MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến .
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Biện pháp 1: Dạy Tập làm văn qua các môn học khác.
Biện pháp 2: Rèn kĩ năng sử dụng văn tham khảo trong dạy học tập làm văn.
Biện pháp 3: Rèn kĩ năng lập dàn bài chi tiết.
Biện pháp 4: Rèn luyện thao tác kĩ năng làm một bài văn.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
- Kết luận.
- Kiến nghị.
TRANG
01
01
02
02
02
02
chỗ trình bày mạch lạc, dễ hiểu mà quan trọng hơn đó là sức truyền cảm. Để viết
được bài văn hay các em cần rèn luyện năng lực quan sát, năng lực thu thập
thông tin, năng lực tưởng tượng, năng lực phân tích tổng hợp và các khả năng
biểu đạt, bố cục, tạo phong cách. Làm thế nào để cho học sinh làm văn hay và
có hiệu quả là cả một vấn đề rất khó khăn, cần phải suy nghĩ và dày công nghiên
cứu của những người làm công tác giáo dục.
Trong thực tế giảng dạy tập làm văn phần Tả người, bản thân người giáo viên
là người hướng dẫn đôi khi cũng cảm thấy còn lúng túng, bí từ và không biết
phải hướng dẫn thế nào để học sinh có thể viết được bài hay, có hình ảnh, có
cảm xúc. Một số tài liệu như sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế thì
hướng dẫn chung chung, còn một số sách khác như văn mẫu lại chỉ có các bài
văn đã viết sẵn mà không có một sự hướng dẫn nào để định hướng cho giáo viên
cũng như học sinh. Do vậy tôi luôn luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để cho
học sinh thích làm văn, viết văn chân thật, có cảm xúc và sinh động. Để nâng
cao chất lượng bài dạy và giúp các em rèn luyện kĩ năng sản sinh văn bản, tạo
điều kiện cho học sinh tự tìm và tự thể hiện những ý kiến, suy nghĩ của mình
một cách độc lập, chủ động không máy móc, rập khuôn. Để bạn bè và đồng
nghiệp cùng tham khảo và suy nghĩ, tôi mạnh dạn đề xuất: “Một số biện pháp
2
giúp học sinh lớp 5 làm tốt bài văn Tả người", để bạn bè đồng nghiệp cùng
tham khảo và suy nghĩ.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu những ưu điểm và hạn chế trong quá trình dạy và học của giáo viên
và học sinh.
- Đưa ra một số biện pháp để phát huy các ưu điểm đó và đặc biệt là đề ra
biện pháp khắc phục những hạn chế khi dạy và học văn miêu tả.
- Giúp học sinh có hứng thú với phân môn Tập làm văn và văn Tả người nói
riêng.
nhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ
như tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi.
Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ. Cho nên, thầy và trò phải soạn giảng và học tập
tích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong nâng cao một cách bền vững chất
lượng môn Tiếng Việt ở lớp cuối cấp Tiểu học.
Dạy Tập làm văn lớp 5 phải đảm bảo mục tiêu yêu cầu cần đạt về kiến thức,
kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học theo Chuẩn kiến
thức, kĩ năng của từng môn học và phù hợp trình độ của từng học sinh trong lớp.
Tôi tin rằng nội dung này nếu được áp dụng và vận dụng hợp lý sẽ đem lại
hiệu quả cao cho việc dạy phân môn Tập làm văn, góp phần nâng cao chất lượng
môn Tiếng Việt lớp 5.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến:
a. Thực trạng:
Năm 2016 – 2017, tôi được phân công phụ trách lớp 5B với 32 học sinh. Hầu
hết 32 học sinh của lớp 5B tôi chủ nhiệm còn rất hạn chế khi làm bài Tập làm
văn nhất là văn tả người. Học sinh lớp 5 dù khá quen với văn miêu tả song bây
giờ các em mới bắt đầu thực hiện làm bài văn tả người. Trong quá trình giảng
dạy thực tế của học sinh lớp 5B, tôi nhận thấy hầu hết các bài văn tả người của
4
các em còn viết lan man, chưa tập trung tả những nét đặc trưng của nhân vật.
