SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN LỊCH
SỬ LỚP 4 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI.”
Người thực hiện:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:
Lê Thị Thúy
Giáo viên
Trường Tiểu học Thạch Sơn
Huyện Thạch Thành
SKKN thuộc lĩnh vực : Lịch Sử
THANH HÓA, NĂM 2016
1
MỤC LỤC
A. Mở đầu
I. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm.
II. Mục đích nghiên cứu.
III. Đối tượng nghiên cứu.
IV. Phương pháp nghiên cứu.
B. Nội dung
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
7
10
11
12
13
14
15
16
17
17
18
18
19
20
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm.
Như chúng ta đã biết, nội dung của môn Lịch sử lớp 4 cung cấp cho học
sinh những kiến thức cơ bản giúp học sinh lĩnh hội được một số tri thức ban đầu
về các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng lịch sử của Việt Nam từ buổi
đầu dựng nước cho tới nửa đầu thế kỉ XIX. Từ đó hình thành và rèn luyện ở học
sinh các kĩ năng quan sát, mô tả, phân tích, so sánh đánh giá mối quan hệ giữa
các sự kiện trong xã hội. Giúp học sinh vận dụng những tri thức đã học vào nhận
thức và giải quyết các vấn đề của thực tiễn cuộc sống. Góp phần bồi dưỡng và
phát triển ở học sinh tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về những truyền
thống quý báu của dân tộc, giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa của
dân tộc.
III. Đối tượng nghiên cứu.
2
- Thực trạng dạy học phân môn Lịch sử lớp 4 theo mô hình VNEN tại
trường Tiểu học Thạch Sơn, huyện Thạch Thành.
- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Lịch sử lớp 4 theo
mô hình VNEN.
IV. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu trên cơ sở lí luận về Mô hình trường học mới
(VNEN).
- Phương pháp khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
B. NỘI DUNG
I.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Về cơ bản, nội dung phần Lịch sử lớp 4 trong sách Hướng dẫn học theo Mô
hình VNEN giống như nội dung phần Lịch sử lớp 4 của sách giáo khoa hiện
hành. Tuy nhiên, khác với sách giáo khoa môn Lịch sử và Địa lí 4 của chương
trình hiện hành, tài liệu Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí 4 được thiết kế mỗi bài
học 2 hoặc 3 tiết. Ngoài 4 tiết của phần mở đầu thì phần Lịch sử gồm 11 bài với
27 tiết, các bài học đã có sự phân chia giai đoạn theo thời gian và đã có điều
chỉnh về cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với Mô
hình VNEN.
Nội dung của mỗi bài học đều có kênh hình, kênh chữ đa dạng với màu sắc
tươi sáng hấp dẫn học sinh học tập. Hệ thống kênh chữ bao gồm: Mục tiêu của
bài học, chỉ dẫn các hoạt động học tập, hệ thống các câu hỏi, các nguồn thông
tin dưới dạng hội thoại …để học sinh đọc, suy nghĩ phát hiện ra kiến thức của
bài học. Tài liệu Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí 4 được thiết kế cho học sinh,
giáo viên và phụ huynh. Căn cứ vào các ngữ liệu trong sách hướng dẫn, học sinh
phân môn Lịch sử, tôi nhận thấy về kĩ năng giao tiếp của học sinh đã có sự tiến
bộ rõ rệt, học sinh tích cực chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh kiến thức lịch sử,
nhớ được các nhân vật và sự kiện lịch sử tiêu biểu trong chương trình, biết liên
hệ các kiến thức đã học vào thực tiễn.
Tuy nhiên, vẫn còn một số học sinh chưa hứng thú với môn học này, khả
năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan sát, ghi nhớ kiến thức lịch sử còn hạn chế,
nhất là chưa có tinh thần hợp tác trong nhóm, chưa có tinh thần tự học, còn rụt
rè, nhút nhát, chưa biết liên hệ các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống. Một
số học sinh chưa nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng trong việc thực hiện Hoạt
động ứng dụng.
