MỤC LỤC
MỤC
NỘI DUNG
TRANG
I.
MỞ ĐẦU
2
1
Lí do chọn đề tài
2
2
Mục đích nghiên cứu
2-3
3
Đối tượng nghiên cứu
3
Đặc điểm chung
4
2.2
Thực trạng
4
3-4
3
Các giải pháp tiến hành
4
Kết quả đạt được
10
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
10
III.
4-10
cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết. Có năng khiếu và yêu thích môn vẽ
nhưng phải có kĩ năng chuẩn mực để vẽ đẹp, hợp lí và sáng tạo.
Hiểu được các mục tiêu trên và nắm bắt tình hình thực tế địa phương, xác
định được trách nhiệm, yêu cầu cụ thể của bản thân đối với môn học, đó chính là lí
do để tôi đi sâu nghiên cứu thể nghiệm về giải pháp Tạo hứng thú học tập phân
môn vẽ theo mẫu cho học sinh lớp 5.
2. Mục đích nghiên cứu.
Chúng ta đã biết giáo dục thẩm mĩ cho học sinh là nhiệm vụ chính của môn
Mĩ thuật. Bởi con người ta luôn có khát vọng vươn tới cái đẹp, mà muốn cho mỗi
người trong đó có trẻ em tiếp cận và cảm thụ một cách đầy đủ về cái đẹp nói
chung, về cách quan sát tinh tế, ước lượng, so sánh, đối chiếu nói riêng. Thực tế
cuộc sống hàng ngày cho thấy, khi ngôn ngữ con người chưa hình thành và phát
triển thì đã có nhu cầu thiết thực về màu sắc. Trẻ mới sơ sinh nằm chơi đã muốn
nhìn các màu sắc rực rỡ có cách nhìn màu sắc đẹp như (hoa, quần, áo...). Từ đôi
mắt nhận biết màu sắc đến bàn tay vẽ, sử dụng bất kỳ cái gì cũng có thể vẽ, nơi
nào trẻ cũng thích vẽ...
Môn mĩ thuật đối với học sinh Tiểu học các em rất thích. Dạy cũng vẽ, không
dạy cũng vẽ, vẽ theo ngẫu hứng, theo ý thích như: vẽ bông hoa, chiếc lá, con vật ...
2
Qua sự hướng dẫn và phương pháp rèn luyện của giáo viên, các em vẽ đẹp hơn, vẽ
mạnh dạn và tự tin hơn, có ý thức lựa chọn màu sắc thích hợp, sắp đặt màu phù
hợp, có màu đậm, có màu nhạt, không lạm dụng màu quá nhiều. Điều đó khẳng
định nhiệm vụ của giáo viên cần quan tâm nắm vững phương pháp giảng dạy, sử
dụng đồ dùng dạy học khoa học và có tâm huyết trong những giờ giảng thì kết quả
càng tốt hơn, chất lượng bài vẽ ngày càng tiến bộ, sản phẩm của các em ngày càng
đẹp hơn.
3. Đối tượng nghiên cứu.
thẩm mĩ thực sự cho bản thân thì việc giáo dục thẩm mĩ nói chung và môn mĩ
thuật nói riêng phải được giải quyết tốt ở những năm học Tiểu học.
Để giúp các em biết bộc lộ tình cảm của bản thân mình với mọi người, với tự
nhiên, xã hội, thì những người thầy giáo, cô giáo đóng một vai trò hết sức quan
trọng để đạt được mục tiêu môn học đề ra. Gắn giáo dục thẩm mĩ với các môn học
khác, với đặc thù của địa phương phải được tiến hành một cách thường xuyên,
nghiêm túc để các em có những tư duy tốt về thẩm mĩ, để các em mang lại nhiều
cái hay, cái đẹp cho cuộc sống, cho xã hội.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Đặc điểm chung:
- Thuận lợi:
Trường tôi đang công tác đóng trên địa bàn khu vực 8 xã vùng biển của
huyện. Được sự chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu nhà trường và đại đa số phụ
huynh quan tâm đến việc học tập của con em. Học sinh có tương đối đầy đủ sách
vở, đồ dùng học tập. Phương tiện, thiết bị dạy học cơ bản đảm bảo cho hoạt động
của thầy và trò. Học sinh ham thích học vẽ, so với một số nơi khác thì môn Mĩ
thuật ở đơn vị tôi công tác sớm được quan tâm. Bởi vậy, khi xem tranh vẽ của các
em học sinh ta thấy khá đẹp về hình vẽ: dí dỏm, ngộ nghĩnh, hồn nhiên, màu sắc
tươi sáng, phong phú và hấp dẫn, gần gũi với cuộc sống. Đó chính là kết quả của
những giá trị thẩm mĩ mà các em thể hiện qua tranh.
