I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Giáo dục Tiểu học hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu đúng đắn
cho sự phát triển lâu dài về trí tuệ, tình cảm, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ
bản để các em học tiếp ở Trung học cơ sở và các bậc học cao hơn.
Lịch sử là một trong những kiến thức quan trọng cần trang bị cho học sinh
Tiểu học. Việc học tập lịch sử giúp hình thành niềm tin đạo đức, chuẩn mực về thái
độ và hành vi đúng đắn, xác định nhiệm vụ bản thân đối với quê hương, đất nước.
Phân môn Lịch sử ở lớp 4 cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản
về một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của
lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho tới nửa đầu thế kỉ XIX. Dạy môn
lịch sử là bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện
tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau, biết
đặt câu hỏi trong quá trình học tập, trình bày kết quả bằng lời nói, hình vẽ, sơ
đồ…vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống. Góp phần bồi dưỡng
ở học sinh những thái độ và thói quen: ham học hỏi, tìm hiểu để biết các kiến
thức về Lịch sử dân tộc Việt Nam, tôn trọng các di tích văn hóa...Nhằm phát huy
những ưu điểm, kịp thời khắc phục những hạn chế trong quá trình dạy học và để
giúp học sinh theo dõi tiến trình lịch sử một cách hệ thống và ghi nhớ một số sự
kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một cách chặt chẽ, tôi nhận thấy cần phải có những
biện pháp cụ thể để tăng cường tính tích cực hóa học tập của học sinh, giúp các
em nắm vững kiến thức môn này. Học Lịch sử tốt các em sẽ hiểu và yêu thương,
kính trọng, tôn vinh các anh hùng dân tộc, yêu quý tôn trọng các chiến công hiển
hách hào hùng của ông cha ta, các di tích lịch sử…, từ đó tăng thêm lòng yêu
quê hương đất nước, tinh thần xây dựng và ý thức bảo vệ tổ quốc Việt Nam.
Những tri thức thu nhận được từ phân môn Lịch sử gắn chặt trong kí ức, tâm trí
các em và một số kiến thức sẽ được hiện thực hóa trong cuộc sống thơ ngây và
cả cuộc đời của học sinh.
Từ trước đến nay việc dạy học Lịch sử ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4
nói riêng đã được giáo viên thực hiện nghiêm túc: dạy đúng, đủ theo phân phối
chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Một số giáo viên có tâm huyết với
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận.
Chương trình Lịch sử lớp 4 đưa vào những sự kiện lịch sử từ buổi đầu
dựng nước và giữ nước (khoảng 700 năm trước Công Nguyên), …những chứng
cứ lịch sử. Qua đó các em sẽ được học cách làm việc khai thác tư liệu lịch sử
của các nhà sử học. Tài liệu Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí 4 đã chú ý đến các
kĩ năng của việc học tập lịch sử như: Kĩ năng quan sát và phân tích tranh ảnh
lịch sử; Kĩ năng đọc, phân tích bản đồ, sơ đồ, lược đồ, biểu đồ; Kĩ năng so sánh,
trừu tượng hóa trên cơ sở sử liệu; Kĩ năng đánh giá, giải thích các tài liệu gốc;
Kĩ năng sắp xếp hệ thống hóa các sự kiện hiện tượng lịch sử theo thời gian và
không gian…Từ đó các em mạnh dạn nêu thắc mắc, đặt câu hỏi và cùng tìm câu
trả lời, trình bày kết quả học tập bằng cách diễn đạt của chính mình.
Để thực hiện được mục tiêu môn học, hướng tới rèn các kĩ năng nêu trên,
yêu cầu người thầy phải có hệ thống phương pháp dạy học phù hợp với môn
học.Việc sử dụng chúng tùy vào mục đích và khả năng của người dạy và học,
tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể như: đối tượng học sinh, thiết bị dạy học và
không khí học tập. Trong thực tiễn không một giáo viên có kinh nghiệm nào lại
sử dụng đơn điệu một phương pháp trong hoạt động dạy học của mình. Nghệ
thuật dạy học là nghệ thuật phối hợp các phương pháp dạy học trong một bài
dạy của một người giáo viên.