* Về giáo viên:
Giáo viên đã được tham gia các đợt tập huấn cấp tỉnh, cấp huyện về dạy
học theo Mô hình VNEN. Được tiếp thu các kinh nghiệm và kĩ năng dạy học
qua các đợt tiếp xúc với đoàn tư vấn cấp tỉnh về Mô hình VNEN. Thông qua các
buổi thao giảng cấp trường, cụm trường giúp giáo viên học hỏi được nhiều kinh
nghiệm trong việc dạy học.
Tuy nhiên, nhiều giáo viên còn chú trọng và dành nhiều thời gian vào hai
môn Toán và Tiếng việt mà chưa quan tâm nhiều đến phân môn Lịch sử. Việc
đổi mới phương pháp dạy học từ phương pháp dạy học hiện hành sang phương
pháp dạy học theo Mô hình VNEN làm cho giáo viên lúng túng, chưa thực sự
dạy đúng với tinh thần dạy học VNEN: còn lệ thuộc nhiều vào sách hướng dẫn
học, đôi lúc sa vào giảng giải lí thuyết, chưa phát huy được vai trò hoạt động của
Hội đồng tự quản học sinh. Giáo viên chưa dành nhiều thời gian cho việc nghiên
cứu bài dạy, thiết kế phiếu học tập, chưa mạnh dạn điều chỉnh nội dung hoạt
động dạy học cho phù hợp với điều kiện của học sinh lớp mình.
* Về nội dung chương trình:
Bên cạnh những ưu điểm của nội dung chương trình sách hướng dẫn học
phần Lịch sử lớp 4 thì tài liệu vẫn còn một số hạn chế: Nội dung các bài học
còn mang tính khái quát, nhiều kiến thức, đôi chỗ các hình thức tổ chức hoạt
động học tập của học sinh chưa hợp lí.
việc nắm vững cấu trúc bài học giúp giáo viên chuẩn bị các phương pháp và
hình thức tổ chức hoạt động học tập phù hợp trong quá trình lên lớp.
b. Giáo viên nghiên cứu kĩ nội dung bài học, linh hoạt trong việc điều
chỉnh tài liệu.
Quá trình dạy học theo mô hình VNEN không phải là quá trình đóng kín,
áp đặt một cách cứng nhắc mà là quá trình hoạt động có tính “mở”. Tài liệu
hướng dẫn học phần Lịch sử chỉ có thể nêu ra một phương án cụ thể về kế hoạch
bài học cho giáo viên và học sinh. Vì vậy giáo viên cần căn cứ vào đặc điểm của
học sinh, điều kiện hoàn cảnh của từng lớp để chủ động lựa chọn hay tiến hành
những điều chỉnh thay thế hoặc bổ sung nội dung bài học, hình thức tổ chức dạy
học phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lớp mình.
Việc nghiên cứu trước bài học giúp giáo viên chủ động được nội dung
kiến thức lịch sử của bài học, không bị lúng túng trong quá trình lên lớp. Ngoài
ra giáo viên còn dự kiến những hoạt động có thể học sinh cần sự hỗ trợ, những
hoạt động nào có thể nảy sinh nghi vấn, tình huống có vấn đề đối với học sinh?
Giáo viên cần phải can thiệp hoạt động nào? Có cần chốt nội dung kiến thức của
bài hay không? Đặc biệt, dự đoán với học sinh trung bình, yếu trong lớp liệu các
em có hiểu được chỉ dẫn trong tài liệu không?
VD: Bài 1: Buổi đầu dựng nước và giữ nước.( Khoảng năm 700 TCN đến
năm 179 TCN)
5
Hoạt động 5( phần Hoạt động cơ bản)
Giáo viên chỉ cần yêu cầu học sinh đọc kĩ đoạn văn rồi ghi nhớ, không
nhất thiết phải yêu cầu học sinh ghi vào vở.
Một số bài học có nội dung dài, giáo viên có thể chủ động dãn tiết học
sang buổi chiều.