Lời văn của các em còn nghèo nàn, thiếu hình ảnh, sử dụng các từ ngữ miêu tả
chưa phù hợp với đặc điểm hình dáng và tính cách của nhân vật, làm cho nhân
vật trở nên méo mó, thiếu tính chân thật trong bài viết của các em. Phần đông
các em viết mở bài theo kiểu trực tiếp nêu chưa hấp dẫn người đọc và phần kết
bài các em thường viết theo kiểu không mở rộng nêu chưa thể hiện hết cảm xúc
của người viết đối với nhân vật được miêu tả. Giáo viên giảng dạy thường chú
trọng lý thuyết coi nhẹ kỹ năng thực hành. Vì vậy các em ít được khai thác
phải nỗ lực và kì công, phải nắm chắc được các phương pháp viết của từng bài
dạy. Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giải
quyết các vấn đề được nêu ở trên để học sinh làm tốt bài văn tả người như sau:
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Biện pháp 1: Dạy Tập làm văn qua các phân môn khác.
Tập làm văn mang tính tích hợp cao. Nó góp phần quan trọng trong việc thực
hiện mục đích của môn Tiếng việt, phản ánh kết quả giảng dạy và học tập của
các phân môn khác và được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu của nhiều
môn học. Tập làm văn có tính chất tổng hợp, có quan hệ chặt chẽ với việc dạy
học Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu và cả Chính tả. Đây là nơi tiếp nhận
và đây cũng là nơi luyện tập ngày càng nhuần nhuyễn các kĩ năng và kiến thức
của các phân môn trên. Bài Tập làm văn trở thành sản phẩm tổng hợp, là nơi
5
trình bày kết quả đích thực nhất của việc học Tập làm văn. Do vậy khi dạy các
phân môn của Tiếng việt, giáo viên cần khơi dạy Tập làm văn cho học sinh.
a. Dạy Tập làm văn qua phân môn Luyện từ và câu:
Nếu ở giờ tập đọc, giáo viên đưa ra các ngữ liệu để dạy cho học sinh thấy
được cái hay, cái đẹp trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ
và bước đầu vận dụng nó thì ở tiết luyện từ và câu, giáo viên giúp các em hiểu
biết thêm về sự phong phú của từ vựng trong cách tạo từ các lớp theo trật tự
hoặc trong mối quan hệ về âm, về ngữ nghĩa. Từ đó các em được củng cố những
hiểu biết trong cách dùng từ có chọn lọc vừa đảm bảo tính chính xác, vừa có tác
dụng biểu cảm nhằm giúp các em có nhiều vốn từ để vận dụng trong khi làm bài
văn Tả người như sau:
a.1. Loại bài tập tìm từ theo chủ đề, đề tài.
Dạng 1: Yêu cầu học sinh tìm từ theo chủ đề mở rộng vốn từ:
- Các từ ngữ trong chương trình được sắp xếp theo chủ đề. Khi dạy các bài này,
giáo viên giúp học sinh hệ thống lại các từ ngữ đó và có thể tăng cường mở
- Tính tình của một bạn học sinh ngoan: ngoan ngoãn, dịu dàng thân thiện,...
- Hình dáng của một em bé: hồn nhiên, ngây thơ, nhí nhảnh, mũm mĩm,...
Ngoài các yêu cầu tìm danh từ, động từ, tính từ giáo viên cũng cần chú ý dạy
học sinh bài tập thay thế các danh từ bằng các đại từ chỉ ngôi thích hợp để câu
văn không bị lặp từ. Việc dạy học sinh xác định cách dùng từ đúng với từ loại,
tiểu loại của chúng bằng cách xây dựng các bài tập dựa trên ngữ liệu là các lỗi
dùng từ sai của học sinh và để học sinh tự sửa, giúp các em rút ra được cách
dùng từ thế nào cho đúng.
Ví dụ: Sửa đoạn văn sau bằng cách dùng đại từ thay thế.
Bàn tay mềm mại của cô giáo viết ra những dòng chữ thật đều và đẹp. Viết
xong, cô giáo ngắm nhìn bài viết của mình rồi ngắm nhìn chúng em mỉm cười.
Cô giáo như muốn khuyến khích chúng em hãy viết đẹp giống như mình.
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại đoạn văn nhiều lần.
- Tìm các từ bị lặp lại trong đoạn văn: cô giáo, chúng em.
- Hãy tìm các đại từ chỉ người hoặc các từ đồng nghĩa với các từ đó để thay thế
*Học sinh đã tìm và sửa lại như sau:
7
Dạng 3: Yêu cầu học sinh mở rộng vốn từ dựa trên kiến thức cấu tạo từ.