Có thể minh họa việc đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở Tiểu học
bằng sơ đồ:
2
Đối thoại là cách dạy học có hiệu quả phù hợp với học sinh Tiểu học để
nắm vững (biết và hiểu) kiến thức lịch sử, làm cho học sinh luôn có nhu cầu và
hứng thú nghe bạn nói, suy nghĩ và tham gia vào quá trình trao đổi để tiếp nhận
kiến thức góp phần làm cho các bạn trong nhóm đều có thể tiếp thu kiến thức.
Trao đổi là làm cho mọi học sinh tham gia vào quá trình học tập tích cực
này chứ không thụ động ngồi nghe. Qua trao đổi, giáo viên sẽ hiểu rõ từng học
sinh về cá tính, trình độ, năng khiếu, rèn luyện cho các em khả năng suy nghĩ,
diễn đạt, mạnh dạn trình bày trước các bạn trong nhóm và trước lớp.
Đóng vai là một biện pháp sư phạm quan trọng để học sinh được “sống”
với quá khứ “nhập thân” vào lịch sử, sẽ rung cảm mạnh mẽ. Việc “đóng vai”
trong giờ học chỉ giới hạn chủ yếu ở việc đọc diễn cảm, làm các động tác cần
thiết, phù hợp với nội dung bài học. Việc “đóng vai” sẽ làm cho lớp học sinh
động hơn.
Học sinh tự trình bày những hiểu biết của mình về một sự kiện. Các em sẽ
thảo luận theo nhóm một chủ đề hoặc các vấn đề, đề tài có liên quan đến bài
học. Mỗi nhóm cử một đại diện để trình bày. Cuối buổi thảo luận, học sinh báo
những điều nhóm mình tìm ra để giúp nhau học tập.
Như vậy, trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử ở Tiểu học nói
riêng, người giáo viên phải biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học vào một tiết
dạy. Không được xem nhẹ một phương pháp nào, mỗi phương pháp có những
3
mặt mạnh và hạn chế riêng, không nên tuyệt đối hóa một phương pháp nào. Để
tổ chức hoạt động dạy học hiệu quả giáo viên cần biết lựa chọn ưu thế của từng
phương pháp phù hợp với mục tiêu, nội dung của từng loại bài học nhằm phát
huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
2. Thực trạng việc dạy - học Lịch sử ở trường Tiểu học Hưng Lộc I – Hậu Lộc.
* Về phía giáo viên:
Qua thực tế dạy học nhiều năm ở khối 4 – 5, tôi nhận thấy đa số giáo viên
các em chưa nắm được lượng kiến thức thầy giảng, rất nhanh quên. Việc dạy
môn Lịch sử không hấp dẫn cho học sinh khiến các em chỉ học thuộc lòng đối
phó, để trả bài, chứ đầu thì trống rỗng.
Khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan sát, trí tưởng tượng khái quát
hóa còn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm mà các nhân vật, mốc lịch
sử, sự kiện lịch sử lại nhiều nên các em chỉ có thể ghi nhớ một cách máy móc
4
(dễ nhớ nhưng lại mau quên). Kĩ năng đọc, kể, tường thuật của các em chậm, do
đó ảnh hưởng đến thời gian và tiến trình chung của môn học. Tinh thần hợp tác
học chưa cao, nhiều em chưa tự tin, học thụ động.
Kết quả khảo sát sau 4 tuần đầu năm học 2015 – 2016
Tổng số học
sinh
28
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
TL
SL
TL
được những thắc mắc ‘‘vô cùng tận” của học trò và buộc phải ít nhiều giải đáp
được cho các em lúc đó.
Nội dung chương trình phân môn Lịch sử lớp 4 trong tài liệu Hướng dẫn
học Lịch sử và Địa lí 4 được chia theo các mốc thời gian như sau:
a. Nội dung 1: Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng năm 700 TCN đến
năm 179 TCN): Sự ra đời của nền văn minh Văn Lang - Âu lạc và những thành
tựu chính của văn minh Văn Lang - Âu Lạc.
b. Nội dung 2: Hơn một nghìn năm đấu tranh giành độc lập (Từ năm 179 TCN
đến năm 938): Cuộc sống của nhân ta dưới ách đô hộ và chính sách đồng hóa
dân tộc của các chiều đại phong kiến phương Bắc và phong trào đấu tranh của
nhân dân ta để giành độc lập, tự chủ (Khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40, chiến
thắng Bạch Đằng 938).
c. Nội dung 3: Buổi đầu độc lập (từ năm 938 đến năm 1009): Tình hình đất
nước sau khi Ngô Quyền mất; Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân; Lê Hoàn lên
ngôi vua, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Tống lần
thứ nhất (năm 981).
d. Nội dung 4: Nước Đại Việt thời Lý (Từ năm 1009 đến năm 1226): Sự ra đời
của nhà Lý; vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, đổi lại tên nước; Sự phát
triển của đạo phật; Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ hai.
e. Nội dung 5: Nước Đại Việt thời Trần (Từ năm 1226 đến năm 1400): Hoàn
cảnh ra đời của nhà Trần; Ba lần chiến thắng quân Mông Nguyên xâm lược;
Công cuộc xây dựng đất nước ở thời Trần (Việc đắp đê).
g. Nội dung 6: Nhà Hồ (Từ năm 1400 đến năm 1407): Hoàn cảnh ra đời của nhà
Hồ năm 1400; Một số chính sách của nhà Hồ; nhà Hồ thất bại trong cuộc kháng
chiến chống quân Minh xâm lược năm 1047.
h. Nội dung 7: Chiến thắng Chi Lăng và nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê (Thế
kỷ XV): Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế (năm 1428); Việc tổ chức quản lí đất nước.
i. Nội dung 8: Trường học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê: Sự phát triển văn hóa
và khoa học dưới thời Hậu Lê.
6
Trong dạy học việc phát huy tính tích cực học sinh, cần chú ý đến các
hoạt động và bài tập có liên quan đến bài học.
Gợi ý một số vấn đề để học sinh suy nghĩ trả
lời, đặt câu hỏi, trao đổi trong nhóm, đóng
vai các nhân vật lịch sử.
Bài học
Vẽ bản đồ, sơ đồ và các loại đồ dùng trực
quan khác vừa sức học sinh.
Viết câu trả lời, điền câu, sắp xếp đúng các
sự kiện, địa điểm, thời gian.
7
Biện pháp 2: Phát huy tính tích cực của học sinh trong kĩ năng đọc và phân
tích tư liệu:
Muốn học sinh tiếp thu tri thức mới, giáo viên cần tổ chức các hoạt động
dạy học nhằm chuyển giao ý đồ sư phạm của thầy thành nhiệm vụ học tập của
trò. Hướng cho kiến thức lịch sử đến với các em bằng nhiều kênh thông tin khác
nhau để học sinh am hiểu và nắm bắt kiến thức một cách vững chắc hơn chứ
không phải là những bài giảng nhàm chán, thiếu hấp dẫn.
Phương pháp dạy và học bây giờ là hạn chế tối đa việc học thuộc lòng. Để
học sinh dễ hiểu, dễ nắm được những sự kiện, thời gian lịch sử, cần rèn cho học
sinh kĩ năng đọc và phân tích tư liệu. Phần kênh chữ trong bài, giáo viên yêu cầu
học sinh đọc thầm, phân tích, giúp các em hiểu những thông tin do kênh chữ
cung cấp sau khi đi vào tìm hiểu những sự kiện trong bài. Giáo viên chuẩn bị hệ
thống câu hỏi phù hợp, vừa sức giúp cho các em phát huy khả năng nói.
Ví dụ: Ở sự kiện: “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyến lãnh đạo (năm 938)”:
Các em muốn biết nguyên nhân nào có trận Bạch Đằng thì các em phải đọc
kê sau:
- Bước 2: Yêu cầu mỗi nhóm mô tả về một thành thị.