VD: Bài 9: Trịnh – Nguyễn phân tranh. Công cuộc khẩn hoang và sự phát
triển của thành thị (Thế kỉ XVI-XVIII)
đồ, xây dựng phiếu học tập và dự kiến trong quá trình học tập cần cho học sinh
tham khảo tài liệu nào, chuẩn bị những tài liệu gì trong thư viện để phục vụ bài
học.
VD: Bài 3: Buổi đầu độc lập (Từ năm 938 đến năm 1009)
Đối với bài học này, giáo viên cần chuẩn bị những đồ dùng dạy học sau:
- Các tài liệu nói về Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn.
- Lược đồ trận chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất.
6
- Phiếu học tập.
Trận địa
Quân ta
Quân Tống
Kết quả
Cửa sông Bạch Đằng
Chi Lăng (Lạng Sơn)
Một số tiết, giáo viên xây dựng dạy giáo án điện tử cần chuẩn bị các nội
dung trình chiếu: Hình ảnh minh họa bài học, các video liên quan, phiếu học
tập…
2. Phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh.
a. Phát huy vai trò của Hội đồng tự quản lớp học.
Hội đồng tự quản (HĐTQ) là tổ chức tự quản lớp học, tổ chức của học sinh,
vì học sinh và do học sinh điều hành. Sự thay đổi của tổ chức lớp học theo mô
hình VNEN với HĐTQ học sinh đã thay đổi căn bản vai trò và nhiệm vụ của học
sinh: thể hiện được tính tự chủ, tự giác, phát huy tính sáng tạo của các em. Để
nhau trong nhóm và nêu những việc cần làm để thực hiện mục tiêu đó. Nếu học
sinh chưa hiểu mục tiêu bài học, giáo viên có thể giải thích cho học sinh hiểu.
Trong bài học nếu giáo viên có điều chỉnh mục tiêu thì cần thông báo trước khi
vào bài mới để học sinh nắm được.
VD: Bài 9: Trịnh – Nguyễn phân tranh. Công cuộc khẩn hoang và sự phát
triển của thành thị (Thế kỉ XVI-XVIII)
* Phần mục tiêu:
Trong sách hướng dẫn, mục tiêu thứ nhất là “Trình bày được hoàn cảnh dẫn
đến nước ta bị chia cắt và hiểu được hậu quả của việc chia cắt đó.”
Giáo viên bổ sung thêm “Trình bày được hoàn cảnh dẫn đến tình trạng
nước ta bị chia cắt thành Nam triều và Bắc triều, tiếp đó là Đàng Trong và Đàng
Ngoài. Hiểu được hậu quả của việc chia cắt đó.”
Việc điều chỉnh mục tiêu trên để giúp học sinh hiểu và phân biệt được
“Nam Triều và Bắc Triều” ; “ Đàng Trong và Đàng Ngoài”. Từ đó giúp học sinh
xác định đúng vị trí phân chia trên lược đồ.
d. Phát huy vai trò của hoạt động cá nhân, cặp đôi, nhóm.
Với mô hình VNEN, các hoạt động trên lớp hầu hết là hoạt động nhóm,
cặp đôi và hoạt động cá nhân. Việc giáo viên tổ chức hoạt động cả lớp rất ít. Vì
vậy cần phát huy hiệu quả các hoạt động của học sinh.
Đối với hoạt động cá nhân: Muốn thực hiện tốt hoạt động cặp đôi, hoạt
động nhóm, trước hết học sinh phải chủ động làm việc cá nhân. Nếu nội dung
bài học tương đối khó với học sinh khi hoạt động cá nhân, giáo viên có thể thay
đổi bằng hình thức hoạt động nhóm hoặc cặp đôi để học sinh hỗ trợ nhau. Sau
mỗi bài học lịch sử đều có phần chữ đóng khung màu vàng. Đây chính là phần
ghi nhớ của bài học. Học sinh cần đọc kĩ cá nhân để ghi nhớ những nội dung
chính của bài. Giáo viên không cần thiết phải yêu cầu học sinh đọc và ghi hết
nội dung ghi nhớ vào vở mà chỉ cần yêu cầu các em ghi những ý chính hoặc nhớ
những ý chính của bài học.