Ví dụ: Khi dạy bài tiết luyện tập làm bài văn Tả người tuần 17, tôi đưa loại bài
tập dựa trên kiến thức từ loại mà các em đã học ở lớp 4. Cụ thể là các bài tập
sau:
1)Tìm những tiếng ghép với tiếng hiền để tạo thành từ ghép chỉ tính nết của
người? (hiền lành, hiền hậu, hiền từ, hiền thục...)
2)Tìm những từ chứa tiếng"xinh” để tả hình dáng của người?
(xinh xinh, xinh xắn, nhỏ xinh...)
3). Tìm nghững từ ghép, từ láy chỉ các hoạt động của người?
(nhanh nhẹn, hoạt bát, cần mẫn, chăm chỉ, thức khuya, dậy sớm, xốc vác...)
là ai, thái độ của người viết đối với người định tả thế nào, từ dùng ở hoàn cảnh
đó đúng chưa?
Dựa vào định hướng của cô, học sinh đã xác định được những từ dùng chưa
phù hợp như sau:
- Cô giáo em có nước da đen sì. Giọng nói của cô oang oang.
- Hùng chạy đuổi nhau trên sân trường thở hồng hộc.
- Bạn Hiếu là người có tấm lòng bác ái.
- Bố mẹ em rất được ông bà trọng vọng
Để giải quyết yêu cầu 2, giáo viên cần giúp học sinh nhận ra được các từ gạch
chân ở trên dùng chưa thích hợp với đối tượng và văn cảnh tả
- Đối tượng được tả trong câu văn trên là ai ? (Cô giáo, bạn bè, người thân)
- Họ có mối quan hệ với em ra sao? (là thầy cô dạy mình, là bạn bè, là người
thân,...)
- Khi muốn nói về người tốt hoặc người thân, bạn bè, nói về tình cảm của bề
trên với bề dưới mà chúng ta dùng các từ gạch chân như văn cảnh trên đã thể
hiện được sự kính trọng hay tôn trọng chưa? (chưa được).
9
- Vậy ta phải thay thế chúng như thế nào ? (Tìm các từ có cùng nghĩa, trái
nghĩa,... để thay thế)
Giáo viên cho học sinh thi đua tìm từ thay thế và tự sửa lại cho phù hợp văn
cảnh.
Nếu học sinh yếu không tìm được thì giáo viên có thể cung cấp nhóm từ cho
học sinh lựa chọn như:
- Đen sì: đen nhẻm, da nâu, da bánh mật, da dám nắng,...
- Oang oang: vang vang, ông ổng, thánh thót, trầm ấm, trong trẻo,...
- Hồng hộc: hổn hển, phì phò,...
- Bác ái: nhân hậu, nhân ái, thương người,...
a.4. Loại bài tập về thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ:
Ngoài việc cung cấp, làm giàu thêm vốn từ cho các em thì giáo viên cũng cần
quan tâm đến việc dạy thành ngữ, quán ngữ và tục ngữ thông dụng nhằm giúp
cho cách diễn đạt của các em trong sáng, nhuần nhuyễn và sinh động, ngôn ngữ
phong phú mang đậm bản sắc dân tộc. Sau khi học sinh học xong bài 2 tiết 30
tuần 15 tôi cho thi đố vui trong mục hoạt động tập thể của tiết sinh hoạt lớp hoặc
những giờ luyện Tiếng Việt, tiết mở rộng vốn từ theo chủ đề nếu thấy thích hợp.
Sau đó tôi cho học sinh liên hệ sử dụng một số thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ
trong văn miêu tả, giúp các em nhận biết là sử dụng trong trường hợp nào để tả
người. Làm cho bài văn có ngôn từ đa dạng, xúc tích, phong phú hơn.
Dạy Tập làm văn qua đơn vị câu, dấu câu:
Một thực trạng khá phổ biến ở các bài văn của học sinh hiện nay là học sinh
thường viết những câu " què”, câu " cụt” và bài viết không có dấu ngắt câu. Có
khi trong cả bài viết các em chỉ ngắt câu để phân biệt ba phần: Mở bài, thân bài,
kết bài. Vì vậy, trước hết giờ học về câu cần rèn cho học sinh kĩ năng viết câu
đúng. Có thể thực hiện điều này qua việc cho các em làm các bài tập thực hành
về câu, sửa các viết sai câu và dùng sai dấu trong tiết Trả bài Tập làm văn. Một
số bài học sinh viết như sau:
Bài 1: "Mẹ em đẹp lắm mẹ có dáng người nhỏ nhắn nước da trắng hồng đôi bàn
tay dịu dàng của mẹ làm không biết bao nhiêu là việc cho em và gia đình mẹ đẹp
người và cũng đẹp cả nết...”
Bài này học sinh chỉ sai là không chấm câu còn ý và nội dung thì đảm bảo.
Vậy tôi yêu cầu học sinh đọc và xác định:
11
Đoạn văn trên tác giả tả đến đặc điểm nào của mẹ ?
Mỗi đặc điểm đó có tương tương với một ý không ?
Mỗi ý diễn đạt trọn vẹn có tương đương với một câu không?
Hãy ngắt đoạn văn trên thành các câu tương đương với mỗi ý vừa xác định
nội dung và tìm ý, sắp xếp các ý rồi tìm cách diễn đạt sao cho phù hợp với nội
dung đó.
b. Dạy Tập làm văn qua phân môn Kể chuyện và Tập đọc.
Qua việc dạy các bài kể chuyện, Tập đọc, giáo viên cung cấp cho học sinh
nhiều vốn sống một cách gián tiếp, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho các em.
Chính những tình cảm cao đẹp đó kết hợp với vốn sống trực tiếp giúp các em có
thêm hểu biết và cảm xúc để làm các bài văn miêu tả đặc biệt là tả người.
Ví dụ: Khi dạy bài kể chuyện ” Pa-xtơ và em bé”
Sau khi hướng dẫn các em kể tìm hiểu về nhân vật Pa-xtơ như sau:
Để tiêm vác xin cứu em bé, Pa-xtơ đã phải trăn trở như thế nào?
(Ông phải day dứt nhiều đêm).
Hành động và việc làm của ông đã cho ta biết ông là người như thế nào?
(Là thầy thuốc có trách nhiệm, nhiệt tình cứu chữa bệnh nhân, giàu lòng nhân
hậu).
Em có tình cảm gì đối với nhân vật Pa-xtơ ?
(Yêu quý, kính trọng, khâm phục tài năng của ông).
GV: Vậy khi miêu tả tính cách của một con người ta không nhất thiết phải nói
trực tiếp là người đó tốt hay xấu mà có thể đi sâu vào miêu tả cử chỉ hành động
của nhân vật kết hợp với nêu cảm xúc của người viết, từ đó giúp cho người đọc
hiểu và hình dung ra được nhân vật đó như thế nào, tính cách của nhân vật đó ra
sao.
- Khi dạy các bài Tập đọc, ngoài việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung và
hình thức nghệ thuật của bài, giáo viên còn có nhiệm vụ giúp học sinh tích lũy
được kinh nghiệm để làm văn.
13
Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc:" Một chuyên gia máy xúc” có những chi tiết
sau:
"Tôi nhìn thấy một người ngoại quốc cao lớn, mái tóc vàng óng ửng lên như
Như chúng ta đều biết trên thị trường có nhiều loại sách tham khảo cả chính
thống và không chính thống. Do vậy việc lựa chọn tài liệu tham khảo là rất khó
khăn đối với trình độ của học sinh. Vì vậy tôi đã trực tiếp tìm đọc và lựa chọn
cho các em những quyển sách tham khảo sau:
- Tuyển tập 150 bài văn hay cấp Tiểu học.
Tác giả: Thái Quang Vinh, Trần Đức Niềm. Nhà Xuất bản Đại học sư phạm.
- Những bài văn đạt giải cấp quốc gia.
Tác giả: Tạ Thanh Sơn, Nguyễn Trung Kiên. Nhà Xuất bản Đại học sư phạm.
- 40 Bộ đề ôn thi Tiếng Việt cuối cấp Tiểu học.
Tác giả: Lê Phương Nga, Lê Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí.Nhà Xuất bản Giáo dục
Việt Nam.
b. Chọn và phân tích bài:
Sau khi học sinh có trong tay một trong những quyển sách tham khảo trên,
trước khi học bài trên lớp tôi hướng dẫn các em tiếp cận với bài văn tham khảo
như sau:
Ví dụ: Tiết 21/ tuần 12: Tả người thân trong gia đình em, tôi yêu cầu các em
làm như sau:
- Tìm trong sách tham khảo các bài văn có liên quan tới nội dung của bài ngày
mai (tả người).
- Đọc nhiều lần các bài văn đó.
- Lựa chọn bài tiêu biểu nhất (Bố cục, nội dung, hình ảnh, nghệ thuật,...)
- Cuối giờ học hôm sau báo cáo kết quả lựa chọn của mình trước lớp.
Nhờ vào yêu cầu đó hầu hết các em đều chọn được một bài mà mình ưng ý và
báo cáo được kết quả như sau:
- Em chọn bài văn tả bà (Tuyển tập 150 bài văn hay cấp Tiểu học). Vì bài đó có
đoạn tả hình dáng bà rất hay.
- Em chọn bài văn tả em bé (40 Bộ đề ôn thi Tiếng Việt cuối cấp Tiểu học). Vì
đoạn tả hình dáng của em bé rất ngộ nghĩnh, đáng yêu.
- Em chọn bài văn tả ông (Những bài văn đạt giải cấp quốc gia). Vì nó có bố cục
rõ, dễ hiểu và có câu văn hay.
khác nhưng phải cùng một thể loại.
- Tạo ra sản phẩm thực sự là của mình chứ không phải ghi nhớ, học thuộc để sao
chép lại.
16
Vậy qua việc sử dụng văn tham khảo giúp học sinh học tập cách dùng từ, đặt
câu, sử dụng các biện pháp nghệ thuật, cách bố cục, cấu trúc của một bài văn để
vận dụng vào bài làm của mình khi viết văn tả người.
Biện pháp 3: Rèn kĩ năng lập dàn bài chi tiết.
Việc lập dàn bài là bước định hướng cụ thể cho bài làm văn của các em. Mỗi
dàn bài Tập làm văn được coi như một bản kế hoạch, chỉ cần nhìn vào đó, ta có
thể hình dung được nội dung bài văn sẽ được triển khai như thế nào. Nếu như
làm được việc này, học sinh sẽ có điều kiện để chuẩn bị kĩ hơn khi viết thành
văn trong tiết tập làm văn viết. Do đó, công việc của người giáo viên là phải
chuẩn bị cho mình dàn bài để có thể cung cấp một số kiến thức có liên quan đến
đề văn cho các em.
Sau đây tôi xin đưa ra cách hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết cho bài văn
tả người theo các bước sau:
Ví dụ: Hãy lập dàn ý cho bài văn tả người thân trong gia đình em ? (Tiết 21 tuần
12).
a. Bước phân tích đề:
Phân tích đề rất quan trọng. Nếu bỏ qua thì học sinh có khả năng lớn là sẽ làm
lạc đề hoặc bài viết sẽ không trọng tâm. Vậy tôi đã dùng câu hỏi gợi mở để giúp
học sinh phân tích đề như sau:
Bài văn thuộc thể loại gì? (Văn miêu tả).
Đối tượng miêu tả là ai? (Tả người thân).
Nội dung miêu tả là gì? (Tả hình dáng tính tình).
Lời văn cần bộc lộ thái độ, tình cảm như thế nào? (Kính trọng, yêu thương).
Kĩ năng này có tác dụng giúp học sinh xác định đúng thể loại văn và yêu cầu
Cảm nghĩ của em thế nào? (yêu mến, kính trọng, mong ông (bà) sống lâu,...)
Vậy qua việc lập dàn bài này, giáo viên đã giúp học sinh xác định đúng yêu
cầu của đề, nắm vững thể loại, xây dựng được tiến trình tả, hình thành được cấu
trúc bài văn Từ đó khi viết văn các em sẽ tránh được các lỗi thường mắc như ý
lộn xộn, không rõ chủ đề, bố cục,...
Biện pháp 4: Rèn luyện thao tác kĩ năng làm một bài văn cho học sinh.
a. Bài tập viết đoạn:
Có thể nói nhóm bài viết đoạn là nhóm bài tập khó nhất đòi hỏi học sinh phải
vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết, cảm xúc về cuộc sống, về các đối
18
tượng được tả và các kĩ năng ngôn ngữ đã được hình thành trước đó để tạo lập
được đoạn. Do đó, giáo viên phải luyện cho học sinh diễn đạt đúng những điều
muốn nói, muốn viết. Tiếp đó, một ý có thể diễn tả thành những lời khác nhau.
Học sinh phải biết chọn lựa cách diễn đạt nào có hiệu quả nhất. Các đoạn văn
được luyện viết thường là đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn kết bài.
* Đối với đoạn mở bài:
Mở bài giống như một lời giới thiệu mời chào. Nếu lời chào mời mà hay và ấn
tượng sẽ có tác dụng rất lớn là gây chí tò mò, thúc giục người đọc đọc tiếp phần
sau:
- Phân biệt lại 2 cách mở bài cho học sinh, nêu các ví dụ cụ thể.
+ Cách vào bài trực tiếp : Bà ngoại là người em yêu quý nhất.
+ Cách vào bài gián tiếp : Tuổi thơ của em được nhiều người quan tâm, chăm
sóc. Mẹ dạy em tập nói, tập đi, cô giáo dạy em học hành tiến bộ... tất cả em đều
biết ơn và yêu quý. Nhưng bà ngoại là người em biết ơn và yêu quý suốt đời.
- Học sinh đọc ví dụ nhận biết hướng viết, so sánh đối chiếu để nhận biết được
cách nào vào bài hay nhất.
- Yêu cầu học sinh áp dụng viết, sau đó đọc trước lớp để giáo viên cùng lớp
nhận xét (biểu dương những em có bài hay để lớp học tập).
Những bài tập viết bài văn thường được thực hiện trong cả một tiết học. Nó là
công đoạn cuối cùng sâu chuỗi lại các bước đã thực hiện ở trên. Trước khi cho
học sinh viết bài hoàn chỉnh bao giờ tôi cũng gợi ý cho học sinh nhớ lại các yêu
cầu cơ bản của một bài văn như:
Bài văn định tả ai?
Bài văn gồm mấy phần?
Phần thân bài định tả mấy ý? Nội dung chính của các ý là gì?
Qua cách làm trên giáo viên đã giúp học sinh biết cách viết một bài văn hoàn
chỉnh cân đối về cả nội dung, hình thức. Nội dung của bài văn không bị thừa
hoặc thiếu, không lặp lại hoặc rườm rà.Sau khi hướng dẫn học sinh thực hiện các
bước như trên số học sinh làm văn có hình ảnh sinh động tăng lên nhiều. Đây là
một số bài văn mà các em đã thực hiện trong tiết học được giáo viên đánh giá
cao.
20
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nhiệm:
So sánh với kết quả khảo sát lần đầu (tuần 16 năm học 2016 - 2017) và sau
khi vận dụng các giải pháp trên kết quả lớp tôi thu được kết quả như sau:
Số HS
32 em
Hoàn thành tốt
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
Số lượng
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
3.1. Kết luận:
Có thể nói, bước đầu thành công trong việc dạy Tập làm văn tả người cho học
sinh lớp 5B là nguồn động viên rất lớn cho tôi. Tôi sẽ đem kinh nghiệm này tiếp
tục áp dụng để giảng dạy phân môn Tập làm văn ở các năm sau, với mong
muốn lớn nhất của tôi là giúp học sinh nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cấp
Tiểu học.
Muốn chất lượng của học sinh ngày một nâng cao thì giáo viên cần tích cực
tìm tòi học tập, tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao kiến thức chuyên môn. Tích
cực mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học, dạy đúng phương pháp của bộ
môn, coi trọng người học, coi người học là chủ thể hoạt động, có như vậy tiết
học nhẹ nhàng mà đạt hiệu quả cao hơn.
3.2. Kiến nghị:
- Đối với BGH nhà trường: Cần cho áp dụng đối với các lớp khối 4,5 trong
trường, nhằm rút kinh nghiệm chung đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả
giảng dạy phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn tả người nói riêng.
- Đối với đồng nghiệp dạy lớp 4, 5: Thầy, cô giáo cần phải đầu tư hơn nữa về
phương pháp và biện pháp cho mỗi giờ học phân môn Tập làm văn (từng thể
loại, từng kiểu bài cụ thể) để từng bước giúp các em nắm vững kiến thức, chủ
động nói lên những suy nghĩ hồn nhiên của mình; nói đúng, nói hay, làm giàu
thêm vốn từ ngữ và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị
Thanh Hoá, ngày 25 tháng 3 năm 2018
Tôi cam đoan đây là SKKN của tôi viết
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết: