I. MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài.
Để xây dựng đất nước Việt Nam thành một quốc gia dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh theo hướng chủ nghĩa xã hội thì
nhân tố “con người” là vô cùng quan trọng. Nó tạo nên động lực cho sự phát
triển kinh tế xã hội, là nhân tố trung tâm có tác dụng quyết định đối với toàn bộ
hệ thống khác tạo nên đà phát triển chung.
Hiện nay, với nhịp độ phát triển của cuộc sống mới, bên cạnh sự phát
triển nhiều mặt của xã hội, nhiều hiện tượng xã hội nảy sinh ảnh hưởng rất lớn
đến sự phát triển, đến quá trình học tập của trẻ em. Trẻ em chậm phát triển về
trí tuệ, thể lực cũng là một trong các vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm. Đối
với gia đình: con cái thành đạt là hạnh phúc của cha mẹ. Đối với nhà trường, để
có được 100% học sinh đi học chuyên cần, hoàn thành nội dung môn học, hoàn
thành nhiệm vụ của người học sinh là một trong chỉ tiêu lớn mà kế hoạch năm
học đã đề ra. Với học sinh có khó khăn về học tập, cha mẹ đôi khi không biết
mình phải làm gì, làm như thế nào, lúng túng và có các biện pháp dạy con
không phù hợp. Với nhà trường, sự khó khăn càng nhiều hơn bởi các em học
hòa nhập với cả một tập thể, nếu không có các giải pháp phù hợp dẫn đến kết
quả giáo dục các em không đạt mà hiệu quả hoạt động của cả một tập thể cũng
không cao.
Hiện nay, học sinh khó khăn về học tập được quan tâm ở nhiều khía cạnh
và mức độ khác nhau. Sự quan tâm đó thể hiện sự công bằng, tính nhân văn của
Đảng và nhà nước ta. Về mặt lí thuyết, đã nhiều công trình nghiên cứu về đối
tượng học sinh này. Các nhà giáo dục học cũng viết nhiều tài liệu đề ra các giải
pháp để giáo dục học sinh khó khăn trong học tập. Tuy nhiên trên thực tế, mỗi
học sinh khó khăn có một cách giáo dục khác nhau bởi sự khác nhau tâm lí, về
hoàn cảnh, về thể lực đòi hỏi các bậc làm cha mẹ, các thầy cô giáo phải có hình
thức giáo dục phù hợp.
Trong những năm qua, chất lượng giáo dục ở trường tiểu học Lam Sơn 3
luôn đứng đầu trong các trường Tiểu học của thị xã. Số lượng học sinh ngày
2
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lý luận của đề tài:
Muôn đời nay người ta thường tiếp xúc với trẻ em nhưng mãi thế kỷ XX
tâm lý học mới phát hiện ra “Trẻ em”. Đến những năm 20 của thế kỷ này, tâm
lý học lần đầu tiên lấy trẻ em bình thường làm đối tượng nghiên cứu. Và sau 40
năm của bước ngoặt này, tâm lý học sư phạm bắt đầu lấy trẻ em đang học ở
trường phổ thông làm đối tượng nghiên cứu theo cung cách trong “phòng thí
nghiệm”.
1.1 Khái niệm về khó khăn, khuyết tật học tập.
- Khuyết tật học tập là thuật ngữ dùng để chỉ các trường hợp có khó khăn
đặc thù trong các kĩ năng học đường với biểu hiện chung như: không chậm
phát triển trí tuệ nhưng việc lĩnh hội và vận dụng một hoặc một số kỹ năng học
tập cơ bản (nghe, nói, đọc, viết, tính toán và suy luận) có hạn chế, khó khăn,
kém hoặc chậm phát triển so với yêu cầu phát triển của độ tuổi và không thể
khắc phục bằng các phương pháp hướng dẫn thông thường.
- Khó khăn học tập: là năng lực học tập nào đó trong các năng lực nghe,
nói, đọc, viết, tính toán, suy luận gặp hạn chế, dẫn tới việc tiếp thu các nội dung
kiến thức, kĩ năng liên quan kém hoặc chậm trễ. Việc khó khăn nắm nội dung
kiến thức và kĩ năng của các kĩ năng học đường được quy định trong chương
trình giáo dục phổ thông cụ thể cho từng giai đoạn và khối lớp.
1.2 Nguyên nhân gây khó khăn học tập:
Có thể phân loại các nguyên nhân gây ra khó khăn học tập thành 2 nhóm:
khó khăn học tập có nguyên nhân từ trẻ và khó khăn học tập có nguyên nhân
môi trường xung quanh trẻ như gia đình và nhà trường. Trên thực tế, hầu hết
các trường hợp có khó khăn học tập đều là kết quả của sự tác động của 2 nhóm
nguyên nhân nói trên.
tập của học sinh.[1]
1.3 Một số biểu hiện của học sinh gặp khó khăn, khuyết tật học tập:
Các biểu hiện dễ sao lãng, dễ quên (mất tập trung chú ý), kiềm chế cảm
xúc kém, hay có hành vi bột phát, dễ bị kích thích (tăng động). Các biểu hiện
khó khăn trong việc hình thành mối quan hệ với người khác: từ nhỏ đã không
quan tâm tới mẹ và những người xung quanh, ở trường lớp, không chơi với các
bạn, ít quan tâm tới bạn và cô, chơi một mình, ngôn ngữ có những hạn chế khi
hay lặp lại từ ngữ, dùng sai ngữ cảnh, sở thích hạn chế, lặp đi lặp lại một số
hành vi, hoạt động. Các biểu hiện về cảm giác bản thể kém, khả năng phối kết
hợp các vận động cơ thể hạn chế, vận động tinh và vận động thô kém.
Tuy các em có những khiếm khuyết nhưng trong các em vẫn có những nét
tích cực tiềm ẩn mà các nhà giáo dục, cha mẹ học sinh phải có trách nhiệm khơi
dậy, kích thích nó lên. Đúng như Ma-ka-ren-cô đã nói: “Không có những đứa
trẻ không thể sửa chữa được mà chỉ có sự giáo dục tổ chức không đúng đắn,
những thầy giáo thờ ơ, những bậc cha mẹ vô trách nhiệm”.
2. Thực trạng học sinh khó khăn học tập
2.1 Tình hình chung
Trong những năm gần đây, số học sinh gặp khó khăn nhiều về học tập
liên quan đến biểu hiện khuyết tật học tập có phần gia tăng. Năm học 20162017, trường TH Lam Sơn 3 có 632 học sinh(254 học sinh nữ); Số lớp có học
sinh gặp khó khăn học tập là 11 lớp/15 lớp; Số học sinh toàn trường có các biểu
hiện trên khoảng 22 em. Cụ thể thường gặp ở những học sinh như:
Học sinh tăng động, giảm chú ý: 2 em.
Học sinh khó khăn về nhìn- đọc: 4 em
Học sinh khó khăn về nghe-viết: 2 em
Học sinh dễ quên, mất tập trung chú ý: 12 em
4
Học sinh khó khăn trong giao tiếp: 2 em
Bảng 1: Bảng thống kê số học sinh chưa hoàn thành, chưa đạt theo các
2.2 Những biểu hiện khó khăn về học tập của học sinh.
Các em có nhiều biểu hiện khó khăn trong học tập tuy nhiên ở nhiều mức
độ khác nhau. Nhiều học sinh có những biểu hiện thường xuyên, lặp lại nhiều
lần, khó rèn luyện sửa chữa, ảnh hưởng đến kết quả học tập. Cụ thể:
Khó khăn về đọc: Một số học sinh không biết đọc trơn, phải đọc đánh
vần, tốc độ đọc chậm, độ chính xác kém, không theo dõi được bạn đọc, đọc
thường thêm hoặc bỏ hoặc thay từ, đảo từ, bỏ dòng, lặp lại dòng( Em An -1B;
Dương-3C; Đạt- 4A). Học sinh đọc hiểu kém( khoảng 9/22 em khó khăn học
tập được khảo sát).
Khó khăn về viết: Một số học sinh không nghe-viết được, chỉ nhìn
chép(Dương 2C; Đạt - 4A); một số nghe viết được nhưng chữ viết khó đọc,
không đọc được( Nhi 2C); một số viết nhảy dòng, viết cách quãng; tốc độ viết
chậm; không biết viết câu văn, đoạn hoặc bài văn. Thông thường những học
sinh khó khăn về đọc thường gặp khó khăn về viết( Dương 2C; Đạt 4A).
Khó khăn về tính toán: Trong số 22 em có những khó khăn về học tập có
12 em có những khó khăn về tính toán. Các em thường ghi nhớ kém, không biết
đếm, đọc viết số; không thực hiện được phép tính đặc biệt các pháp tính cộng
trừ nhân chia có nhớ, các qui tắc về dấu phẩy…, không biết giải thích suy
luận( Toán giải có nhiều phép tính, tính giá trị biểu thức); không biết về hình
học.
Khó khăn trong giao tiếp: Học sinh khó khăn học tập thường có tâm lí
chán học, học không tập trung, không thích giao tiếp hoặc không hợp tác(Dúng
5
4A; Ly-2B). … Việc không có hứng thú học tập của các học sinh này làm cho
kết quả học tập của các em ngày càng bị hạn chế.
2.3 Một số nguyên nhân dẫn đến học sinh gặp khó khăn, khuyết tật học
tập:
Qua quá trình theo dõi thường xuyên kết quả học tập trên lớp, kết quả
học sinh khuyết tật được học hòa đồng, do đó giáo viên, nhà trường phải có các
giải pháp để giúp các em khắc phục hạn chế, khiếm khuyết, được đánh giá với
tất cả các học sinh khác.
Đối với gia đình: Học sinh khuyết tật học tập không có biểu hiện khuyết
tật bên ngoài, chỉ bộc lộ trong quá trình học tập. Chính vì vậy, phụ huynh có
tâm lí e ngại khi đưa con đi khám bác sĩ, làm hồ sơ theo dõi cho con vì sợ ảnh
6
hưởng đến sự phát triển tâm lí sau này của các em cũng như sự đánh giá của
cộng đồng đối với những học sinh này.
3. Giải pháp giải quyết vấn đề.
Qua việc nghiên cứu thực trạng học sinh khó khăn, khuyết tật học tập, từ
những nguyên nhân trên tôi đã có những biện pháp chỉ đạo giáo viên giáo dục
giúp đỡ học sinh khó khăn, khuyết tật học tập. Cụ thể:
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm của tập thể giáo viên, đặc biệt là giáo
viên chủ nhiệm. Thực hiện tốt chỉ đạo chuyên môn như chuyên đề chuyên sâu,
sinh hoạt chuyên môn tổ khối.
- Chỉ đạo dạy học theo hướng đổi mới phương pháp, dạy học phù hợp với
đối tượng học sinh.
- Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm lớp.
- Chỉ đạo tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại
khóa.
- Chỉ đạo giáo viên phối hợp với gia đình, các đoàn thể để có phương pháp
giáo dục phù hợp.
3.1 Phát huy tinh thần trách nhiệm trong việc phát hiện giúp đỡ học sinh
khó khăn khuyết tật học tập.
Các khó khăn trong học tập của học sinh thường được bộc lộ ngay từ năm
học lớp 1. Giáo viên cùng với gia đình có thể phát hiện thông qua các hoạt động
học tập trên lớp, tại gia đình, dưới hình thức cá nhân, trong hoạt động nhóm, tập
Trong lĩnh vực viết, nếu kĩ năng viết của học sinh chỉ đạt mức viết được nét,
cần xác định nội dung giúp đỡ các em về con chữ, sau đó nâng cao dần cấp độ
âm, vần, cấp độ viết từ, câu, đoạn và bài văn. Với học sinh khó khăn về tính
toán, cần dùng đồ dùng trực quan kết hợp với giải thích, sơ đồ hóa…
Đối với học sinh khó khăn, khuyết tật, những giờ học thuyết trình một
chiều làm chúng trở nên chán nản, mệt mỏi.Vì vậy giáo viên cần đổi mới
phương pháp, cần tổ chức những tiết học đa dạng về hình thức, thực hành và
trải nghiệm, khám phá, giải quyết vấn đề, làm việc cá nhân, làm việc nhóm,.. là
việc làm hết sức cần thiết, nhằm thu hút sự tập trung chú ý của học sinh , đa
dạng yêu cầu hoạt động: quan sát, nghe, nói, viết cũng giúp học sinh này tăng
khă năng chú ý. Khi giáo viên hướng dẫn cả lớp, những học sinh này có thể
không ý thức rằng cô cũng đang nói với mình. Hơn thế, có những em không
ngừng nói chuyện, có những em tiếp tục chú ý vào những âm thanh bên ngoài
lớp. Cần khởi động tiết học để tạo hứng thú cho các em, thể hiện sự quan tâm
đến đối tượng học sinh này qua những cử chỉ thân mật như đặt tay lên vai, tươi
cười khi nói với các em… tạo sự thân thiện cởi mở và giúp các em cảm thấy
yên tâm khi học.
Với học sinh khó khăn khuyết tật, các em thường ghi nhớ kém, khó hình
dung những công việc cần làm trong tiết học, quên giữa chừng, không nhớ việc
cần làm tiếp, học sinh có thể có biểu hiện xao lãng, mất tập trung chú ý, dễ có
tâm lí chán nản, lảng tránh thực hiện hoạt động mặc dù bản thân rất muốn
làm.Việc duy trì ghi nhớ thông qua hướng dẫn trình tự công việc giúp các em có
trách nhiệm học tập hơn. Cũng cần cho các em này thao tác và làm nhiều lần để
các em ghi nhớ. Thu hút sự chú ý của đối tượng học sinh này trên lớp cũng là
một việc quan trọng. Vì vậy, khi muốn hướng dẫn, giải thích trình tự hoạt động,
trước tiên giáo viên phải thu hút sự chú ý của học sinh.
Ở những học sinh khó khăn, khuyết tật học tập có trí nhớ công việc hạn
chế, chúng không thể thu giữ các thông tin phức tạp được truyền tải đến cùng
một lúc. Vì thế cần hướng dẫn chúng thật đơn giản, ngắn gọn, có trọng tâm, có
thể hướng dẫn riêng bằng cách viết ra giấy, gạch chân, tô màu nội dung thật cụ
trí đồ vật. giáo viên nên hướng dẫn học sinh cách sắp xếp đồ vật. Nếu học sinh
kém phân biệt đồ vật của mình và bạn bè, giáo viên nên hướng dẫn các em dán
hoặc đánh dấu biểu tượng vào đồ dùng của mình.
Điều chỉnh cách trách phạt, khen thưởng, động viên cũng là một hình thức
giúp đối tượng này học tập hứng thú hơn. Không nên trách phạt, thay vào đó là
thưởng ít, thưởng nhiều hoặc không thưởng khiến các em hào hứng và tăng cảm
giác thành công.
Mạnh dạn cử các em có khó khăn học tập làm một chức vụ nào đó trong
tổ nhóm để các em thấy mình cũng rất quan trọng đối với tập thể lớp từ đó tạo
hứng thú học tập và niềm vui cho các em tới trường.
Giáo viên chủ nhiệm cần động viên, khuyến khích học sinh trong lớp
giúp đỡ bạn bằng nhiều cách khác nhau: phân công những em học sinh học tốt,
nhiệt tình giúp đỡ các bạn, phát động phong trào thi đua: “Đôi bạn cùng tiến”,
“ Sao chăm ngoan” để các em phấn đấu, phối kết hợp với đội thiếu niên Tiền
9
Phong tổ chức các hoạt động theo chủ điểm của từng tháng nhằm tạo cho các
em sự vui vẻ, thoải mái và thích đến trường, coi mỗi ngày đến trường là một
ngày vui. Với đối tượng học sinh này, giáo viên cần nắm vững tâm lí trẻ, tránh
gò bó, áp đặt, mệnh lệnh, căng thẳng, ức chế tâm lí trẻ. Giáo viên nên vỗ về, tạo
tâm thế thoải mái cho các em. Do trẻ có những khó khăn trong học tập nên khả
năng nhận thức, diễn đạt suy nghĩ, tình cảm, mong muốn hạn chế, do sang chấn
tâm lí không muốn bộc lộ, bộc bạch với ai nên giáo viên cần quan tâm trò
chuyện giúp đỡ mọi lúc mọi nơi, cần kiên trì nhẫn nại.
3.5 Chỉ đạo tổ chức tốt hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại
khóa.
Đối với mục đích hình thành khả năng ứng dụng cho học sinh khó khăn
khuyết tật học tập, không chỉ giúp học sinh biết vận dụng những điều đã học mà
còn phải biết cách giải quyết các vấn đề phức hợp, mới phát sinh, không chỉ
dung chương trình con em họ đang học. Trên cơ sở đó giúp họ có điều kiện dạy
dỗ con. Cần quan tâm, giúp đỡ động viên chia sẻ với những gia đình học sinh
có khó khăn về kinh tế.
Với gia đình học sinh, giáo viên cần giúp cha mẹ các em thấy được
những biểu hiện khó khăn trong học tập, hành vi, suy nghĩ.... để giúp các em
khắc phục kịp thời, tránh nuông chiều, khắt khe hoặc qúa thờ ơ, lãnh đạm. Phải
thay đổi nhận thức cũ kỹ, lạc hậu của phụ huynh và giúp họ thấy rằng: Giáo dục
là sự nghiệp của toàn dân, không chỉ nhà trường mà gia đình, xã hội đều phải có
trách nhiệm trong sự nghiệp gíao dục chung. Cần quan tâm, chăm sóc, giành
khoảng thời gian nhất định để tạo điều kiện cho các em học tập. Quan tâm, mua
sắm đầy đủ đồ dùng học tập cho con cái, dành cho các em không gian học tập
tốt.
Hướng dẫn chỉ đạo giáo viên tìm hiểu về hoàn cảnh học sinh khó khăn,
khuyết tật học tập, nắm diễn biến tâm lí của các em để cùng với gia đình có sự
cởi mở, gần gũi, thân mật trao đổi giúp các em có tâm lí an tâm học tập. Về
hình thức bên ngoài, học sinh khó khăn học tập không có những khuyết tật có
thể nhìn thấy được. Vì vậy khi các em học không tốt, phụ huynh thường có tâm
lí cho rằng đó là do các em không chăm học. Thực tế không phải như vậy và
giáo viên có nhiệm vụ giúp phụ huynh hiểu rõ vấn đề để có hình thức động viên
giúp đỡ các em cải thiện tình hình học tập. Trường hợp nghi ngờ trẻ có khó
khăn học tập, giáo viên cần trao đổi để phụ huynh đưa trẻ đến khám tại các
bệnh viện để có thể được đánh giá một cách đầy đủ và chính xác.
Hướng dẫn giáo viên tham mưu với các cấp lãnh đạo tạo điều kiện hỗ trợ
về vất chất nhằm giúp gia đình các em bớt đi gánh nặng để các em được vui vẻ ,
vô tư đến trường như bao trẻ khác. Giáo viên cần phải phối hợp với hội khuyến
học, hội chữ thập đỏ, hội phụ nữ... đến gia đình các em thăm hỏi, động viên,
giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Từ đó tạo không khí vui vẻ,
đầm ấm trong gia đình để các em thấy mình vẫn được mọi người quan tâm
chăm sóc.
4. Hiệu quả của sáng kiến.
2.Tự tin, trách nhiệm
3.Trung thực, kỉ luật
4.Đoàn kết, yêu thương
17%
6
4
10
10
10
3
1
Bảng theo dõi kết quả trên cho thấy:
- Có 3 học sinh lớp 1( năm học 2015-2016) chưa biết đọc trơn, chưa biết
viết chính tả nghe-đọc đến nay đã đọc thông viết thạo, hiểu được văn bản đọc
và theo kịp các bạn trong lớp 2. Một số học sinh đọc còn chậm nhưng không
còn bỏ từ, bỏ câu hoặc đọc cách quãng.
- Có 7/12 em khả năng tập trung chú ý đã tăng lên tương đối tốt biểu hiện:
viết và làm kịp bài tập tối thiểu trên lớp, hiểu và trả lời tương đối đúng câu hỏi
của cô; tham gia hoạt động nhóm và có kết quả, các bài kiểm tra đạt điểm 5 trở
lên, các chỉ số tham chiếu về nội dung môn toán và Tiếng Việt đạt yêu cầu.
- Có 5 em trong đầu năm học 2016-2017( lớp 3, 4) không có kĩ năng viết
từ, câu, đoạn văn đến nay đã viết được các câu văn đơn giản đúng ngữ pháp,
biết ráp nối các câu văn để được đoạn văn logic diễn tả đúng nội dung theo yêu
cầu.
- Có 7 em đã tiến bộ về toán ở các mức độ khác nhau như: 2 em lớp 1 biết
đếm số( đếm thêm) và so sánh số; có 3 học sinh lớp 2, 3 biết đặt tính và giải
toán bằng những phép tính và lời giải đơn giản, nhận biết được hình ở 2 vị
trí( ngang và thẳng đứng). Có 2 em lớp 4 biết thực hiện dãy tính có 2 phép tính,
tuy nhiên phụ huynh có sự phối hợp nhưng chưa tích cực với nhà trường để
giúp các em có sự chuyển biến được tốt hơn.
13
III. KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Hiện tượng học sinh khó khăn, khuyết tật học tập là một hiện tượng phổ
biến trong tất cả các nhà trường, biểu hiện rõ nhất là ở cấp tiểu học; tuy nhiên
trên thực tế không phải ai cũng có những hiểu biết đầy đủ về học sinh khó khăn,
khuyết tật học tập. Nếu trẻ bị khó khăn khuyết tật học tập không được phát hiện
sớm, không được quan tâm giáo dục hòa nhập trong môi trường bình thường
thì khả năng phát triển kém, có thể sẽ mất đi cơ hội hòa nhập với xã hội, với
cộng đồng. Xác định nguyên nhân gây khó khăn về học tập của học sinh để có
giải pháp giúp đỡ đúng đắn là nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên. Chính
vì vậy, các nhà quản lí chuyên môn cần quan tâm bồi dưỡng nâng cao ý thức
trách nhiệm cho giáo viên trong công tác giáo dục giúp đỡ trẻ khó khăn khuyết
tật học tập. Tích cực đổi mới phương pháp, dạy học phù hợp với đối tượng và
tâm lí lứa tuổi, kiên trì nhẫn nại với mọi đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh
khó khăn khuyết tật là một trong các yêu cầu đánh giá chuẩn giáo viên. Bên
cạnh đó, xây dựng môi trường học tập thân thiện giúp trẻ mạnh dạn tự tin khi
đến trường cũng là một giải pháp quan trọng. Ở đó, học sinh được giáo dục kĩ
năng sống, lòng nhân ái, được sự quan tâm của mọi người, trẻ sẽ được phát
triển đầy đủ về trí tuệ, thể chất, tinh thần, giúp các em trở thành người có ích
cho xã hội.
2. Kiến nghị
Hiện nay nhà nước đã có chính sách hỗ trợ giáo viên dạy trẻ khuyết
tật( khuyết tật vận động; khuyết tật các giác quan, trẻ tự kỉ…), tuy nhiên đối
tượng học sinh khó khăn, khuyết tật học tập có những biểu hiện bên ngoài
Trương Thị Trang
15
MỤC LỤC
Mục
I
1
2
3
4
II
1
2
3
4
III
Nội dung
Phần mở đầu
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung
Cơ sở lí luận
Thực trạng vấn đề
Giải quyết vấn đề
Hiệu quả sáng kiến
1
2
3
4
Lê Mạnh Cường
Lí Hoàng Anh
Lê Quang Hà
Mai Đăng Dương
1A
1B
2A
2C
5
Lê Trung Hiếu
2C
6
7
8
Nguyễn Phương Nhi
Nguyến Đức Anh
Nguyễn Phạm Li La
2C
14
Phạm Ngọc Dũng
4A
15
Phạm Ngọc Cường
4C
16
17
18
Nguyễn Minh Anh
Nguyễn Thị Hảo Hảo
Lê Ngọc Dũng
4C
4C
5B
2B
Đọc đánh vần, ghi nhớ âm vần kém.
Đọc đánh vần, ghi nhớ âm vần kém.
Không làm được toán giải, viết câu văn
KN viết- tư duy kém
KT trí tuệ
Tự kỉ(tăng động giảm
chú ý).
Kĩ năng viết kém
Giảm tập trung chú ý.
Trí nhớ kém
Trí nhớ kém
Nhút nhát, không
giao tiếp.
Ghi nhớ kém, không
bền.
Ghi nhớ kém, không
bền.
KT trí tuệ
Tâm lí căng thẳng,
không tự tin.
Ghi nhớ không bền
Ghi nhớ không bền
Ghi nhớ kém
Chú ý kém
19
20
21
22
Nguyễn Quang Trưởng
Lê Trọng Hùng
18