SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM KHAI THÁC KÊNH HÌNH SÁCH GIÁO
KHOA TRONG GIẢNG DẠY PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 4
Người thực hiện: Mai Thị Nguyệt
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nga Thanh
SKKN thuộc môn: Lịch sử
THANH HOÁ NĂM 2019
1
MỤC LỤC
Tên nội dung
1. MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Những điểm mới
2.NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
Thực trạng
Thuận lợi, khó khăn
4
5
5
5
5
5
15
18
18
19
20
2
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Mục tiêu giáo dục Tiểu học trong thời kỳ mới được xác định:“Giúp học
sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về
đặc điểm, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục
học Trung học cơ sở”. 9 Trên cơ sở đó, chương trình giáo dục Tiểu học được
xây dựng toàn diện ở tất cả các môn học: Toán, Tiếng Việt, Khoa học, …Trong
đó phân môn Lịch sử lớp 4 có ý nghĩa và vị trí quan trọng, tạo nền tảng ban đầu
đối với việc đào tạo thế hệ trẻ. Năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách
mạng Việt Nam, Bác Hồ biên soạn tập “Lịch sử nước ta” và mở đầu bằng hai
câu:
“Dân ta phải biết sử ta
ho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. 7
Mục tiêu của phần lịch sử trong chương trình Tiểu học là cung cấp cho
học sinh một số kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật
học phù hợp với đối tượng học sinh.
Cách sử dụng kênh hình sách giáo khoa giúp học sinh có ý thức tìm tòi, yêu
thích lịch sử dân tộc, nâng cao chất lượng học tập của học sinh và làm nền tảng
vững chắc cho những năm học tiếp theo.
1.3 . Đối tượng nghiên cứu
Học sinh các lớp 4 tôi đã từng dạy những năm học: 2016 - 2017; 2017 - 2018;
2018 - 2019
Hoạt động học tập của học sinh và cách khai thác kênh hình trong sách giáo
khoa, việc chuẩn bị giảng dạy của giáo viên khi dạy phân môn Lịch sử lớp 4.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Đọc tài liệu
- Nhóm Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nhóm Phương pháp hỗ trợ thống kê
1.5. Những điểm mới của sáng kiến
Dạy học gắn liền với việc khai thác tri thức từ các nguồn tư liệu lược đồ/biểu
đồ, biểu đồ, sơ đồ, hình ảnh, số liệu; chú trọng dạy học khám phá, quan sát thực
địa; tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh thông qua thảo luận, đóng vai, dự án,… nhằm khơi dậy và
nuôi dưỡng trí tò mò, sự ham hiểu biết khám phá của học sinh đối với thiên
nhiên và đời sống xã hội, từ đó hình thành năng lực tự học và khả năng vận dụng
tri thức địa lý vào thực tiễn.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sang kiến kinh nghiệm
Mục tiêu học tập của môn Lịch sử nhằm hình thành và phát triển cho học sinh
những kĩ năng cần thiết: Nhận biết đúng đắn các nhân vật, sự kiện, hiện tượng
lịch sử, biết trình bày lại kết quả học bằng lời nói, bài viết, sơ đồ, bảng thống kê,
biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống. Đặc thù của môn Lịch sử
là không thể trực tiếp quan sát các sự kiện, hiện tượng, nhân vật trong quá khứ.
Mục đích của việc dạy học lịch sử không phải là cung cấp cho học sinh những
kiến thức sẵn có trong sách giáo khoa mà mục đích cuối cùng là giúp học sinh
- Về giáo viên: Ngại dạy phân môn Lịch sử. Một số giáo viên không nắm chắc
các nhân vật, sự kiện lịch sử.
- Về HS: Chưa coi trọng phân môn Lịch sử, xem đây là môn phụ, chưa hiểu hết
ý nghĩa của môn học. Phần đa bố mẹ các em có trình độ văn hoá thấp nên sự
hướng dẫn các em còn nhiều hạn chế cả về thời gian và phương pháp học.
2.2.2, Thành công, hạn chế
* Thành công:
Tìm ra được cách khai thác triệt để kênh hình SGK giúp các em dễ hiểu, nhớ
lâu và nắm được bài ngay tại lớp. Học sinh không xem môn học này là môn phụ,
có hứng thú học Lịch sử, có thêm kiến thức về Lịch sử. Giáo viên yêu thích
phân môn này hơn, có hiểu biết sâu hơn về nội dung chương trình và một số
kinh nghiệm trong dạy Lịch sử cho học sinh.
* Hạn chế:
Một số giáo viên chưa hiểu hết ý tưởng tác giả nên chưa khai thác triệt để các
nội dung kênh hình trong sách giáo khoa, mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu
là chủ yếu. Nhiều giáo viên nhận thức đầy đủ giá trị ý nghĩa của kênh hình
nhưng lại ngại sử dụng, sợ mất thời gian,… Một số tiết học giáo viên chỉ huy
động một số HS có năng lực trình bày lược đồ, bản đồ và khám phá tranh ảnh
mà chưa giành cho đối tượng HS năng lực còn hạn chế. Cho nên đối tượng HS
năng lực còn hạn chế ít được chú ý và không được tham gia hoạt động, điều này
làm cho các em thêm tự ti về năng lực của mình và các em cảm thấy chán nản.
2.2.3, Mặt mạnh, mặt yếu
Đa số GV đều có thể chủ động tổ chức được tiết dạy một cách thành thạo, tự
tin. Giúp GV tích lũy được vốn kiến thức về Lịch sử Việt Nam. Học sinh mạnh
dạn, tự tin.
5
Cách tổ chức dạy học của một số ít giáo viên vẫn còn mang tính hình thức, dập
- Một số em có suy nghĩ không đúng về mục tiêu của phân môn lịch sử, không
thích học lịch sử, coi lịch sử là môn “phụ”.
- Học sinh ghi nhớ các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một cách máy móc,
chóng quên, không hứng thú dẫn đến việc các em bị nhầm lẫn giữa sự kiện này
với các sự kiện khác, thậm chí còn nhầm lẫn tên nhân vật lịch sử trong các giai
đoạn lịch sử quan trọng.
Ví dụ: Trong cuộc thi “Rung chuông vàng” do Liên Đội tổ chức vào ngày
26/3, có một câu hỏi được đưa ra cho các học sinh khối 4 như sau: Người làm
nên chiến thắng lẫy lừng trên sông Như Nguyệt là ai? 2
Một số em trả lời: + Người đó là Trần Hưng Đạo.
+ Người đó là Ngô Quyền.
6
+ Người đó là Lê Lợi
Do các em không nhớ mốc thời gian lịch sử có liên quan đến các nhân
vật: Trần Hưng Đạo, triều Trần, đánh quân Mông - Nguyên; Ngô Quyền - năm
938, đánh quân Nam Hán; Lê Lợi, Thời Hậu Lê, đánh quân Minh nên dẫn đến
tình trạng trả lời sai.
Đáp án: Lý Thường Kiệt (triều Lý, đánh quân Tống xâm lược lần thứ 2)
- Các em thuật lại diễn biến của các cuộc kháng chiến, các trận đánh chưa đầy
đủ các chi tiết quan trọng, chưa hay. Số lượng HS biết thuật lại diễn biến của các
cuộc kháng chiến là rất ít, chiếm khoảng 15 - 16 % tổng số học sinh của lớp.
- Chưa có ý thức tìm tòi, khám phá thêm về một số thông tin hình ảnh, tư liệu
khác có liên quan đến nhân vật, sự kiện lịch sử đã và đang học.
2.3. Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1. Phân định dạng bài và các nhóm kênh hình trong sách giáo khoa đối
với phân môn Lịch sử lớp 4
* Dạng bài: Chương trình Lịch sử lớp 4 được chia thành 3 dạng cơ bản sau: 4
- Dạng 1: Cung cấp kiến thức về nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử tiêu biểu
* Mục tiêu bài học: Học xong bài này, học sinh biết: 2
+ Kiến thức: Biết được tầm quan trọng của chiến thắng Bạch Đằng. Biết sơ lược
diến biến và ý nghĩa của trận Bạch Đằng. 4
+ Kĩ năng: Nêu được sơ lược nguyên nhân, diễn biến và ý nghĩa của trận Bạch
Đằng: Kết thúc thời kì nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ, mở ra thời kì
độc lập lâu dài cho dân tộc.
+ Thái độ: Giáo dục lòng yêu nước, tự hào về tinh thần chiến đấu của quân và
dân ta.
* Đồ dùng dạy học:
+ Hình 1: Bức ảnh được sử dụng để dạy học về người lãnh đạo trận Bạch Đằng.
+ Hình 2: Bức ảnh được sử dụng để dạy học về việc chuẩn bị của quân dân ta
cho trận Bạch Đằng. 9
+ Hình 3: Lược đồ trận Bạch Đằng được sử dụng để dạy học về diễn biến của
trận Bạch Đằng. 6
+ Hình 4: (Sưu tầm) Những kỷ vật của Ngô Quyền, được sử dụng khi giới thiệu
về nhà lãnh đạo trận Bạch Đằng. 9
8
Bước 2: Xác định nội dung trọng tâm của bài học sinh cần phải hiểu thông qua
kênh hình.
Bước 3: Giáo viên phải nói rõ mục đích, yêu cầu cách thức tìm kiếm thông tin
trên kênh hình để học sinh không bị phân tán sự chú ý sang nội dung khác, điều
này giáo viên càng phải đặc biệt quan tâm trong những bài có nhiều tranh ảnh
minh họa trong sách giáo khoa. 8
Ví dụ: Bài 5 “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo”
Hình 1: Trận Bạch Đằng năm 938
Thứ hai, hướng dẫn học sinh đọc chú giải để hiểu được ý nghĩa biểu thị của các
kí hiệu trên lược đồ: Khi nắm được ý nghĩa biểu thị của các kí hiệu, các em sẽ
làm tốt các bài tập yêu cầu thuật lại diễn biến cuộc chiến đấu hoặc cuộc khởi
nghĩa.
Ví dụ: Dựa vào lược đồ, em hãy trình bày lại trận chiến tại phòng tuyến sông
Như Nguyệt (bài Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ hai
(1075-1077) trang 34, SGK Lịch sử và Địa lí 4), 1 tôi hướng dẫn như sau:
- Yêu cầu học sinh quan sát lược đồ trong SGK trang 35, xem bảng chú
giải biết các kí hiệu thể hiện trên lược đồ để các em phân biệt được mũi tên biểu
thị quân ta và mũi tên biểu thị giặc Tống. 2 Cụ thể;
+ Mũi tên màu đen
là biểu thị quân Tống tiến công
+ Mũi tên màu đỏ
nhà Lý chặn đánh….
10
Sau khi hướng dẫn xem chú giải, đọc thông tin trong SGK bằng hệ thống
câu hỏi như sau: 3
+ Lý Thường Kiệt cho xây dựng phòng tuyến ở đâu?
+ Lực lượng của quân Tống như thế nào? Do ai chỉ huy?
+ Chỉ vị trí trận tuyến quân Tống trên lược đồ ?
+ Chỉ trên lược đồ vị trí mà quân nhà Lý phòng ngự, chặn đánh, tiến công,
đường rút chạy của giặc?
Từ việc trả lời các câu hỏi theo gợi ý của GV, HS nắm được diễn biến chính
của trận chiến đấu. Các em sẽ dựa vào lược đồ thuật lại rất tốt kể cả đối tượng
HS hạn chế về năng lực mà không cần nhớ từng câu chữ trong SGK. 4
Ngoài việc rèn cho HS kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ thì giáo viên cần chú ý
hướng dẫn khai thác kiến thức từ tranh ảnh bởi lịch sử là việc đã xảy ra, có thật
con sông Cầu.
11
- Vị trí của phòng tuyến sông Như
Nguyệt có tầm quan trọng như thế nào
đối với kinh thành Thăng Long?
- Chỉ trên bản đồ vị trí phòng ngự của
quân nhà Lý? Các hướng tiến công và
chặn đánh của quân ta, đường tiến công
và rút chạy của quân Tống ?
- Tại sao quân ta chọn và chủ động xây
dựng phòng tuyến này? Tại sao Lý
Thường Kiệt lại cho quân chủ động
đánh úp quân giặc trong đêm khuya?
- Phòng tuyến sông Như Nguyệt được
coi như một tấm lá chắn vững chắc
cho kinh thành Thăng Long.
- Học sinh chỉ
- Phòng tuyến sông Như Nguyệt được
coi như một tấm lá chắn vững chắc
cho kinh thành Thăng Long; đánh úp
quân giặc vào đêm khuya làm cho
giặc trở tay không kịp…
- Bài thơ được cất lên trong đêm khuya - Kích động lòng quân sĩ, làm hoang
có tác dụng gì?
mang ý trí của kẻ thù.
- Dựa vào lược đồ, hãy tường thuật lại - Học sinh thuật lại
Được sử dụng khi giới thiệu về người đứng đầu nhà nước và tình hình xã hội
nước Văn Lang. Yêu cầu học sinh quan sát và trả lời: 3
Lăng vua Hùng được xây dựng ở đâu?
Nhân dân ta xây dựng lăng để làm gì?
Chốt: Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mồng 10 tháng 3 và ngày nay đã
trở thành ngày Quốc giỗ của dân tộc.
Hình 3: Lưỡi cày đồng
13
Hình lưỡi cày đồng được sử dụng khi miêu tả về đời sống sản xuất của người
Văn Lang. Yêu cầu học sinh quan sát hình trả lời câu hỏi:
- Hình dáng của lưỡi cày như thế nào?
- Lưỡi cày dùng để làm gì?
- Việc chế tạo lưỡi cày đồng chứng tỏ điều gì?
Kết hợp với hình 7(cảnh giã gạo) để giới thiệu những sản vật mà người Văn
Lang sản suất được.
Hình 4: Rìu lưỡi xéo bằng Đồng
Được sử dụng khi dạy về cuộc sống của người Văn Lang. Yêu cầu học sinh trả
lời câu hỏi:
- Hình dáng của lưỡi rìu thế nào?
- Rìu dùng để làm gì?
Hình 5: Muôi ( vá, môi) bằng đồng
Sử dụng mô tả đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Văn Lang. Câu
hỏi thảo luận:
- Hình dáng của chiếc muôi như thế nào?
- Muôi dùng để làm gì?
Hình 8: Vòng trang sức bằng đồng
Sử dụng khi giới thiệu đời sống vật chất của người Văn Lang.
của họ khác với ngày nay/ Đồ dùng phục vụ cuộc sống còn đơn giản/ Từ xưa họ
đã có tục lệ đua thuyền, và còn biết đeo cả trang sức để làm đẹp,…)
Như vậy, từ việc khai thác tranh ảnh đó, học sinh có thể hình dung phần nào về
đời sống, vật chất và tinh thần của người Lạc Việt dưới thời vua Hùng
Bước 7: Xác định vị trí đặt đồ dùng cho cân đối, đúng tầm nhìn của học sinh. Sử
dụng vào thời điểm cần thiết nhất để cung cấp kiến thức và khai thác thông tin,
hơn nữa thời gian trưng bày đồ dùng phải ăn khớp nhịp nhàng với hoạt động
khai thác. 8
Ví dụ: Bài 5 “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo”
Hình 1: Trận Bạch Đằng năm 938
Sử dụng bức tranh khi dạy về diễn biến trận chiến trên sông Bạch Đằng.
Khi trình bày chi tiết thuyền giặc bị bãi cọc chặn lại, quân mai phục của ta đổ ra
đánh quyết liệt thì kết hợp sử dụng bức tranh. Giáo viên hướng dẫn quan sát bức
tranh, chỉ cho học sinh thuyền của ta, của giặc và đặt câu hỏi: 3
- Em thấy thuyền của ta thế nào?
- Thuyền của giặc như thế nào?
- Thuyền của ta nhỏ, nhẹ có lợi như thế nào?
- Điều gì sẽ xảy ra với thuyền của địch khi triều rút?
Ví dụ: Bài 25: “Quang Trung đại phá quân Thanh (năm 1798)” 1
Hình 1: Lược đồ Quang Trung đại phá quân Thanh
15
2 Sử dụng khi dạy về diễn biến trận Quang Trung đánh tan quân Thanh xâm
lược. Câu hỏi: - Ngày 20 tháng chạp năm Mậu Thân, khi hành quân ra đến Tam
Điệp, Quang Trung đã làm gì?
- Quang Trung chia quân làm 5 đạo do những ai chỉ huy?
- Ngày mồng 3 Tết Kỉ Dậu ta đánh đồn nào?
- Sáng mồng 5 Tết ta tấn công đồn nào?
Ví dụ: Bài Lịch sử địa phương: “Thanh Hóa xưa và nay”
17
Hình 1: Bà Triệu cưỡi voi ra trận
Hình 2: Cầu Hàm Rồng năm xưa
Hình 3: Thanh Hóa ngày nay
Hình 4: Lược đồ căn cứ Ba Đình
Hình 5: Phụ nữ nông dân bị bắt trong khởi
nghĩa Ba Đình
Hình 6: Nghĩa quân Ba Đình bị bắt
Hình 7: Trận chiến bên hào lũy giữa nghĩa
18
quân Ba Đình với thực dân Pháp ngày
20/01/1887
Ví dụ: Một số hình ảnh tôi đã sưu tầm thêm nhằm khắc sâu kiến thức bài học.
Bài “Xây dựng nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn” 9
Toàn cảnh đại công trường nhà máy Nhiệt
Hãy tìm vị trí nhà máy nhiệt điện
+ Tổ chức cho học sinh tiếp cận nguồn dữ liệu( kênh chữ, kênh hình, sách giáo
khoa) để có những hình ảnh cụ thể về sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Và cần thực hiện theo các bước :
- Giới thiệu sơ lược về kênh hình.
20
- Nêu mục đích làm việc với kênh hình.
- Đưa ra câu hỏi gợi ý để HS có cơ sở khai thác kiến thức từ kênh hình.
- Gọi HS trả lời các câu hỏi.
- Mời HS khác nhận xét, bổ sung trước khi GV đưa ra kết luận.
* Chú ý: Hiện nay việc tìm tranh ảnh, lược đồ trên Internet không khó nhưng
trước khi tìm thêm những tranh ảnh khác để bổ trợ thêm kiến thức, giáo viên cần
sử dụng khai thác hết ý đồ kênh hình trong sách giáo khoa.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua việc áp dụng đề tài về sử dụng và khai thác kênh hình dạy học phân
môn Lịch sử lớp 4 ở trường Tiểu học Nga Thanh tôi thấy rõ: Chất lượng học
sinh học phân môn Lịch sử tăng đáng kể cả về số lượng và chất lượng. Phong
trào sử dụng đồ dùng dạy học nói chung của trường đã đi vào chiều sâu. Giáo
viên và học sinh cùng hào hứng trong việc dạy, học phân môn Lịch sử. Học sinh
tự tin, mạnh dạn và linh hoạt hơn rất nhiều trong kỹ năng làm việc với bản đồ,
lược đồ, tranh ảnh.
Ngoài ra, trong các cuộc thi như: “Rung chuông vàng”, “Tuổi thơ khám
phá” do Liên Đội tổ chức thì số lượng học sinh tham gia phân môn Lịch sử
nhiều hơn, các câu hỏi về lịch sử do ban tổ chức đưa ra các em phản ứng nhanh
hơn, trả lời câu hỏi chính xác và có chất lượng hơn.
Trong quá trình áp dụng kinh nghiệm này, tôi khẳng định rằng: Việc sử
dụng kênh hình dạy học trong phân môn lịch sử đã đem lại hiệu quả thực sự
trong giảng dạy, giúp giáo viên tự tin hơn, bản lĩnh hơn trong mỗi tiết dạy Lịch
sử; kiến thức về các giai đoạn lịch sử, các sự kiện lịch sử nổi bật được các em
Sử dụng và khai thác tốt tranh ảnh, là bước đệm để giáo viên tiếp cận với
cách dạy học hiện đại như: Khai thác tư liệu trên hệ thống mạng Internet, sử
dụng máy chiếu. Đặc biệt, việc sử dụng tranh ảnh, lược đồ, bản đồ và thiết bị
21
dạy học hiện đại là giúp khôi phục lại hình ảnh của quá khứ là công việc vô
cùng quan trọng trong dạy học phân môn Lịch sử ở lớp 4.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Là môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, phân môn Lịch sử có ý nghĩa
và vị trí quan trọng trong nội dung chương trình cấp Tiểu học. Nó góp phần tạo
nền móng cho việc đào tạo thế hệ trẻ, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ, hiểu sâu về lịch sử
dân tộc. Từ đó giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước, yêu truyền
thống dân tộc và thái độ ứng xử đúng đắn trong cộng đồng, trong xã hội. Điều
cốt lõi để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Lịch sử là nâng cao trình độ,
nghiệp vụ, và ý thức nghề nghiệp của giáo viên; đổi mới nội dung, phương pháp
dạy học phải được đặt lên hàng đầu, trong đó sử dụng kênh hình dạy học là một
khâu quan trọng trong quá trình dạy học phân môn Lịch sử.
Để có được một tiết học thành công ở phân môn Lịch sử cần đảm bảo một số
yêu cầu sau:
* Về phía giáo viên
Nắm vững đặc trưng riêng biệt của phân môn Lịch sử, hiểu được đồ dùng
dạy học là con đường ngắn nhất giúp tái hiện hình ảnh lịch sử. Nó giúp giáo viên
và học sinh tiết kiệm được thời gian mà lượng kiến thức vẫn được truyền tải
nhiều hơn, hấp dẫn hơn.
Nắm vững mục tiêu bài học, xây dựng hệ thống đồ dùng cần sử dụng trong
quá trình chuẩn bị bài dạy.
Xác định nội dung trọng tâm của bài cần khai thác thông qua tranh ảnh,
lược đồ, bản đồ.
giảng của giáo viên.
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết
Mai ThÞ NguyÖt
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 . Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lý 4, 5 - Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo
dục năm 2010
2 . Sách giáo viên Lịch sử 4, 5 - Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo dục năm
2007
3 . Thiết kế bài giảng Lịch sử 4,5 - Nhà xuất bản Hà Nội 2006
4 . Chuẩn kiến thức, kỹ năng Lịch sử 4, 5 - Bộ Giáo dục và Đào tạo
5 . Hướng dẫn số 5842/BGDĐT V/v thực hiện điều chỉnh nội dung chương
trình Lịch sử lớp 4,5 - Bộ Giáo dục và Đào tạo
6 .Tài liệu bồi dưỡng Lịch sử - Nhà xuất bản Giáo dục
7 . Kiến thức lịch sử cho GV Tiểu học - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
8 . Hướng dẫn sử dụng Tranh ảnh, lược đồ SGK Lịch sử và Địa lí lớp 4,5 NXB Giáo dục
9 . Tìm hiểu qua sách, báo Giáo dục, mạng internet.