Đối với hoạt động theo cặp đôi: Sách Hướng dẫn học phân môn Lịch
sử đã thiết kế rất cụ thể những việc học sinh cần làm. Hai học sinh cùng nhau
các bạn khác ngồi chơi, thiếu tập trung. Giáo viên cần bồi dưỡng cho nhóm
trưởng các kĩ năng và hình thức tổ chức hoạt động trong nhóm để mang lại hiệu
quả học tập cao. Việc cho học sinh trong nhóm luân phiên nhau làm nhóm
trưởng sẽ phát huy được tính tự tin, tích cực, chủ động của các em và qua đó rèn
cho các em kĩ năng giao tiếp, điều hành, giải quyết vấn đề.
VD: Bài 4: Nước Đại Việt thời Lý (Từ năm 1009 đến năm 1226)
Hoạt động 2(phần Hoạt động cơ bản): Tìm hiểu vì sao Lý Thái Tổ quyết định
dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long.
a. Đọc đoạn văn và quan sát hai hình sau:
Mùa xuân năm 1010, một lần từ kinh đô Hoa Lư trở lại thăm quê nhà ở
Cổ Pháp ( Bắc Ninh), Lý Thái Tổ có ghé qua thành cũ Đại La (Nay là Hà Nội).
Vua thấy đây là vùng đất ở trung tâm đất nước, đất rộng lại bằng phẳng, dân cư
không khổ vì ngập lụt, muôn vật phong phú tốt tươi. Càng nghĩ, vua càng tin
rằng muốn cho con cháu đời sau xậy dựng được cuộc sống ấm no thì phải dời đô
từ miền núi chật hẹp Hoa Lư về vùng đất đồng bằng rộng lớn màu mỡ này.
b. Thảo luận, đi đến thống nhất trả lời câu hỏi sau:
So sánh sự khác nhau về điều kiện tự nhiên giữa Hoa Lư và Đại La để giải
thích vì sao Lý Thái Tổ lại quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La?
Với yêu cầu của hoạt động trên, trước hết học sinh trong nhóm sẽ đọc cá
nhân đoạn văn kết hợp với quan sát hai bức tranh trong sách hướng dẫn. Sau đó
nhóm trưởng sẽ cho các bạn thảo luận và trả lời các ý sau:
- Nêu điều kiện tự nhiên ở vùng đất Đại La: Là vùng đất trung tâm đất
nước, đất rộng lại bằng phẳng, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật phong
phú tốt tươi.
- Nêu điều kiện tự nhiên ở vùng đất Hoa Lư: Vùng miền núi chật hẹp.
- Nhà vua đã nghĩ gì? Muốn cho con cháu đời sau xậy dựng được cuộc
sống ấm no thì phải dời đô từ miền núi chật hẹp Hoa Lư về vùng đất đồng bằng
rộng lớn màu mỡ này.
Nhóm trưởng hỏi các bạn trong nhóm về câu trả lời. Cùng nhau thống
nhất câu trả lời đúng.
học để học sinh tham khảo.
Ví dụ: Bài 3: Buổi đầu độc lập.
Hoạt động 3 (phần Hoạt động cơ bản): Thi kể chuyện về Đinh Bộ Lĩnh.
Để học sinh thực hiện tốt hoạt động này, ở tiết Lịch sử trước giáo viên và
học sinh cần chuẩn bị các sách, truyện, tài liệu nói về Đinh Bộ Lĩnh ở trong thư
viện để học sinh trong lớp có thể mượn đọc tham khảo trong những giờ ra chơi hay
hoạt động ngoài giờ. Nếu như trong tiết học, hoạt động này học sinh chưa kể được
các câu chuyện về Đinh Bộ Lĩnh thì giáo viên có thể yêu cầu học sinh đến góc thư
viện lấy các tài liệu liên quan và đọc cho các bạn cùng nghe.
VD: Bài 8: Trường học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê
Hoạt động 3 (phần Hoạt động cơ bản): Khám phá các thành tựu văn học thời Hậu
Lê.
Hoạt động 4 (phần Hoạt động cơ bản): Khám phá các thành tựu khoa học thời
Hậu Lê.
Trên đây là hai hoạt động mà giáo viên cần chuẩn bị tại thư viện lớp học
các tác phẩm văn học thời Hậu Lê. Đó là các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Lê
Thánh Tông… hay các tài liệu liên quan đến khoa học thời Hậu Lê để học sinh
10
tham khảo, cần sưu tầm các tranh ảnh về việc thi cử thời bấy giờ, các hình ảnh
về Văn Miếu Quốc Tử Giám…
VD: Bài 5: Nước Đại Việt thời Trần (Từ năm 1226 đến năm 1400)
Sau khi học xong bài học, giáo viên có thể cho học sinh kể câu chuyện về
Trần Quốc Toản và hỏi học sinh “ Em có cảm nghĩ gì về nhân vật Trần Quốc
Toản? ” Sau đó yêu cầu học sinh viết cảm nghĩ của mình về Trần Quốc Toản và
dán lên bảng cảm xúc của lớp hoặc bỏ vào “Hộp thư bè bạn” để chia sẻ với các
bạn trong lớp.
Với những tiết học về lịch sử điạ phương, sau tiết học, giáo viên tổ chức
cho học sinh viết cam kết về việc bảo tồn và giữ gìn các Di tích Lịch sử ở địa
Cát, đền Kim Tân… Một số em được gia đình cho đi tham quan chùa Bái Đính,
nên đã kể và mô tả được vẻ đẹp của ngôi chùa này.
11
Với câu hỏi 2, vì ở vùng nông thôn nên các em chưa được tiếp cận với các
tên đường nhưng có em đã nêu được tên trường THCS Lý Thường Kiệt (ở Hà
Trung).
Một số gia đình phụ huynh có điều kiện tiếp cận với mạng Iternet, với yêu
cầu học sinh về nhà sưu tầm các tranh ảnh, tài liệu về nội dung bài học. Các em
đã được bố mẹ tìm kiếm tài liệu trên mạng và in ấn tranh ảnh phục vụ bài học
trên lớp.
Đây là hoạt động tích cực của cộng đồng trong việc cùng nhau giúp đỡ con
em mình học tập. Khi các em mang những tài liệu, tranh ảnh của bài học đến
lớp, các em có tâm trạng vui vẻ và hồ hởi vì được bố mẹ chuẩn bị cho đồ dùng
học tập làm cho việc học lịch sử trở nên hứng thú đối với các em.
Tuy nhiên, không phải học sinh nào cũng hoàn thành được hoạt động ứng
dụng. Có những em bố mẹ đi làm ăn xa, ở nhà với ông bà, chú bác nên không
nhận được sự hỗ trợ. Một số phụ huynh học sinh trình độ hiểu biết về lịch sử dân
tộc còn hạn chế nên không biết hướng dẫn con em mình thế nào. Để khắc phục
điều này, giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh thực hiện hoạt động ứng dụng
tại lớp sau đó về nhà các em thực hiện hoặc hướng dẫn học sinh hỏi những
người hàng xóm xung quanh hoặc có thể gọi điện cho cô giáo để nhận được hỗ
trợ khi gặp vướng mắc về nội dung của bài học.
5. Tổ chức các trò chơi học tập.
Đối với các môn học ở Tiểu học nói chung và phân môn Lịch sử nói riêng,
việc tổ chức trò chơi học tập có rất nhiều tác dụng đối với việc hình thành kiến
thức của các em. Bởi trò chơi học tập tạo cho các em động cơ, hứng thú trong
quá trình học tập, giúp các em tham gia học tập một cách tự nhiên, củng cố khắc
- Ban học tập phổ biến luật chơi, cách chơi: Sau khi bạn đọc xong câu hỏi,
cả lớp cùng suy nghĩ, chọn đáp án cho là đúng nhất ghi vào bảng con. Qua các
câu hỏi bạn nào trả lời đúng thì được tặng một bông hoa. Đến câu hỏi cuối cùng,
bạn nào có nhiều hoa và trả lời đúng và nhanh nhất sẽ là người thắng cuộc.
- Trưởng ban học tập đọc câu hỏi, cả lớp chọn phương án, ghi vào bảng
con sau đó úp bảng xuống.
- Hết thời gian, bạn điều hành có tín hiệu, cả lớp cùng giơ bảng.
- Tiến hành chơi.
1. Nhà Nguyễn thành lập năm nào?
A. 1802
B. 1820
2. Vị vua đầu tiên của Triều Nguyễn là ai?.
A. Gia Long
B. Tự Đức
3. Nhà Nguyễn lật đổ triều đại nào?
A. Nhà Lê
B. Tây Sơn
4. Kinh đô của triều Nguyễn ở đâu?.
A. Thăng Long
B. Phú Xuân (Huế)
5. Để bảo vệ quyền lợi của vua, nhà Nguyễn thảo ra bộ luật nào?
A. Hồng Đức
B. Gia Long
Sau khi chơi xong, ban học tập đánh giá phần chơi.
6. Áp dụng đổi mới trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Trong mô hình VNEN, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh phải
được tiến hành thường xuyên ở từng bài học, sau từng hoạt động học tập cụ thể
và đặc biệt là sau từng phần: Hoạt động cơ bản, hoạt động thực hành, hoạt động
ứng dụng.
Giáo viên đánh giá thường xuyên qua quá trình học tập của học sinh bằng
sự hỗ trợ kịp thời khi học sinh gặp vướng mắc và điều chỉnh việc thực hiện
nhiệm vụ học tập của học sinh sao cho phù hợp với từng nội dung bài học.
Về đánh giá định kì, đối với phân môn Lịch sử được đánh giá vào cuối kì
1 và cuối năm học thông qua bài kiểm tra định kì. Để đánh giá chính xác kết quả
học tập của học sinh, giáo viên cần xây dựng đề kiểm tra hợp lí theo các mức độ.
Nội dung của đề kiểm tra cần thể hiện được đầy đủ mạch kiến thức học sinh đã
học trong một học kì hay trong cả năm học.
Giáo viên có thể sử dụng kết quả đánh giá thường xuyên và đánh giá định
kì để khen thưởng học sinh đối với phân môn Lịch sử nhằm khích lệ, động viên
các em yêu thích học Lịch sử.
Ví dụ về danh hiệu khen thưởng cuối năm: “Em hoàn thành xuất sắc nội
dung học tập phân môn Lịch sử.”
7. Ứng dụng Công nghệ thông tin vào trong dạy học phân môn Lịch
sử.
Chúng ta cần đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá
trình dạy học đối với phân môn Lịch sử, bởi lẽ môn Lịch sử là bộ môn có kiến
thức thuộc về quá khứ và công nghệ thông tin (giáo án điện tử, video, sơ đồ) sẽ
giúp cho giáo viên tái hiện lại quá khứ thông qua các hình ảnh, video, hay các sơ
đồ chiến thuật của các trận đánh. Chính từ những trực quan sinh động đó sẽ tạo
ra hứng thú cho học sinh và giúp các em có được cái nhìn thật đối với lịch sử.
Với phân môn Lịch sử lớp 4, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tiết học
sẽ giúp cho học sinh hứng thú hơn trong học tập. Học sinh được xem những
tranh, ảnh, những thước phim minh họa cho bài học.Việc sử dụng lược đồ động
để mô tả diễn biến của các trận đánh làm cho việc ghi nhớ kiến thức lịch sử của
học sinh trở nên dễ dàng hơn. Để xây dựng được bài giảng điện tử phù hợp với
phương pháp dạy học theo Mô hình VNEN, trước hết giáo viên phải nghiên cứu
kĩ nội dung bài học lịch sử trong sách Hướng dẫn học. Bởi hoạt động học tập
14
Huế, giáo viên có thể sử dụng một đoạn Video nói về vẻ đẹp cổ kính của cố đô
Huế qua các công trình kiến trúc được xây dựng từ thời nhà Nguyễn. Như vậy,
qua việc được nghe, được nhìn về nội dung bài học sẽ làm học sinh hứng thú và
việc tiếp thu bài sẽ nhanh hơn.
8. Tích hợp dạy học Lịch sử trong các môn học và Hoạt động giáo
dục.
Trong quá trình dạy học Lịch sử, giáo viên cần khai thác vốn hiểu biết của
các em thông qua việc các em đã đọc truyện, học Tiếng việt, học Toán, các hoạt
động giáo dục… nói về các nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử.
VD: Bài 1: Buổi đầu dựng nước và giữ nước.
Khi dạy bài này, giáo viên có thể yêu cầu học sinh kể lại các câu chuyện
được học qua môn Tiếng việt ở lớp 2, lớp 3 hoặc đã được đọc, được nghe qua
sách báo nói về thời Hùng Vương, An Dương Vương. Học sinh sẽ kể được câu
15
chuyện “Sơn Tinh Thủy Tinh”, sự tích “ Bánh chưng bánh dày”, truyền thuyết
“An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy”…
Trong nội dung của môn Toán lớp 4 có nhắc đến một số mốc thời gian
lịch sử. Bài học về giây, thế kỉ có nhắc đến Bà Triệu (Triệu Thị Trinh) sinh năm
226, bà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Đông Ngô năm 248, nhắc đến năm
sinh của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long năm
1010…Với bài tập xác định thế kỉ, năm xảy ra các sự kiện lịch sử giúp chúng ta
củng cố và khắc sâu kiến thức lịch sử cho các em.
VD: Bài 2: Hơn một nghìn năm đấu tranh dành độc lập.
Phần C Hoạt động ứng dụng có yêu cầu: Em hãy vẽ một bức tranh mô tả
cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
VD: Bài 3: Buổi đầu độc lập.
Trên lược đồ, cùng nhau vẽ mũi tên thể hiện diễn biến cuộc kháng chiến
chống quân Tống xâm lược dưới sự lãnh đạo của Lê Đại Hành.
em hoàn thành tốt bài tìm hiểu lịch sử nhằm khích lệ học sinh yêu thích tìm hiểu
về lịch sử dân tộc.
10. Đưa nội dung dạy học Lịch sử vào các buổi Sinh hoạt chuyên
môn.
Với trường tham gia Mô hình VNEN thì chúng tôi tổ chức sinh hoạt
chuyên môn theo tổ chuyên môn 3lần/tháng. Tôi trao đổi với đồng nghiệp tăng
cường xây dựng các tiết dạy Lịch sử để thao giảng nhằm chia sẻ những kinh
nghiệm trong dạy học phân môn Lịch sử. Bởi vì lâu nay, giáo viên cho rằng môn
Lịch sử là môn học khó, chọn tiết Lịch sử để thao giảng sẽ ít thành công. Tuy
nhiên qua những lần thao giảng ở trường, ở cụm trường, tôi thấy việc dạy học
Lịch sử lớp 4 đối với mô hình VNEN trở nên rất nhẹ nhàng. Để tiết thao giảng
đạt kết quả tốt, trước tiết dạy, tổ chuyên môn đã chia sẻ về nội dung bài dạy: Có
cần điều chỉnh không? điều chỉnh nội dung gì cho phù hợp với đối tượng học
sinh trong lớp? Cách thức tổ chức các hoạt động như thế nào? Cần chuẩn bị đồ
dùng dạy học gì? Từ đó đưa ra các phương pháp và hình thức dạy học hợp lí cho
tiết dạy. Sau tiết dạy, tổ chuyên môn chia sẻ về hiệu quả của tiết dạy, những ưu
điểm và tồn tại về hoạt động của Hội đồng tự quản học sinh, của giáo viên trên
lớp để đúc rút kinh nghiệm.
Như vậy, qua việc đưa tiết dạy Lịch sử vào hoạt động sinh hoạt chuyên môn,
giáo viên sẽ học hỏi được nhiều kinh nhiệm trong giảng dạy, khích lệ giáo viên
yêu thích dạy Lịch sử từ đó nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử trong nhà
trường.
Mặt khác, theo thông tư 30, nội dung bài kiểm tra định kì phân môn Lịch sử
được tổ chuyên môn nhà trường xây dựng. Phân môn Lịch sử được đánh giá
định kì bằng bài kiểm tra ở cuối kì 1 và cuối năm học. Vì thế, qua buổi sinh hoạt
chuyên môn chúng tôi cùng nhau nghiên cứu, thảo luận và xây dựng nội dung đề
kiểm tra định kì sao cho phù hợp với đặc điểm học sinh của toàn khối.
11. Thành lập Câu lạc bộ “ Em yêu lịch sử”
Năm 938
Các cuộc khởi nghĩa
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng
Khởi nghĩa Bà Triệu
Khởi nghĩa Lý Bí
Khởi nghĩa Triệu Quang Phục
Khởi nghĩa Mai Thúc Loan
Khởi nghĩa Phùng Hưng
Khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ
Khởi nghĩa Dương Đình Nghệ
Chiến thắng Bạch Đằng
IV. Kết quả thực hiện.
Trong quá trình dạy học phân môn Lịch sử lớp 4 theo mô hình VNEN, tôi
đã vận dụng các giải pháp và biện pháp nên trên. Kết quả đạt được sau ba năm
thực hiện dạy học phân môn lịch sử lớp 4 đó là:
Về phía nhà trường: Chất lượng dạy học phân môn Lịch sử trong nhà
trường đã được nâng lên một cách rõ rệt. Cuối năm học 2015-2016, 100% học
sinh hoàn thành nội dung môn học.
Về phía giáo viên: Giáo viên đã thực sự đổi mới phương pháp và hình
thức dạy học Lịch sử đúng với mô hình VNEN. Giáo viên nắm vững được các
kiến thức lịch sử, cảm thấy tự tin khi lên lớp, yêu thích môn Lịch sử hơn.
Về phía học sinh: Tôi nhận thấy học sinh thành thục các bước học tập
theo mô hình VNEN. Về kĩ năng giao tiếp, xử lí tình huống, kĩ năng giải quyết
vấn đề của học sinh đã có sự tiến bộ rõ rệt, học sinh tích cực chủ động trong các
hoạt động nhóm, chủ động chiếm lĩnh kiến thức lịch sử, nhớ được các nhân vật
và sự kiện lịch sử tiêu biểu trong chương trình, biết liên hệ các kiến thức đã học
vào thực tiễn cuộc sống. Các em có ý thức trong việc giữ gìn và phát huy những
giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc. Các em không còn sợ môn học Lịch sử nữa
với các trường trong huyện tham gia thao giảng dạy học theo mô hình VNEN, tổ
chức các chuyên đề về dạy học Lịch sử nhằm nâng cao năng lực dạy học cho
giáo viên.
Trên đây là một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Lịch
sử lớp 4 theo mô hình VNEN mà trong suốt thời gian qua bản thân tôi đã nghiên
cứu, vận dụng vào thực tế giảng dạy. Bước đầu, chất lượng dạy học phân môn
Lịch sử đã được nâng lên rõ rệt. Các em đã thực sự phấn khởi, tự tin khi học
Lịch sử. Đối với tôi, cách dạy trên đã góp phần không nhỏ vào việc dạy học
thành công mô hình VNEN, giúp tôi có thêm niềm tin vào công việc giảng dạy
của mình.
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu và thực hiện sáng kiến này sẽ không
tránh khỏi những mặt hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, tôi mong được sự giúp đỡ, đóng
góp ý kiến quý báu của cấp trên và đồng nghiệp để sáng kiến này được hoàn
thiện và đạt kết quả cao hơn, đồng thời được áp dụng rộng rãi trong việc dạy và
học phân môn Lịch sử lớp 4 trong mô hình VNEN.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thạch Thành, ngày 02 tháng 4 năm 2016
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện
Lê Thị Thúy
19
Tài liệu tham khảo.
1. Sách Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí 4. (thuộc dự án Mô hình trường học
mới).