giúp đỡ chỉ đạo của Ban giám hiệu cùng với
18
18
các đồng nghiệp trong trường, tôi thực sự phấn khởi vì đã hình thành và bồi
dưỡng cho học sinh các kĩ năng sống chăm sóc sức khoẻ, thân thiện và có ý
thức trách nhiệm cao với xây dựng và bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp , ý
thức bảo vệ nguồn nước, kĩ năng làm việc hợp tác, kĩ năng giải quyết vấn
đề,… Các em hứng thú học tập môn học, nắm bài nhanh và vững kiến thức .
Như vậy thông qua các bài giảng điện tử được thiết kế sáng tạo và sinh
động trong dạy học môn Khoa học lớp 4, giáo viên đã thực sự tạo được sự thân
thiện, gần gũi hơn với học sinh, giúp các em có ý thức và trách nhiệm với bản
thân và môi trường sống xung quanh, thêm yêu cuộc sống và thiên nhiên. Hầu
hết các em đều tự tin, hứng thú và tích cực trong học tập. Từ đó cho thấy muốn
giờ học sinh động, hấp dẫn và đạt hiệu quả thì mỗi giáo viên phải biết lựa chọn,
thiết kế và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức
dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin một cách khéo léo, khoa học và hợp lí để
giúp học sinh thấy rõ được ý nghĩa và vai trò của môn học, qua đó rèn kĩ năng
sống ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày. Đó chính là chúng ta đã cùng nhau
góp phần làm cho các phong trào thi đua đạt nhiều kết quả tốt đẹp.
2. Kiến nghị
Để rèn kĩ năng sống cho học sinh bằng việc thiết kế sáng tạo bài giảng
điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học lớp 4 được đồng bộ hoá ở các
nhà trường, tôi xin đề xuất một số vấn đề sau:
- Mỗi giáo viên cần linh hoạt trong đổi mới phương pháp dạy học để giáo
dục ý thức và trách nhiệm cho học sinh. Đi đôi với giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh. Vì hiệu quả giáo dục thông qua môn học muốn bền vững thì phải hình
thành cho các em sự tự giác, những thói quen tốt, những kỹ năng sống liên quan
đến kiến thức học tập.
Đặng Thị Hạnh
XÁC NHẬN CỦA HĐ SK THỊ XÃ BỈM SƠN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
TÊN TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Khoa học 4
20
TÁC GIẢ
Bộ GD&ĐT
20
2
3
4
5
6
7
8
Sách giáo viên Khoa học 4
Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 4- tập 2
Module TH 39
Module TH 40
Module TH 41
Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở Tiểu
dụng bản đồ trong tiết học Địa lí.
Dạy học sinh đổi đơn vị đo diện
tích lớp 5.
Kinh nghiệm rèn học sinh hiếu
động mất tập trung chú ý.
Hướng dẫn học sinh lớp 4 giải
bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng.
Kinh nghiệm về các hình thức tổ
chức trò chơi trong dạy học Toán 5.
Rèn kĩ năng sử dụng quan hệ từ
Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)
Năm học
đánh giá
xếp loại
A
2007-2008
B
2009-2010
Phòng GDĐT Nga Sơn
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Phòng GDĐT Nga Sơn
Phòng GDĐT Nga Sơn
qua việc xây dựng các dạng bài
6.
tập thực hành về quan hệ từ trong
dạy phân môn Luyện từ và câu
lớp 5.
Nâng cao hiệu quả dạy-học một
7.
số dạng Toán có lời văn cho học
sinh lớp 5.
22
22