- Khó khăn:
Trên đây là những điều kiện thuận lợi trong việc dạy học Mĩ thuật cho học
sinh. Song bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại không ít hạn chế gây khó khăn cho dạy
học Mĩ thuật, đó là: một số phụ huynh học sinh còn xem nhẹ môn này, xem đây là
môn học phụ dẫn đến ảnh hưởng học tập của học sinh.
2.2. Thực trạng:
Trước đây người ta tin rằng trẻ em chỉ học hiệu quả nhất nếu giáo viên
giảng giải kiến thức một cách rõ ràng còn học sinh thì nghe và ghi nhớ đầy đủ.
Hơn nữa một số quan niệm cho rằng vẽ theo mẫu là phải vẽ đúng mẫu 100% kể
cả kích thước, đậm nhạt, màu sắc. Chính vì những điều đó mà tôi luôn trăn trở,
ra.
- Yêu mến cái đẹp, vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào sinh hoạt, học tập
hàng ngày
Xuất phát từ mục tiêu trên môn mĩ thuật 5 nêu một số mục tiêu sau:
+ Củng cố, nâng cao hơn về kiến thức, kỹ năng thực hành (bố cục, hình vẽ, vẽ
màu) để HS tiếp cận dần với môn Mĩ thuật ở THCS.
+ Giáo dục thẩm mĩ, giúp HS cảm nhận cái đẹp và vận dụng được hiểu biết về cái
đẹp vào học tập, sinh hoạt hằng ngày.
+ Phát triển khả năng quan sát và tư duy hình tượng.
Để đáp ứng với mục tiêu trên cần đưa ra phương pháp mới để phù hợp với thực
tiễn ở lớp 5, học Mĩ thuật chủ yếu là hoạt động thực hành và tự sáng tác theo ý
thích của mình. HS vẽ bài, tìm hiểu tác phẩm theo khả năng hiểu biết và cảm thụ
riêng, không sao chép rập khuôn theo những khuôn mẫu có sẵn. Dạy học Mĩ thuật
ở lớp 5 tiếp tục tạo điều kiện cho HS tiếp xúc với cái đẹp của thiên nhiên, của tác
phẩm mĩ thuật, từ đó HS tập tạo ra cái đẹp bằng suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo tạo của
5
mình đồng thời vận dụng những hiểu biết về cái đẹp vào sinh hoạt, học tập hàng
ngày.
Học Mĩ thuật HS cần được thường xuyên tiếp xúc với cái đẹp, vì thế GV
cần chuẩn bị ĐDDH: vật mẫu tranh ảnh, hình gợi ý cách vẽ... đảm bảo yêu cầu
đẹp đúng trọng tâm của từng bài. Nếu không có điều kiện chuẩn bị ĐDDH như nội
dung SGK giáo viên có thể tự làm hoặc tìm dạng tương đương ở địa phương như
hoa, lá, quả, đồ vật, tranh ảnh... để bài dạy sát thực tế và phong phú hơn.
Trong môn Mĩ thuật cơ cấu về phân môn vẽ theo mẫu đó là phân môn khá
trọng tâm nhằm rèn luyện khả năng quan sát, so sánh, bố cục, tỷ lệ, hình khối,
đường nét, màu sắc, ánh sáng không gian trước mẫu thực. Với HS Tiểu học vật
mẫu chỉ là cái cớ giúp các em quan sát, nhận xét và gây cảm xúc hứng thú. Môn
Mĩ thuật chủ yếu là thực hành để nhằm rèn luyện kỹ năng quan sát, khả năng
GV giúp đỡ nhóm yếu với câu hỏi gợi ý (khác về hình dáng chung, các bộ phận
cấu tạo, tỷ lệ của các bộ phận, màu sắc, độ đậm nhạt...) để các em thấy được điểm
khác nhau ở chúng.
Dạy vẽ theo mẫu cần tiến hành từ bao quát đến chi tiết.
+ Ước lượng, so sánh tỷ lệ.
+ Phác khung hình chung, khung hình riêng cân đối khổ giấy, phác đường trục của
đồ vật.
+ Cân đối tỉ lệ các bộ phận của vật mẫu
+ Hoàn thiện nét vẽ, vẽ đậm nhạt hay vẽ màu theo ý thích.
Đối với HS tiểu học thường có thói quen cầm bút là vẽ ngay, chưa có thói quen
quan sát kỹ trước khi vẽ, vì vậy hình vẽ thường bị xộc xệch, méo mó không đúng
mẫu. Để khắc phục tình trạng này, sau khi bày mẫu xong GV yêu cầu HS không
vẽ ngay mà phải giành thời gian quan sát kỹ mẫu và nhấn mạnh một số điểm đối
với bài vẽ theo mẫu.
- Xác định khung hình chung, nhìn bao quát hình dáng của các vật mẫu
- So sánh, ước lượng tỷ lệ giữa chiều ngang, chiều cao của từng vật mẫu.
- So sánh, ước lượng tỷ lệ các bộ phận.
- Xác định các chi tiết cơ bản của vật mẫu
GV nhắc nhở các em biết cách sắp xếp hình vẽ sao cho cân đối, vừa phải phù hợp
trang giấy. Chính yêu cầu này là một trong những nhân tố quan trọng đối với việc
giáo dục và rèn luyện ý thức về cái đẹp trong sự cân đối hài hoà thể hiện trên các
bài vẽ mẫu.
Thứ ba: Tâm lý HS tiểu học “Học mà chơi, chơi mà học” thông qua chơi tạo cho
trẻ phát triển tình cảm, trí tuệ vì thế mỗi giờ học GV phải tạo không khí phấn khởi,
vui vẻ, khơi dậy sự chú ý, chờ đón, hồi hộp. Lời giới thiệu bài có thể là hát, đọc
thơ, câu đố, mẫu chuyện nhỏ hay câu hỏi liên quan nội dung bài.
Ví dụ: Dạy bài 32 vẽ theo mẫu - Vẽ tĩnh vật (vẽ màu)
GV yêu cầu HS hát bài “Quả” hoặc yêu cầu các em tìm bài hát, câu đố, bài thơ nói
về Hoa; Quả; Đồ vật; hay tổ chức cho HS nhóm 2 đố nhau như:
(*)
Đón đưa tiếp khách nhiệt tình
Không ăn mà uống hàng bình như chơi?
(bộ ấm chén)
Thứ tư: Trò chơi là là một nhu cầu giải trí đối với mọi lứa tuổi, nhất là ở lứa tuổi
tiểu học, là một nhân tố cần thiết cho sự phát triển thể lực, trí tuệ, tinh thần, ý thức
xã hội (tinh thần đồng đội, tinh thần kỷ luật...) như vậy thông qua trò chơi vừa
cũng cố kiến thức vừa gây hứng thú học tập
Trò chơi 1: Thi vẽ
Số lượng người: 4
Đồ dùng: Giấy, bút
Cách chơi: Người chơi đều bịt mắt, mỗi người đều nhận được 1 tờ giấy, 1 cây bút
và vẽ cái cốc bằng một nét. Vẽ xong cái cốc mới được nhấc bút lên để vẽ chi tiết
phụ, sau đó mở mắt xem hình. Các bạn ngồi dưới cùng GV là ban giám khảo.
Trò chơi 2: Vẽ thêm
Số lượng 1 đội chơi 5 người
Cách chơi: Vẽ sẵn vào bảng phụ một số mẫu vật nhưng lại thiếu một bộ phận,
người chơi đứng cách bảng 1m quan sát hình vẽ 1 phút rồi bịt mắt đi thẳng tới
bảng vẽ thêm bộ phận còn thiếu vào vật mẫu.
8
Trò chơi 3: Ghép hình
Chuẩn bị: 10 cánh hoa đỏ, 2 nhụy hoa vàng, bảng phụ gắn được nam châm.
Cách chơi: 2 nhóm chơi (mỗi nhóm 3 người: 1 người chọn, 1 người trao, 1 người
gắn) các đội tự chọn cánh hoa khớp với nhụy hoa, ghép trong thời gian 30 giây.
Luật chơi: Nhóm nào ghép nhanh, đúng, đẹp thì nhóm đó thắng.
Thứ năm: Liên hệ với thực tiễn cuộc sống:
Tri thức của môn học đều được chắt lọc từ cuộc sống và trở lại phục vụ cho
cuộc sống, cho nên trong dạy học cần liên hệ bài học với thực tiễn tạo cho học
sinh sự liên tưởng, gây thói quen quan sát, so sánh, móc nối giữa cái đang học và
9
thời. Cuối năm học tổ chức triển lãm tranh giữa các lớp trong khối và giữa các
khối với nhau nhằm góp phần tạo không khí thi đua học tập đồng thời nâng cao
thêm sự hiểu biết cho các em.
4. Kết quả đạt được:
Trong những năm vừa qua, bản thân tôi trực tiếp tham gia giảng dạy bộ môn
Mĩ thuật trong trường tiểu học, so sánh đối tượng học sinh qua các đợt thao giảng,
sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường bạn, được học tập, nghiên cứu, tiếp thu chuyên
đề đổi mới chương trình, sách giáo khoa do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức. Ở cấp
Tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng, tôi đã đi sâu nghiên cứu giải pháp gây hứng
thú học tập phân môn vẽ theo mẫu lớp 5. Tuy thời gian chưa nhiều, song kết quả
thu được là rất đáng mừng, số học sinh hoàn thành ngay tại lớp 95%. Học sinh đã
có ý thức học tập tốt, tích cực tham gia vào các hoạt động trong nhà trường, có
nhiều em có bài vẽ đẹp, ngộ nghĩnh, hồn nhiên, các em đã biết vận dụng vào thực
tiễn cuộc sống (như biết giữ gìn vệ sinh cá nhân hơn, giữ gìn sách vở, đồ dùng học
tập tốt hơn, có ý thức chăm sóc bảo vệ cây cối, cơ sở vật chất trong nhà trường tốt
hơn biết lễ phép kính trọng thầy cô giáo và yêu mến bạn bè...) và cũng thông qua
môn Mĩ thuật đã giúp các em học tốt các môn học khác. Hơn nữa số học sinh làm
bài hoàn thành tốt tăng lên rõ rệt. Để kiểm tra so sánh, trong năm học tôi đã chọn
hai lớp 5A và 5B có trình độ tương đối đồng đều để khảo sát thực nghiệm và kết
quả mỗi lớp như sau:
Lớp 5A
Tổng
số
34
Lớp 5B
hoàn
thành (A)
SL
%
SL
%
7
22,6
24
77,4
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục toàn diện cho đất nước, từ nhiệm vụ phải giáo
dục thẩm mĩ cho thế hệ trẻ để xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, việc giảng dạy Mĩ thuật nhằm mục tiêu giáo dục con người có
một tầm quan trọng trong các trường phổ thông nói chung và cấp Tiểu học nói
riêng.
Những khả năng bước đầu gây hứng thú học tập phân môn vẽ theo mẫu cho
học sinh lớp 5 có phát huy được hết những giá trị giáo dục hay không, còn phụ
10
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác .
Người viết
Lê Trung Nguyệt
11
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Chương trình và sách giáo viên từ khối 1 đến khối 5
- Vở tập vẽ từ khối 1 đến khối 5
- Sách giáo khoa từ khối 4 đến khối 5
- Tài liệu đổi mới chương trình, sách giáo khoa từ khối 1 đến khối 5
- Tài liệu dạy học Mĩ thuật dành cho giáo viên Tiểu học (SAEPS) và một số tài
liệu tham khảo khác.
(*) caudo.net; caudovui.net
12