- Bước 3: Nhận xét, tuyên dương nhóm mô tả đúng.
8
Kết quả hoàn thành phiếu bài tập trên.
Đặc điểm
Dân cư
Quy mô
Thành thị
thành thị
Thăng Long
Phố Hiến
Hội An
Đông dân hơn
nhiều thành thị ở
châu Á
Lớn bằng
thành thị ở một
số nước châu Á
Có nhiều dân
nước ngoài như
Trung Quốc, Hà
Để mang lại hiệu quả cao trong quá trình sử dụng đồ dùng dạy học tôi tập
trung hướng dẫn học sinh biết cách làm việc với đồ dùng và rèn các kĩ năng sau:
a) Giúp học sinh có kĩ năng quan sát và kể lại, trình bày lại diễn biến cuộc
kháng chiến qua bản đồ , lược đồ, tranh ảnh…
Qua 2 bài đầu, môn Lịch sử - Địa lí đã hướng dẫn cho các em kĩ năng
quan sát, chỉ, mô tả, kể những sự kiện lịch sử trên bản đồ, lược đồ. Vì vậy, một
số bài có bản đồ, lược đồ, giáo viên cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, dễ cho học
sinh quan sát. Phóng to để hấp dẫn, thu hút sự chú ý, giúp các em có ấn tượng
sâu sắc và không bị quên lãng khi học xong.
GV có thể hướng dẫn các em khai thác qua các bước:
+ Giới thiệu nội dung bản đồ, lược đồ, tranh ảnh…
+ Giới thiệu các ký hiệu - quy ước (đối với bản đồ, lược đồ) hoặc giới thiệu
nhân vật, sự kiện, hiện tượng… trong tranh ảnh…
+ GV tổ chức cho HS khai thác đồ dùng trực quan bằng việc yêu cầu học sinh
quan sát theo hệ thống câu hỏi gợi ý (Giáo viên chuẩn bị một hệ thống câu hỏi
phù hợp, vừa sức, giúp các em phát huy kĩ năng nói, khả năng diễn đạt khi kể
hoặc trình bày diễn biến theo bản đồ hoặc lược đồ).
+ GV yêu cầu học sinh phát biểu nhận xét của mình, HS khác nhận xét bổ sung.
Ví dụ: Ở sự kiện: “Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ
nhất (năm 981)”.
Để học sinh trình bày được diễn biến cuộc kháng chiến, tôi cho học sinh
quan sát Lược đồ Chiến thắng quân Tống lần thứ nhất (Xem hình 1- Phụ lục 1)
xây dựng câu hỏi như sau:
1. Quân Tống xâm lược nước ta vào thời gian nào?
9
2. Chúng tiến vào nước ta theo mấy đường, là những đường nào?
3. Lê Hoàn chia quân thành mấy cánh và đóng quân ở những đâu để đánh giặc?
4. Kể lại hai trận đánh lớn giữa quân ta và quân Tống?
Để thực hiện điều này, giáo viên cần nắm vững kiến thức lịch sử để qua
các hình ảnh giới thiệu cho học sinh. Bằng cặp mắt quan sát, óc phân tích của
mình, các em sẽ mô tả, trình bày, nêu nội dung tranh, làm bài tập, …từ đó giúp
các em ghi nhớ sâu sắc những hình ảnh của lịch sử để lại.
Ví dụ: Ở sự kiện: Trịnh – Nguyễn phân tranh.
Các em quan sát Lược đồ địa phận Bắc triều – Nam triều và Đàng Trong,
Đàng Ngoài (Xem hình 3 - Phụ lục 2) để biết được địa phận Bắc triều – Nam
triều và Đàng Trong, Đàng Ngoài, sông Gianh là nơi chia cắt đất nước (Thế kỉ
XVI).
Ở sự kiện : “Quang Trung đại phá quân Thanh (Năm 1789)”. Yêu
10
cầu dựa vào Lược đồ Quang Trung đại phá quân Thanh (Xem hình 4 - Phụ lục 2),
hãy kể lại trận Ngọc Hồi, Đống Đa.
Hay ở sự kiện: “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Năm 40). Các em quan sát Lược
đồ khu vực chính nổ ra khởi nghĩa Hai Bà Trưng và nêu nội dung bức tranh : Vẽ
cảnh Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận (Tài liệu Hướng dẫn học, trang 30 – Tập 1).
c) Giúp học sinh hứng thú và nhớ lâu về diễn biến các trận đánh hay các sự
kiện lịch sử quan trọng qua trình chiếu powerpoint.
Ví dụ: Khi tìm hiểu diễn biến của trận Bạch Đằng (năm 938), tôi đã tiến hành
như sau:
- Học sinh đọc đoạn văn trong tài liệu Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí 4
(Trang 31 – Tập 1) kết hợp xem tranh minh họa trong tài liệu.
- Học sinh trao đổi trong nhóm:
+ Ngô Quyền dùng kế gì để đánh giặc?
+ Dựa vào bức tranh, kể lại diễn biến của trận chiến trên sông Bạch Đằng.
- Đại diện 1-2 nhóm trình bày trước lớp.
- Nhận xét, bổ sung.
- 1- 2 học sinh khác kể lại kết hợp quan sát một số hình ảnh giáo viên trình chiếu
thêm thời gian của mình. Làm sao giáo viên có thể huy động được tối đa kĩ năng
làm việc của HS: tai nghe, mắt thấy, biết phân tích, suy luận vấn đề, như vậy các
tiết dạy sẽ có hiệu quả mà chúng ta mong muốn. Hiện nay, việc sử dụng đồ dùng
trực quan của các giáo viên trong môn Lịch sử dựa vào nguồn cung cấp chủ yếu
là Công ty thiết bị đồ dùng dạy học của Bộ GD-ĐT, tuy nhiên nguồn cung cấp
này vẫn còn thiếu thốn. Cho nên, ngoài những hình ảnh trực quan trong tài liệu
Hướng dẫn học, giáo viên nên truy cập thêm trên mạng và các tài liệu khác để có
những đồ dùng về bản đồ, lược đồ, tranh ảnh… phong phú nhằm làm cho các
tiết dạy có hiệu quả hơn. Khi sử dụng đồ dùng trực quan trong tài liệu Hướng
dẫn học, giáo viên nên tìm những hình ảnh tương đối rõ ràng vì có những hình
ảnh rất hạn chế, quá đậm, đen hoặc mờ nhạt, không rõ nét, chưa có tác dụng
giáo dục cao.
Ngoài ra, giáo viên cần vận dụng tối đa những điều kiện cụ thể ở địa
phương để tổ chức các giờ học ngoài lớp, cho học sinh đi tham quan các cảnh
đẹp, các di tích lịch sử - văn hóa, gặp gỡ các cá nhân và tập thể đã trực tiếp tham
gia vào các sự kiện lịch sử, các hoạt động xã hội.
Ví dụ một số hình ảnh có thể sưu tầm ngoài tài liệu Hướng dẫn học Lịch
sử và Địa lí 4 (Xem hình 8; 9; 10; 11; 12;13 - Phụ lục 4; 5; 6).
Biện pháp 4: Thường xuyên tổ chức trò chơi học tập trong dạy học Lịch sử.
Thực tế đã chứng minh rằng: trò chơi học tập là một trong những
phương pháp hiệu quả nhất. Nó là một phương pháp được UNESCO khuyến cáo
dùng trong dạy học ở Tiểu học. Thông qua việc sử dụng phương pháp trò chơi
trong dạy học phân môn Lịch sử giúp hình thành, khắc sâu cho các em kiến
thức, phát triển tư duy và ngôn ngữ của các em. Qua việc tích cực tham gia vào
trò chơi, trẻ sẽ phát huy được tính chủ động, tích cực của mình trong giờ học.
Như vậy, phương pháp trò chơi nên được sử dụng rộng trong quá trình dạy học
phân môn Lịch sử.
