Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học môn toán lớp 1 ở trường tiểu học - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Toán học là khoa học suy diễn trừu tượng nhưng Toán học ở tiểu học lại
mang tính trực quan, cụ thể bởi vì mục tiêu của môn Toán học ở tiểu học là hình
thành những biểu tượng toán học ban đầu và rèn luyện kĩ năng tính toán cho học
sinh, tạo cơ sở phát triển tư duy và phương pháp toán học cho học sinh sau này.
Mặt khác Toán học còn có tính thực tiễn. Các kiến thức Toán học đều bắt nguồn từ
cuộc sống. Mỗi mô hình toán học là khái quát từ nhiều tình huống trong cuộc sống.
Môn Toán ở Tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng có một vị trí quan trọng, nó
góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của
nhân cách con người Việt Nam. Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học
có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần thiết để học các môn học khác ở
Tiểu học.
Môn Toán còn góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp
suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề. Nó góp phần phát
triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo, nó đóng góp vào
việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần
cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp và tác
phong khoa học. Dạy học toán học ở tiểu học là hoàn thiện những gì vốn có trong
học sinh, cho học sinh làm và ghi lại một cách chính thức các kiến thức toán học
bằng ngôn ngữ và các kí hiệu toán học. Mỗi tiết học là dịp để học sinh hình thành
những kiến thức và kĩ năng mới, vận dụng một cách sáng tạo nhất, thông minh nhất
trong việc học toán trong cuộc sống sau này.
Hiện nay, để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nước đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới có bản lĩnh, có năng
lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, thích ứng được với thực tiễn đời sống
xã hội luôn luôn phát triển. Nhu cầu này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường
phải được điều chỉnh một cách thích hợp dẫn đến sự thay đồi tất yếu về nội dung và
phương pháp dạy học trong nhà trường.
Những năm vừa qua, trong phong trào đổi mới phương pháp dạy học, một số
giáo viên có tâm huyết với nghề, có hiểu biết sâu sắc về bộ môn, có tay nghề khá

hoạt, hài hòa giữa các phương pháp đó làm sao để phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học.
Cũng như các môn học khác trong hệ thống chương tình giáo dục tiểu học,
môn Toán đã thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học. Vì vậy việc
hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, chiểm lĩnh kiến thức mới có vai trò quan trọng trong
quá trình hình thành và phát triển tư duy toán học của học sinh.
* Nhiệm vụ của người giáo viên
Thực hiện giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo
dục, kế hoạch dạy học; soạn bài lên lớp kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản
lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt
động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.
* Chương trình và mục tiêu chương trình toán lớp 1:
Chương trình gồm 35 tuần (4 tiết / 1 tuần x 35 = 140 tiết)
Số học: học sinh biết đọc viết đếm các số đến 100, làm tính cộng, tính trừ
không nhớ trong phạm vi 100.
Đại lượng, đo đại lượng: học sinh biết đo độ dài trong phạm vi 20.
Yếu tố hình học: Học sinh nắm được về điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình
tam giác, hình tròn.
Giải bài toán có lời văn: Biết giải bài toán đơn về cộng, trừ.
Yêu cầu với mức độ tư duy còn thấp, quá trình nhận thức môn toán phải đi từ
cụ thể, kỹ năng phân tích tổng hợp còn yếu hầu như chỉ dựa vào hình ảnh có sẵn
trước mắt. Vì thế chương trình toán lớp 1 chỉ tập trung:
+ Học xong toán lớp 1 học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản thiết
thực về phép đếm, về số lượng, về số tự nhiên trong phạm vi 100, về phép cộng và
phép trừ không nhớ trong phạm vi 100, về độ dài, đo độ dài trong phạm vi 20, tuần


lễ, ngày trong tuần, đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ, về một số hình học (đoạn
thẳng, điểm, hình vuông, tròn, hình tam giác) giải bài toán có lời văn.
+ Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các số

gặp khó khăn.
Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp 1, hầu như giáo viên
nào cũng phàn nàn khi các em mới bước vào học môn Toán các em còn rất lúng
túng thường hay mắc phải các lỗi như: cộng trừ còn chậm, tính toán bị nhầm lẫn,
khi dạy đến phần giải toán có lời văn học sinh rất lúng túng khi nêu câu lời giải,
thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số. .. Chứng tỏ các em
chưa nắm được một cách chắc chắn cách làm các dạng toán.


Kết quả khảo sát chất lượng môn Toán vào tháng 10 năm học 2018 – 2019
của lớp 1I do tôi giảng dạy như sau:
Lớp
1I
( 47 HS)

Điểm 9-10

Điểm 7 - 8

Điểm 5-6

Điểm dưới 5

TS

%

TS

%

2.3.Các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học môn Toán cho học sinh
lớp 1 ở trường Tiểu học.
Xuất phát từ những lí do trên, trong quá trình giảng dạy, năm học 2018 2019, tôi đã nghiên cứu nội dung chương trình, các tài liệu tham khảo, trao đổi với
các đồng nghiệp và kết hợp với những kinh nghịêm của bản thân trong quá trình
giảng dạy. Tôi đã tìm ra một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học toán lớp 1
đạt kết quả khả quan. Đó là các biện pháp sau:
Biện pháp 1: Ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng đồ dùng dạy học
có hiệu quả tạo hứng thú say mê trong học tập:
Những năm qua việc đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa được
thực hiện khá đồng bộ. Việc đổi mới nội dung, chương trình yêu cầu phải đổi mới
phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải sử dụng phương
tiện dạy học phù hợp - và CNTT là một trong những phương tiện quan trọng góp
phần đổi mới phương pháp dạy học.
Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của ứng dụng CNTT trong
dạy học; được sự quan tâm và chỉ đạo của Ban giám hiệu, trong quá trình dạy học
vừa qua tôi đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng, triển khai ứng dụng CNTT
trong giảng dạy và bước đầu thu được một số kết quả nhất định.
Thực tế cho thấy rằng dạy học truyền thống đối với học sinh lớp 1, giáo viên
phải sử dụng rất nhiều đồ dùng trong một tiết dạy. Từ khâu kẻ vẽ, soạn đồ dùng
trên lớp rất mất nhiều thời gian mà hiệu quả chưa cao dẫn đến giáo viên ngại sử
dụng đồ dùng trực quan thường dạy chay. Hơn nữa trong quá trình thao tác hưỡng
dẫn bài học, một bộ phận học sinh không quan sát được rõ ràng do vị trí đứng của
giáo viên che khuất mục tiêu hướng dẫn.
Nhờ thế mạnh: dễ quan sát theo dõi, trực quan, sinh động, dữ liệu phong phú,
lưu trữ và sử dụng dễ dàng, thông qua việc giảng dạy sử dụng đồ dùng bằng công
nghệ thông tin, giáo viên giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy, rèn


luyện phương pháp và kĩ năng logic, khơi gợi và tăng khả năng quan sát, tìm tòi.
Giờ học của các em phải diễn ra một cách hứng thú, nhẹ nhàng, sinh động, cụ thể

mức độ trừu tượng tăng dần.
Ví dụ: Khi cho học sinh giải toán:
Chẳng hạn loại toán về nhiều hơn, tôi có những minh họa trực quan theo thứ
tự như sau:


4


3
Mức độ 1
Mức độ 2
Mức độ 3
Biện pháp 2: Sử dụng trò chơi toán học vào tiết học toán:


Trò chơi toán học là trò chơi, trong đó có chứa một yếu tố toán học nào đó.
Đối với học sinh lớp 1 với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em thì trò
chơi toán học là một trong những phương pháp rất quan trọng giúp các em chiếm
lĩnh được kiến thức mới. Thực tế cũng cho thấy hình thức tổ chức trò chơi toán học
dễ được học sinh hưởng ứng tích cực và tham gia.
Xét về mục đích phục vụ dạy học nói chung, trò chơi toán học có thể là:
+ Trò chơi nhằm dẫn dắt, hình thành tri thức mới.
+ Trò chơi nhằm củng cố kiến thức, luyện tập kỹ năng.
+ Trò chơi nhằm ôn tập, rèn luyện tư duy trong giờ ngoại khóa.
Sau đây tôi xin đưa ra một vài ví dụ về trò chơi toán học mà tôi đã sử dụng ở
lớp mình.
Ví dụ 1: Để củng cố cho học sinh về phép cộng, phép trừ trong phạm vi 5,
tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Buộc dây cho bóng”
Chuẩn bị: bảng lớp có hình vẽ, gồm 2 phần:


Ví dụ 4: Để rèn luyện cho học sinh cách đặt một đề toán tôi tổ chức cho
các em chơi trò chơi “Nhìn vật đặt đề toán”.
Tôi chia học sinh thành 2 đội, cử đại diện (mỗi đội khoảng 4 đến 6 em) và
mang một số đồ vật của nhóm mình lên. Ví dụ: 6 cái bút hay 9 que tính (từ 1 đến
10) (đồ vật cùng loại).
Cách chơi: Hai đội đứng quay mặt vào nhau: Một bạn của đội này cầm đưa
lên một số bút (ví dụ 5 cái), đội kia phải nói được: “Có 5 cái bút” (hoặc “Bạn …có
5 cái bút). Bạn đó tiếp tục cho đội bạn hoặc đội mình một số cái (ví dụ 2 cái), đội
kia phải nói được: “Cho đi 2 cái”. Bạn đó đưa số bút còn lại lên. Đội kia phải nói:
“Còn lại mấy cái bút?”. Sau đó lại đổi bên.Đội nào mà không đặt đề toán đúng đội
đó sẽ thua. Nếu cả hai đội đặt đúng, đặt hay. Tôi khen tất cả các em.


Biện pháp 3: Tăng cường cho học sinh thực hành luyện tập.
Đây là phương pháp dạy học thông qua các hoạt động thực hành - luyện tập
của học sinh để giúp các em nắm được các kiến thức và kỹ năng mới. Phương pháp
này có ưu thế là phát huy được tốt nhất tính độc lập của học sinh, là phương tiện tốt
nhất để thực hiện nguyên lí giáo dục.
Phương pháp này được tôi sử dụng thường xuyên khi dạy học vì như các bạn
đã biết một tiết học có 35 - 40 phút thì thời gian khoảng 15 phút đầu là phần hướng
dẫn, còn lại là thời gian cho học sinh thưc hành. Học sinh được thực hành, luyện
tập liên tục. Thông qua hoạt động này mà học sinh luyện tập các kiến thức và kỹ
năng cần thiết. Ngoài ra học sinh được thực hành, luyện tập để củng cố khắc sâu
kiến thức qua giờ hoạt động tập thể.
Tuy nhiên cần chú ý là phải chuẩn bị cho việc thực hành, luyện tập một cách
chu đáo; động viên cả lớp hoạt động độc lập, mọi học sinh đều tự suy nghĩ, tự tìm
biện pháp; nhất thiết phải tổng kết hoạt động độc lập của học sinh, điều chỉnh sai
lầm, có sự bổ sung kiến thức cần thiết; các bài tập cần đi từ đơn giản đến phức tạp,
cuối cùng nên có những bài tổng hợp để mức độ luyện tập được nâng cao dần; cần

khen thưởng bằng lời nói việc làm cụ thể: khen trong từng giờ học, từng buổi sinh
hoạt, ….Với những em chưa chăm tôi luôn theo sát và kiểm tra việc học nói chung
và việc đọc nói riêng để từng bước nâng cao chất lượng đọc cho các em.
Mỗi tuần (hoặc tháng) các em đều được tham gia “hội vui học tập” với nhiều
hình thức thông qua giờ hoạt động tập thể từ đó để giáo viên và học sinh gần gũi
nhau hơn trên cơ sở tính hấp dẫn của môn học và cùng tham gia hoạt động.
Tóm lại: Cần tranh thủ các giờ luyện đọc, tự học và sinh hoạt tập thể để rèn
đọc và nâng cao năng lực đọc cho học sinh lớp mình là một việc làm cần thiết, có
tác dụng tích cực gây hứng thú học tập, sự say mê học hỏi lẫn nhau trong các em.
Biện pháp 6: Thực hiện tốt thông tư 22/TT- BGDĐT vào giờ học toán để
nhận xét, đánh giá động viên khen thưởng học sinh kịp thời.
Trong tiết dạy tôi thường chú ý đến học sinh ít nói, thụ động, học sinh làm
bài chậm, để gọi các em thường xuyên trả lời câu hỏi, làm bài tập… . Đối với học
sinh giỏi – khá tôi thường khích lệ, khen ngợi để các em phấn khởi hơn. Còn đối
với học sinh trung bình – yếu tôi nhẹ nhàng an ủi động viên: “ Cố lên, rồi các em sẽ
làm bài tốt như các bạn nếu các em cố gắng đọc bài nhiều ở lớp cũng như ở nhà.”
Trong tiết dạy toán, tôi giành nhiều thời gian cho đối tượng học sinh học yêu hơn,
hướng dẫn, cùng làm bài với các em. Khi các em có biểu hiện tiến bộ tôi thường
khen thưởng các em bằng những phần quà nhỏ như cuốn vở, viên phấn màu, cây
bút vv… để các em thích thú và cố gắng hơn.
Để đánh giá học sinh tôi sử dụng các hình thức đánh giá viết nhận xét của
mình vào vở và vào sách của học sinh hoặc nhận xét bằng lời, Học sinh cũng có thể
tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn. Qua đó rèn học sinh kĩ năng được
nhận xét đánh giá đúng cho bạn.cho mình, chỉ ra được lỗi sai cho học sinh để học
sinh khắc phục kịp thời.
Để kiểm tra kiến thức học sinh nắm được tôi sử dụng phiếu kiểm tra định kỳ
và thường xuyên. Bài kiểm tra cần ra đề theo đúng chuẩn kiến thức kĩ năng, từ dễ
đến khó, đủ các dạng bài đại diện cho những nội dung cơ bản của chương trình, dễ
chấm điểm và cộng điểm. Bài kiểm tra đảm bảo đủ 4 mức độ nên mọi học sinh phát
triển bình thường đều làm được bài nhưng không dễ dàng đạt điểm 10, để phân loại

+Thời gian luyện tập còn tùy thuộc vào đặc điểm tâm lí cá nhân học sinh.
+Phải có hệ thống bài tập được xác định trước, có kế hoạch hợp lí, rõ ràng và
nâng độ khó dần dần.
+Quá trình luyện tập không được ngắt quãng trong một thời gian dài.
Biện pháp 8: Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học và các
phương pháp dạy học trong giờ học toán:
* Phương pháp đàm thoại:
Phương pháp này phù hợp với tâm lý trẻ nhỏ, các em thích được hoạt động
(hoạt động lời nói).
Phương pháp đàm thoại được thực hiện trên cơ sở trao đổi câu hỏi phục vụ
cho nội dung bài. Ở đây có thể thấy, giáo viên nêu câu hỏi dẫn dắt, gợi mở; trò tìm
tòi, khám phá, chiếm lĩnh kiến thức. Ngược lại, trò có thể nêu câu hỏi thắc mắc để
giáo viên có thể hướng dẫn và giải đáp.
Phương pháp đàm thoại là tạo cho học sinh phát triển giao tiếp (giao tiếp
giữa cô và trò). Khi sử dụng phương pháp này ngoài việc có tác dụng giúp học sinh
tiếp thu kiến thức còn có tác dụng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Giáo viên kịp thời điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học của mình cho phù
hợp với đối tượng học sinh.
VD: - Để lấy được 25 que tính con làm thế nào? (lấy 2 bó chục que tính và 5 que
tinh dời, được 25 que tính )


Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên nên dùng ngôn ngữ dễ nghe, nhẹ
nhàng, tránh cáu gắt khi các em chậm nhớ, chậm hiểu. Hãy ôn tồn dẫn dắt học sinh
từng bước một để dạy các em làm tốt bài tập trong mỗi ngày.
* Phương pháp học nhóm
Ngay từ đầu năm học qua khảo sát , phân loại học sinh trong lớp tôi bố trí
cho học sinh giỏi kèm học sinh yếu, em giỏi ngồi gần em yếu để giúp bạn học tập ,
ưu tiên những học sinh yếu được ngồi ở dãy bàn thứ nhất và thứ hai trong lớp .
Trong từng giờ học lúc nào tôi cũng gọi các em trả lời , làm bài nhiều hơn những

tôi đã xác định được cần phải đổi mới cách thiết kế bài dạy, lập kế hoạch bài dạy và
xây dựng mục tiêu bài học.


Tôi xác định kế hoạch bài học trong sách giáo viên dù đã được thiết kế chu
đáo đến đâu cũng chỉ là phương án dự kiến để tạo thuận lợi cho giáo viên trong
việc chuẩn bị dạy học. Một trong những yêu cầu quan trọng của dạy học là sát với
đối tượng. Vì vậy, tôi cần xuất phát từ tình hình thực tiễn của lớp để có những điều
chỉnh, thay đổi cho phù hợp với đối tượng học sinh.
Đối với tôi kế hoạch bài dạy rất quan trọng nó giúp tôi tự tin khi lên lớp. Kế
hoạch bài dạy theo tôi cần ngắn gọn, dễ sử dụng, dễ bổ sung, dễ điều chỉnh, nêu rõ
và đầy đủ các hoạt động dạy học cụ thể của thầy và trò.
Mỗi kế hoạch bài dạy của tôi thường có:
- Mục tiêu: Tôi dựa vào yêu cầu cần đạt của Chuẩn kiến thức, kỹ năng;
dựa vào tình hình thực tế của lớp, địa phương để xác định mục tiêu cho bài.
- Đồ dùng dạy học: Đồ dùng dạy học là một thiết bị rất quan trọng trong
quá trình chuẩn bị một tiết lên lớp. Lớp học có sinh động, có đạt hiệu quả hay
không đòi hỏi người giáo viên và học sinh phải chuẩn bị tốt đồ dùng cho tiết học
ấy.
- Các hoạt động dạy học chủ yếu: Ở nội dung này cần nêu kế hoạch tổ
chức và hướng dẫn từng hoạt động học tập của học sinh theo mục tiêu đã xác định.
Cần xác định rõ tên từng loại hoạt động, cách tiến hành các hoạt động đó, dự kiến
trình tự các hoạt động…
4. Hiệu quả của việc áp dụng một số biện pháp Đổi mới phương pháp
dạy học môn Toán lớp 1 ở trường Tiểu học.
Để khẳng định hiệu quả của việc dạy học môn toán theo hướng phát huy tích
cực hoạt động của học sinh. Trường đã thống nhất dạy đối chứng ở 2 lớp 1H và 1I.
Cả hai lớp có số lượng học sinh bằng nhau, trình độ tương đương nhau. Cả hai giáo
viên chủ nhiệm cùng dạy lớp của mình với bài: Số 0 trong phép cộng (tuần 8) và
bài Phép trừ dạng 17 – 3 (tuần 20)


Bài: Phép trừ dạng 17 – 3 (tuần 20)
Sĩ Hình thức
Lớp
Mức 1
Mức 2
số
tham gia
1H 47 Đối chứng
47 = 100% 37 = 92,5%
1I 47 Thực nghiệm 47 = 100% 40 = 100%

Mức 3

Mức 4

21 = 52,5%
38 = 87%

12 = 22,5%
25 = 62,5%

Nhìn vào kết quả kiểm tra khảo sát như khẳng định thêm hiệu quả của
những biện pháp trên đem lại.
Qua tiết dạy của lớp 1H , BGH cùng giáo viên trong khối đã rút ra được
một số nhận xét như sau:
Giáo viên đã đi đúng các bước của quy trình dạy một tiết Toán mà hiện tại
đang thực hiện. Trình tự lên lớp chặt chẽ , đã thể hiện đúng phương pháp đặc trưng
bộ môn. Công việc cơ bản trong giờ dạy Toán đã được thể hiện rõ ràng. Giáo viên
giảng dạy nhiệt tình, đặc biệt đã chú trọng khai thác kiến thức cho học sinh, học

trong phép cộng’’ và “Phép trừ dạng 17 – 3’’ tôi đã áp dụng những biện pháp nêu
trên và tiết học đã đạt kết quả tốt. Đặc biệt cuối năm học kết quả kiểm tra môn toán
của lớp tôi phụ trách đã đạt kết quả cao, cụ thể như sau:
Lớp
1I

Điểm 9-10

Điểm 7 - 8

Điểm 5-6

Điểm dưới 5

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%


- Nắm vững chương trình và sách giáo khoa, hiểu đặc điểm tâm lý học sinh
để lựa chọn và sử dụng những phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học phù
hợp.
- Giáo viên phải cải tiến không ngừng phương pháp dạy học và giúp học
sinh cải tiến phương pháp học. Biết dựa vào những tri thức mà học sinh đã có, đã
học để hướng dẫn học sinh nâng cao lên một trình độ.
- Hiểu không có phương pháp nào là tối ưu, mỗi phương pháp đều có giá trị
riêng của nó. Hiệu quả hay không hiệu quả đều phụ thuộc vào người sử dụng. Nếu
các phương pháp dạy học được kết hợp và bổ sung cho nhau thì cách dạy học ấy sẽ
phù hợp được với đối tượng học đa dạng, chống sự nhàm chán và tạo ra sự năng
động trong cách nghĩ, cách làm của học sinh.
- Giáo viên phải biết kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm và phát
huy khả năng của cá nhân.
- Tăng cường rèn kỹ năng thực hành cho học sinh.
- Sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại vào dạy học.
- Linh hoạt trong ứng xử sư phạm để thích ứng với sự thay đổi của đối tượng
và hoàn cảnh.
- Luôn kiểm tra và đánh giá kiến thức và kỹ năng đạt được ở học sinh có
động viên khuyến khích các em.
- Luôn tự tìm tòi, học hỏi rút kinh nghiệm để bồi dưỡng chuyên môn của
mình.
- Tăng cường thao giảng, dự giờ rút kinh nghiệm, áp dụng những sáng kiến
trong giảng dạy.
- Đổi mới phương pháp dạy học kết hợp với đổi mới cách kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập của học sinh cũng như cách thiết kế bài dạy.
3.2. Kiến nghị
3.2.1. Đối với giáo viên
- Không ngừng học hỏi, tìm tòi, tích lũy kinh nghiệm từ đồng nghiệp, từ
thông tin sách vở và từ chính học sinh.
- Nắm chắc nội dung chương trình, ý đồ của sách giáo khoa, dạy sát đối

Phạm Thị Thanh Hiền


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) ( 2016), Toán 1- "sách giáo khoa", (In lần thứ mười
bốn), NXB Giáo dục Việt Nam.
2. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2002), Mục tiêu dạy học môn toán 1 "sách giáo viên",
NXB Giáo dục.
3. Nguyễn Thị Ngọc Bảo (2009), “Chuẩn kiến thức kĩ năng toán 1”, NXB Giáo
dục.
4. Cuốn: Phương pháp dạy các môn học ở lớp 1
5. Cuốn: Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy và học cấp Tiểu học.
6. Một số tài liệu khác.


SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ THANH HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN
TOÁN LỚP MỘT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

Người thực hiện: Phạm Thị Thanh Hiền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị : Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán

THANH HÓA, NĂM 2019

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị

Trang
1
1
2
2
2
3
4
4
5
6
6
8
12
13
13
14
14
15
18
21
21
22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status