* Qua thực tế tiến hành dạy học trên lớp, tôi xin được giới thiệu một
số trò chơi áp dụng cho phân môn Lịch sử như sau:
1. Trò chơi ‘‘Đóng vai”
lời thì đội khác được quyền đoán.
- Mỗi từ hàng ngang được 10 điểm, từ hàng dọc được 30 điểm.
- Trò chơi kết thúc khi có đội tìm ra từ hàng dọc.
- Đội nào có điểm cao hơn là đội thắng cuộc.
Ví dụ: Ở sự kiện: “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo”
Cách chơi như sau:
- Ô chữ gồm tám từ hàng ngang và một từ hàng dọc.
- GV chia lớp thành 4 đội chơi.
- Các đội lần lượt chọn từ hàng ngang, GV sẽ đọc gợi ý về từ hàng ngang, đội
chơi nhanh chóng đưa ra câu trả lời. Nếu sai, hoặc sau 30 giây không có câu trả
lời thì đội khác được quyền đoán.
- Mỗi từ hàng ngang được 10 điểm, từ hàng dọc được 30 điểm.
- Trò chơi kết thúc khi có đội tìm ra từ hàng dọc.
- Đội nào có điểm cao hơn là đội thắng cuộc.
Nội dung ô chữ và gợi ý cho từng ô:
1) Hậu quả mà quân Nam Hán phải nhận khi sang xâm lược nước ta năm 1938.
(Thất bại)
2) Nơi Ngô Quyền chọn làm kinh đô. (Cổ Loa)
3) Vũ khí làm thủng thuyền giặc. (cọc gỗ)
4) Ngô Quyền đã dựa vào hiện tượng thiên nhiên này để đánh giặc.(thủy triều)
5) Quê của Ngô Quyền. (Đường Lâm)
6) Quân Nam Hán tấn công vào nước ta từ hướng này.(Bắc)
7) Người lãnh đạo trận Bạch Đằng. (Ngô Quyền)
8) Tướng giặc tử trận ở Bạch Đằng. (Hoằng Tháo)
Từ hàng dọc : BẠCH ĐẰNG
3) Trò chơi “Đi tìm sự kiện”
* Cách thức tiến hành trò chơi “Đi tìm sự kiện”
- Giáo viên cử mỗi tổ 1 học sinh đại diện lên tham gia trò chơi.
13
Ví dụ: Khi tìm hiểu về “Nước Văn Lang”.
Cách chơi như sau:
- GV chia lớp thành 3 đội chơi.
- GV treo hoặc viết sơ đồ trống lên bảng (3 sơ đồ) có nội dung như sau:
14
Các tầng lớp trong xã hội Văn Lang
- Khi có hiệu lệnh HS nhanh chóng lên điền nội dung kết quả vào sơ đồ trống.
- Đội nào điền đúng, nhanh và đẹp thì đội đó thắng cuộc.
( Thứ tự các từ cần điền là: Vua Hùng; Lạc hầu, lạc tướng; Lạc dân; Nô tì).
5) Trò chơi “Điền lược đồ trống”
* Cách thức tiến hành trò chơi “Điền lược đồ trống”
- GV giới thiệu trò chơi.
- GV lựa chọn đội chơi.
- Mỗi đội chọn 2 em:
Em thứ nhất chọn kí hiệu thích hợp chuyền cho đồng đội của mình.
Em thứ hai dán kí hiệu lên lược đồ, sao cho đúng với nội dung lược đồ.
- Thời gian từ 3 đến 4 phút.
- Đội nào hoàn thành trò chơi xuất sắc đội đó sẽ được thưởng điểm.
Ví dụ: Tìm hiểu về sự kiện: “Chiến thắng Chi Lăng”
- GV chuẩn bị Lược đồ trận Chi Lăng gồm có 2 chiếc.
- GV chuẩn bị những kí hiệu mũi tên mầu có dán keo 2 mặt (lưu ý tới kích
thước trùng khớp với mũi tên có sẵn trong SGK).
- GV chia lớp thành 2 đội chơi, mỗi đội gồm 2 em HS và đặt tên cho mỗi đội
cho phù hợp.
- Kí hiệu học sinh phải dán (Quân ta mai phục: màu đỏ; quân địch hành quân:
màu xanh).
- Đội nào hoàn thành chính xác trước đội đó thắng. Thời gian tối đa là 4 phút.
Với các giải pháp trên đưa vào vận dụng trong dạy học phân môn Lịch sử
lớp 4. Trong suốt quá trình học tập từ đầu học kì I đến nay, qua kiểm tra, đánh
giá, kết quả ở các tháng được nâng lên. Kết quả khảo sát giữa học kì II đạt như sau:
Tổng số học
sinh
28
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
TL
SL
TL
25
90
3
10
Nhìn vào kết quả trên ta thấy: So với kết quả thực trạng thì tỉ lệ học
sinh hoàn thành được nâng lên rõ rệt, tỉ lệ học sinh chưa hoàn thành giảm
dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Lịch sử là cần chính xác tuyệt đối về thời gian, về số liệu minh chứng.
2. Kiến nghị.
- Ban giám hiệu các trường nên tham mưu để đầu tư thêm trang thiết bị dạy học
như: băng hình, sa bàn…để GV thiết kế và giảng dạy nhằm đổi mới phương
pháp Lịch sử nói riêng và các bộ môn khác nói chung vào thực tiễn dạy học ở
nhà trường, góp phần đổi mới phương pháp dạy học.
- Các nhà trường nên tạo điều kiện tổ chức các tiết học ngoại khóa, vì đây là sân
chơi rất bổ ích cho hoạt động tập thể.
- Trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết về phương pháp trò chơi để
các em có thể chơi một cách chủ động, sáng tạo, tích cực mà đem lại hiệu quả
bài học.
Thực tế cho thấy, giáo viên Tiểu học còn thiếu rất nhiều kiến thức cơ bản
về lĩnh vực Lịch sử. Do đó, cần tăng cường bồi dưỡng cho giáo viên về lí luận
dạy học bộ môn, đặc biệt là việc nắm vững cách thức tổ chức trò chơi cho học
sinh một cách khoa học, nhằm đưa lại hiệu quả cao cho giờ học.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ của bản thân và một số kiến nghị về giúp
học sinh học tốt hơn phân môn Lịch sử lớp 4. Tôi rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp của bạn đồng nghiệp để các biện pháp trên khả thi hơn.
17
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Hưng Lộc, ngày 20 tháng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết,
20
Hình 11: Lược đồ Đại Việt chia thành 12 sứ quân
(Bài 3: Buổi đầu độc lập – HĐ1:Tìm hiểu tình hình đất nước sau khi
Ngô Quyền mất)
PHỤ LỤC 6
Hình 12: Đinh Bộ Lĩnh chơi trò trận giả.
(Bài 3: Buổi đầu độc lập – HĐ2:Tìm hiểu hoạt động và đánh giá công lao của
Đinh Bộ Lĩnh)
21
Hình 13: Hồ Quý Ly
(Bài 6: Nhà Hồ - HĐ2: Tìm hiểu về Hồ Quý Ly ép vua Trần phải nhường ngôi,
lập nên nhà Hồ và tiến hành cải cách)
PHỤ LỤC 1
Hình 1: Lược đồ chiến thắng quân Tống lần thứ nhất (Năm 981)
(Bài 3: Buổi đầu độc lập – HĐ4: Tìm hiểu diễn biến của cuộc kháng
chiến chống quân xâm lược Tống)
22
Hình 2: Lược đồ chiến thắng Chi Lăng
(Bài 7: Chiến thắng Chi Lăng và nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê – HĐ2:
Tìm hiểu về diễn biến và ý nghĩa của trận Chi Lăng)
1. Lí do chọn đề tài.
1
2. Mục đích nghiên cứu.
2
3. Đối tượng nghiên cứu.
2
4. Phương pháp nghiên cứu.
2
II. NỘI DUNG
2
1. Cơ sở lí luận.
2
2. Thực trạng việc dạy – học lịch sử ở trường Tiểu học
4
Hưng Lộc I.
3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện.