1
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
1 MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
2.2 . Thực trạng của vấn đề.
2.2.1. Về phía giáo viên
2.2.2. Về phía học sinh
2.3.3. Một số hạn chế của sách giáo khoa và sách giáo viên
2.3. Các biện pháp thực hiện
2.3.1Giúp học sinh phát triển lời nói
2.3.2 Rèn kĩ năng nói cho học sinh
2.3.3 Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào dạy
luyện nói trong môn Tiếng Việt.
2.3.4 Một số chú ý khi tiến hành dạy luyện nói.
2.4. Hiệu quả
3 . KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3. 2. Kiến nghị
02
Trong đó lớp Một có ý nghĩa vô cùng to lớn, đặt những viên gạch nền móng
cho hệ thống giáo dục phổ thông và quan trọng hơn là sự hình thành và phát
triển nhân cách con người sau này.
Trong những năm học vừa qua, ngành giáo dục đã phát động phong
trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Muốn trở
thành một môi trường giáo dục thật sự thân thiện, tích cực và có chất lượng,
quan trọng nhất người giáo viên phải dạy Tiếng Việt cho học sinh chính là
dạy học tiếng mẹ đẻ. Chương trình Tiếng Việt mới nhấn mạnh chủ trương
“Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng nghe – nói - đọc - viết để học
tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi”. – Quan điểm giao
tiếp nói cụ thể hơn là quan điểm phát triển lời nói định ra nguyên tắc, phương
hướng xây dựng chương trình môn Tiếng Việt. Mỗi phân môn, mỗi tiết học,
mỗi nội dung dạy học đều hướng tới mục đích phát triển lời nói. Mục tiêu chủ
yếu của môn Tiếng Việt lớp 1 hiện nay là chú trọng dạy chữ trên cơ sở dạy âm
và dạy vần là để dạy chữ.
Vấn đề phát triển lời nói cho học sinh đã được chủ tịch Hồ Chí Minh
dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân
tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng
rộng khắp”. Và cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng nói: “Trường
học có trách nhiệm lớn lao trong việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
Phải làm cho thế hệ trẻ nói và viết tốt hơn chúng ta”. Muốn thực hiện được
lời dạy đó, trường tiểu học cần phải có cách thức tổ chức và phương pháp
dạy học hợp lý, tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy - học môn Tiếng
Việt, giúp học sinh sử dụng thành thạo Tiếng Việt.
Cho đến nay, việc triển khai chương trình Tiếng Việt 1 mới trên toàn
quốc đã lâu nhưng phần lớn giáo viên vẫn tỏ ra lúng túng, e ngại khi tổ chức
dạy luyện nói cho học sinh, còn học sinh rất khó khăn khi học phần này.
Nhìn chung, việc dạy học nội dung này vẫn chưa đạt hiệu quả cao.
Đây cũng là lý do tôi viết sáng kiến kinh nghiệm với chủ đề: “Một số biện
pháp hướng dẫn nhằm giúp học sinh phát huy tính chủ động, tích cực,
2 . NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Mục tiêu của môn Tiếng Việt mới đã thể hiện được quan điểm mới
trong dạy học đó là quan điểm giao tiếp. Hoạt động giao tiếp bao gồm các
hành vi nhận thông tin và phát thông tin. Trong ngôn ngữ mỗi hành vi đều có
thể thực hiện bằng hai hình thức là khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc,
viết). Dạy học theo quan điểm giao tiếp là xu thế phổ biến trong các tài liệu
dạy tiếng mẹ đẻ cũng như dạy ngoại ngữ ở các nước tiên tiến hiện nay. Quan
điểm này được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp
dạy học.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp nhưng tựu chung
thì về vấn đề cốt lõi của các định nghĩa là: giao tiếp là hoạt động tiếp xúc,
trao đổi giữa con người với con người trong xã hội, nhằm truyền đạt cho
nhau những nhận thức, những tư duy hoặc nhằm bày tỏ, chia sẻ những tình
cảm, thái độ, đối với nhau cũng như đối với các sự vật, hiện tượng trong
thực tế khách quan. Như vậy, điều kiện trước tiên đảm bảo cho một cuộc
giao tiếp diễn ra bình thường là phải có ít nhất hai đối tượng tham gia:1 đóng
vai người nói và 1 đóng vai người nghe. Hai vai này sẽ luân phiên thay đổi
nhau trong suốt quá trình giao tiếp, họ cũng phải sử dụng một thứ ngôn ngữ
nhất định, cùng chịu sự chi phối của hoàn cảnh và nội dung giao tiếp để
hướng tới mục đích đã đề ra.
Trong quá trình dạy học luyện nói, lý thuyết giao tiếp giúp giáo viên
có sự định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhằm đạt được mục
tiêu dạy học đề ra. Đó là nhằm phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh.
Vì vậy, đòi hỏi giáo viên cần biết chuyển nội dung dạy học thành những tình
huống giao tiếp gần gũi, giúp học sinh vận dụng kinh nghiệm của mình thực
hiện hoạt động giao tiếp. Từ đó học sinh sẽ có kỹ năng giao tiếp và tất nhiên
sẽ phát triển được lời nói cho các em.
mạch cả câu.
- Có thái độ lịch sự, mạnh dạn,
tự nhiên khi nói.
- Biết nói lời chào hỏi, chia tay
trong gia đình, trường học.
- Biết trả lời đúng vào nội dung
câu hỏi. Nói thành câu.
- Kể được một đoạn hoặc cả
mẩu chuyện có nội dung đơn
giản được nghe thầy, cô kẻ trên
lớp (kết hợp với nhìn tranh
minh hoạ, đọc lời gợi ý dưới
tranh)
- Biết giới thiệu một vài câu về
mình, về bản thân hoặc một vài
đồ vật quen thuộc.
Ghi chú
- Nói đúng lượt
lời, nhìn vào
người nghe khi
nói.
b/ Hệ thống bài tập luyện nói trong SGK lớp 1:
Sách Tiếng Việt có hai phần:
Phần Học vần có 103 bài được chia làm ba dạng bài cơ bản:
- Làm quen với âm và chữ cái: từ bài 1 đến bài 6
- Dạy – học âm vần mới: từ bài 7 đến bài 103 (82 bài).
- Ôn tập âm vần mới: Cứ 6, 7 bài học âm vần mới lại có một bài ôn.
Nội dung luyện nói trong từng bài được sách giáo khoa xác định rất rõ
M: Tranh 1: Ai nấu cơm cho bạn ăn?
-Mẹ tôi nấu cơm cho tôi ăn
Tranh 2: Ai mua quần áo cho bạn?
Tranh 3: Ai chăm sóc bạn khi ốm?
Tranh 4: Ai vui khi bạn được cô khen?
(Tiếng Việt 1, tập hai – trang 56)
Dạng 2: Nói về một sự vật, sự việc…có nội dung liên quan đến bài tập
đọc. Dạng này có 11 bài. Ví dụ: Ở nhà em làm gì giúp bố mẹ (Tiếng Việt
1, tập hai – trang 59)
Dạng 3: Kể về một người, một việc,…có liên quan đến nội dung bài tập.
Dạng này có 5 bài. VD: Kể về người bạn tốt của em (Tiếng Việt 1, tập hai –
trang 107)
+ Kiểu 2: Bài tập hỏi - đáp
Dạng 1: Hỏi – đáp về một sự việc, một người, một sự vật, hiện tượng….có
liên quan đến bài tập đọc.
Dạng này có 10 bài: Ví dụ: Hỏi nhau về những việc làm buổi sáng?
M: Sáng sớm, bạn làm việc gì?
-Tôi tập thể dục, sau đó đánh răng, rửa mặt….
(Tiếng Việt 1 tập hai - trang 68)
Dạng 2: Hỏi - đáp theo nội dung bài bài tập đọc. Dạng này có 2 bài. Ví dụ:
Hỏi - đáp theo bài thơ:
M: Con gì hay nói ầm ĩ?
( Tiếng Việt 1 tập hai - trang 113)
Loại III: Luyện nói theo nghi thức lời nói:
Nói lời chào của nhân vật theo tình huống trong bài học. VD: Nói
lời chào của Minh khi gặp bác đưa thư, khi mời bác uống nước. (Tiếng
Việt 1 tập 2- trang 137).
Là một giáo viên đã nhiều năm liền dạy lớp 1 nên tôi biết luyện nói là
một nội dung cần thiết, có vai trò quan trọng trong việc góp phần phát triển
ngôn ngữ cho học sinh, là tiền đề cho môn Tập làm văn sau này nhưng
- Dạy phần luyện nói chỉ đơn giản là gọi học sinh trả lời 2, 3 câu hỏi;
chưa hướng dẫn học sinh biết liên kết các câu thành một đoạn đơn giản đúng
chủ đề.
- Có sửa sai nhưng chưa kiên trì, uốn nắn trong mọi tình huống, mọi hoạt
động của bài cũng như ở những giờ học khác.
- Chưa sáng tạo, linh hoạt, chưa biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học
trong quá trình lên lớp và điều chỉnh những nội dung cần thiết, phù hợp để
phần luyện nói đạt kết quả tốt.
- Đồ dùng dạy học dành cho phần luyện nói còn chưa phong phú, chưa
phù hợp, sơ sài chủ yếu dựa vào tranh trong sách giáo khoa.
2.2.2 Về phía học sinh:
- Chưa chú ý lắng nghe một cách tích cực khi giáo viên nêu yêu cầu đến
lúc trình bày thường câu trả lời không đúng mục đích hoặc chưa hết ý. Một
số trường hợp chỉ trả lời một tiếng là “có” hoặc “không” chứ chưa giải thích
được theo ý mình là vì sao có, vì sao không ?
- Còn ỷ lại hoặc nói theo các bạn chứ chưa chịu khó tự tìm ra câu trả lời
hay cho chính mình.
- Do tâm lí rụt rè e ngại: Học sinh lớp 1 khả năng giao tiếp, giao lưu trò
chuyện với mọi người xung quanh còn rất ít. Mặt khác do tâm lí sợ nói sai ý
của giáo viên, sợ bạn bè chê cười khi nói không đúng hoặc nói ngọng nên
học sinh cũng rất ít thể hiện mình, rất ít nói thậm chí đến giờ luyện nói có
học sinh còn không nói được câu nào.
- Học sinh lớp 1 đa số rất hiếu động, dễ nhớ nhưng lại mau quên nên
việc ghi nhớ lời thầy cô dạy là chưa vững chắc.
2.2 .3. Một số hạn chế của sách giáo khoa và sách giáo viên
a. Sách giáo khoa lớp 1:
- Có bài chủ đề luyện nói không liên quan đến chữ, vần của bài đó.
8
Ai vui khi bạn được điểm mười?
10
Bài Chuyện ở lớp – Sách Tiếng Việt 1 tập 2 trang 101 : Hãy kể với cha mẹ:
Hôm nay ở lớp em đã ngoan thế nào.
Bài Chuyện ở lớp – Sách Tiếng Việt 1 tập 2 trang 101
b. Sách giáo viên:
- Phần lớn các bài soạn trong sách giáo viên chỉ là gợi ý cách thức, các bước
đơn giản. Các biện pháp đưa ra để luyện nói cho học sinh chỉ là nêu tên mà
không chỉ ra cụ thể cách thức thực hiện. Ví dụ: Phần học vần, sách giáo viên
hướng dẫn dạy học luyện nói lặp đi lặp lại cách làm sau:
+ Bước 1: Học sinh đọc tên bài luyện nói.
+ Bước 2: Giáo viên có các câu hỏi gợi ý theo tranh cho thích hợp.
+ Bước 3: Học sinh trả lời.
Hoặc: Với bài luyện nói “Bạn đã làm gì để bảo vệ loài chim?” (Sách Tiếng
Việt 1 tập hai - trang 152), sách giáo viên chỉ hướng dẫn: Chia nhóm, các
nhóm kể cho nhau xem bạn đã làm gì để bảo vệ các loài chim. Cử người kể
trước lớp.
- Hệ thống câu hỏi ở một số bài còn hạn chế:
+ Câu hỏi không kích thích tính tư duy của học sinh. Ví dụ: Bài “Le le”- có
câu hỏi: Vịt, ngan được người nuôi ở ao, hồ. Còn loài vịt sống tự do không
có người chăn được gọi là gì?
+ Có câu hỏi quá dài, khiến người nghe khó theo dõi, trong khi đáp án trả lời
lại là “có” hoặc “không”: Ra giữa nắng bắt chuồn chuồn, châu chấu, cào
cào, tối về sụt sịt, mai không đi học được, có tốt không?
+ Có câu hỏi trong cùng một hệ thống trùng lặp nhau: Chủ đề “Phim hoạt
hình có câu hỏi 1: Em thấy cảnh gì trong tranh?, câu hỏi 2: Trong cảnh đó
sự chú ý lắng nghe của các bạn, trước ánh mắt trìu mến hoặc những lời động
viên khích lệ của cô giáo.
- Khi học sinh đang nói giáo viên không nên ngắt lời một cách tuỳ tiện
bởi sự gián đoạn trong lời nói thường làm các em lúng túng, giáo viên chỉ
nên sửa sai hoặc uốn nắn khi các em đã kết thúc phần nói của mình.
2.3.2. Rèn kĩ năng nói cho học sinh:
Để rèn kĩ năng nói và khả năng diễn đạt cho học sinh thì giáo viên cần
phải làm những việc sau:
* . Xác định và nắm rõ mục tiêu chính của chủ đề luyện nói
Chính chủ đề là điểm tựa, gợi ý cho phần luyện nói. Gợi ý sao cho tất
cả học sinh đều được nói, không đi quá xa với chủ đề. Chẳng hạn như chủ
đề. “Nói lời cảm ơn; Con ngoan trò giỏi; Giúp đỡ cha mẹ”…..nếu đi quá sâu
sẽ lẫn sang tiết Đạo đức. Để khắc phục điều này tôi chỉ định hướng các em
câu hỏi gợi ý xoay quanh vấn đề trọng tâm cần luyện nói.
Ví dụ:
Với chủ đề: Nói lời cảm ơn:
+ Em hãy kể cho cô và các bạn trong nhóm nghe về những lần mình đã cảm
ơn ai đó về điều gì?
Với chủ đề Giúp đỡ cha mẹ tôi hỏi:
+ Hai bạn nhỏ đã làm gì để giúp đỡ cha mẹ?
+ Em thường giúp đỡ cha mẹ vào những lúc nào?
+ Em đã giúp đỡ cha mẹ những việc gì? Hãy nói cho các bạn cùng nghe nhé!
Còn với chủ đề: Con ngoan, trò giỏi tôi có câu hỏi gợi ý:
12
+ Em đã làm được những việc gì để cố gắng là một người con ngoan trong
gia đình?
+ Em đã làm gì để cố gắng trở thành một trò giỏi ở trường học?
*. Nắm bắt thực tế về khả năng nói của từng em để đưa ra phương pháp,
mạnh dạn hơn bắt đầu từ những điều đơn giản nhất, dần dần tăng mức độ
khó lên theo thời gian.
*/. Phân các chủ đề thành nhiều nhóm để lựa chọn phương pháp và hình
thức khác thay đổi cho phù hợp với cá nhân, nhóm, đối thoại, độc thoại,
…
Với những chủ đề gần gũi với học sinh như: Chủ đề: bố mẹ, ba má;
Quà quê; Nhà trẻ; Bé và bạn bè; Người bạn tốt; Bữa cơm, Hãy kể với cha
mẹ hôm nay ở lớp con đã ngoan thế nào?;…Giáo viên gợi mở cho học sinh
nói qua vốn hiểu biết thực tế của các em, lựa chọn những hình thức học tập,
trò chơi v.v…
Chẳng hạn:
- Chủ đề nói về gia đình: “Bố mẹ - Ba má, Bà cháu”…có thể cho học sinh
sắm vai nhân vật thể hiện tình cảm của ông bà, bố mẹ đã yêu thương, quan
13
tâm, chăm sóc em hoặc những tình cảm, việc làm của em thể hiện sự hiếu
thảo của một người cháu, người con đối với ông bà, cha mẹ mình.
- Với chủ đề “Vó bè”: Cho học sinh quan sát thật kĩ bức tranh và giới thiệu
trực tiếp đó chính là vó bè. Phân biệt thêm hình ảnh chiếc vó và bè. Gợi ý để
các em nói được dụng cụ đó được đặt ở đâu? Dùng để làm gì?
Với một số chủ đề khó hơn, chưa thật phù hợp với thực tế địa
phương (Ví dụ bài 20, bài 22, bài 30, bài 34, bài 40, bài 54,…) Thì giáo viên
cần hướng dẫn học sinh nghe - nói một cách linh hoạt, khai thác những nội
dung gần gũi với học sinhvà ít nhiều liên quan đến chủ đề (không nhất thiết
phải có trong tranh minh hoạ ở sách giáo khoa) Ví dụ:
Bài 20: Luyện nói về âm thanh của một số sự vật (ù ù, vo vo, vù vù,
ro ro, tu tu) Trước hết cần khai thác vốn hiểu biết của các em về các sự vật
vẽ trong tranh (Em biết sự vật nàovẽ trong tranh? Khi chuyển động sự vật đó
phát ra âm thanh như thế nào?) Giáo viên cũng có thể mở rộng, liên hệ đến
*/. Chuẩn bị đồ dùng học tập đầy đủ và phong phú:
- Hình ảnh trong sách giáo khoa là chủ yếu
- Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để làm phương tiện
giảng dạy. Ví dụ khi dạy về chủ đề: Dế, cá cờ, bi ve, lá đa tôi có thể chuẩn bị
sẵn những vật thật đó để học sinh có thể quan sát trực tiếp tạo hứng thú cho
các em. Từ đó gợi ý các em có thể lấy những đồ dùng đó làm những trò chơi
dân gian mà trẻ em xưa vẫn chơi. Hoặc khi dạy chủ đề: Đèn dầu, đèn điện,
đèn huỳnh quang, chủ đề: Rổ rá, chủ đề: Chuối, bưởi, vú sữa… tôi cũng tiến
hành tương tự .
15
- Tận dụng những tranh ảnh, đồ dùng mà học sinh có thể cùng sưu tầm được.
Ví dụ: tranh ảnh về lễ hội khi dạy về chủ đề Lễ hội, các đoạn video clip về
gió, mây, mưa, bão, lũ……
- Khi phương tiện dạy học đầy đủ, phong phú, sát với thực tế sẽ tạo cho các
em hào hứng, chủ động và tích cực tham gia vào quá trình luyện nói.
*/. Lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp:
- Gợi ý bằng hệ thống câu hỏi qua phương pháp đàm thoại. Trong quá
trình đàm thoại giữa giáo viên và học sinh dựa trên lời nói của học sinh giáo
viên sẽ chỉnh sửa câu nói sao cho rõ, gọn, đủ ý diễn đạt theo nội dung của
chủ đề.
- Sử dụng tranh ảnh, đồ dùng trực quan: Học sinh quan sát và diễn đạt
những gì đã đạt được quan sát khi nhìn tranh. Mỗi tình huống trong tranh là
một tình huống thể hiện chủ đề của bài. Khi học sinh đã quen với việc luyện
nói, giáo viên sẽ nâng dần hình thức trong quá trình dạy luyện nói.
- Tổ chức các hoạt động trò chơi, tạo hứng thú, giúp các em mạnh
dạn, tự tin, tích cực tham gia trong quá trình luyện nói. Ví dụ như chủ đề:
Nặn đồ chơi; Áo choàng, áo len, áo sơ mi; Ghế đẩu, ghế xoay, ghế tựa;
Phim hoạt hình …. học sinh sẽ được tham gia chơi nặn hình bằng đất, tô
với cuộc sống thực tế bằng cách diễn xuất ngẫu hứng không cần luyện tập
kịch bản trước.
- Phương pháp đóng vai nhằm giúp học sinh thể hiện tình huống giao
tiếp bằng cách đóng vai nhân vật giao tiếp, trau dồi trí tưởng tượng, rèn kỹ
năng nói trong hội thoại, biết thể hiện ngữ điệu, cử chỉ, hành động khi vào
vai nhân vật. Phương pháp này thường dùng khi dạy các bài nói kiểu tình
huống giao tiếp, hoặc trò chuyện, hỏi - đáp về một đề tài.
Ví dụ: - Bài 31(Học vần): Bé tự giới thiệu
- Bài 60 (Học vần): Nói lời cảm ơn
- Bài: “Bác đưa thư - sách Tiếng Việt 1 tập hai trang 137”: Tập
nói lời
chào hỏi của Minh:
+ Khi gặp bác đưa thư
+ Khi mời bác uống nước.
- Nhìn chung, vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy luyện nói sẽ
tạo môi trường tự nhiên để rèn luyện kỹ năng nói, học sinh sẽ sáng tạo lời
thoại của mình cho đúng với nội dung bài nêu ra và học sinh nói một cách tự
nhiên.
* Một số chú ý khi sử dụng phương pháp đóng vai:
+ Nội dung thực hành đóng vai phải vừa tầm với tất cả học sinh, trong
đó tăng độ khó với học sinh khá giỏi, giảm độ khó với học sinh yếu để tạo điều
kiện cho các em được tham gia đóng vai theo tình huống giao tiếp.
+ Khi tổ chức đóng vai, cần kết hợp với phương pháp kể chuyện, thảo
luận … để tạo điều kiện cho nhiều học sinh được tham gia. Giáo viên cần lưu
ý học sinh chú ý theo dõi, có thái độ đúng đắn và vỗ tay tán thưởng sau khi
bạn thể hiện vai diễn.
+ Ngoài ra, giáo viên cần biến đổi tình huống giao tiếp đã cho để
tạo ra các bài tập tình huống giao tiếp mới phù hợp với từng đối tượng
học sinh và giúp học sinh tiến hành bài tập từ đó rèn luyện kỹ năng nói
cho các em một cách có hiệu quả.
sinh nhút nhát, ít phát biểu trong lớp sẽ có môi trường tham gia xây dựng
bài. Hơn thế nữa, hầu hết các hoạt động nhóm đều mang cơ chế tự sửa lỗi và
học sinh học lẫn nhau, theo đó các lỗi sai được giải đáp trong bầu không khí
thoải mái.
- Khi tổ chức học nhóm giáo viên cũng có cơ hội tận dụng những ý
kiến và kinh nghiệm của học sinh. Khi đó học sinh có lợi thế hơn khi làm
việc độc lập, các em dễ nghĩ ra cách làm bài tập. Đồng thời khi học nhóm,
mối quan hệ giữa các học sinh được cải thiện, tạo cho lớp học bầu không khí
tin cậy. Mọi người ai cũng thích hoạt động giao tiếp xã hội, vì thế việc chia
nhóm sẽ tạo một thái độ tích cực hơn với hoạt động giảng dạy.
- Có nhiều cách để chia nhóm: nhóm ngẫu nhiên, nhóm cùng trình độ,
nhóm cùng sở thích….. giáo viên nên chọn chia nhóm sao cho phù hợp để
phần luyện nói diễn ra một cách tự nhiên, sôi nổi và hào hứng đối với các
em.
* Một số chú ý khi tổ chức dạy học luyện nói theo phương pháp nhóm:
+ Các đề tài đưa ra thảo luận phải có tác dụng kích thích sự suy nghĩ,
gây sự tò mò, chú ý của học sinh. Vì nếu đề tài quá dễ thì học sinh chóng
chán, thảo luận không có hiệu quả, còn nếu quá khó học sinh không có ý
kiến thì cuộc thảo luận sẽ bế tắc.
+ Không quá lạm dụng hình thức thảo luận nhóm trong giờ dạy luyện
nói vì nếu kéo dài sẽ ít có tác dụng.
+ Trong lúc thảo luận, giáo viên cần cố gắng cho mọi học sinh đều
được bày tỏ quan điểm, ý kiến. Giáo viên nên quan sát để hỗ trợ khi học sinh
cần, mặt khác để có biện pháp khích lệ đối với những học sinh quá ít lời.
Lúc ấy giáo viên có thể nhẹ nhàng hỏi: “Nào bây giờ cô muốn nghe ý kiến
của các bạn chưa nói” hay: “Bạn nói rồi, bây giờ mời em cho ý kiến?”….
+ Sau khi thảo luận, các nhóm có thể giao lưu trình bày kết quả của
nhóm mình.Trưởng ban học tập sẽ lên điều khiển thảo luận của các nhóm.
Khi có ý kiến phản hồi từ các nhóm, trưởng ban học tập có thể tự giải quyết
hoặc nếu kiến thức quá khó thì trưởng ban học tập sẽ tập hợp ý kiến và nhờ
*.Vận dụng phương pháp thông qua trò chơi học tập trong dạy học nội
dung luyện nói ở lớp 1:
- Trò chơi là hoạt động của con người nhằm mục đích vui chơi, giải
trí, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng. Thông qua trò chơi, người
chơi còn có thể được rèn luyện thể lực, các giác quan, sự thông minh, nhanh
nhạy, sáng tạo, hoạt bát và đặc biệt là được giao lưu, học hỏi với bạn bè,
đồng đội. Đối với trẻ em thì trò chơi có vai trò rất quan trọng trong sinh
hoạt, vì vậy nếu biết kết hợp hợp lý giữa học tập và vui chơi thì sẽ tạo được
hiệu quả cao trong học tập, tránh được hiện tượng mệt mỏi, nhàm chán cho
học sinh.
* Một số chú ý khi sử dụng phương pháp trò chơi trong giờ luyện
nói lớp 1
- Nội dung của trò chơi phải gắn liền với nội dung tri thức, kỹ năng
cần rèn luyện cho học sinh trong giờ học đó.
Ví dụ: Bài luyện nói: “Nói về sen” (Tiếng Việt 1 tập hai - trang 92)
+ Giáo viên có thể đưa ra trò chơi “Thi nói về sen” giữa 2 đội chơi,
mỗi đội 5 em. Hai đội sẽ gắp thăm giành quyền nói trước, mỗi em nói một
câu về sen, hai đội luân phiên nhau nói, câu sau không được trùng câu trước.
Đội nào có câu nói lặp lại hoặc dừng trước sẽ thua cuộc.
- Mỗi trò chơi đều phải có luật chơi. Trò chơi học tập cần có luật chơi
đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện và thời gian chơi ngắn, phù hợp với trình độ
của học sinh. Luật cũng cần được phổ biến rõ ràng trước cuộc chơi.
- Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng trò chơi quá nhiều trong giờ
học, chỉ nên chơi vào ít phút cuối của giờ học, khi xuất hiện yêu cầu củng cố
kiến thức, kỹ năng, khi học sinh đã có dấu hiệu mệt mỏi. Lúc đó trò chơi sẽ
tạo sự hưng phấn để kết thúc tiết học và tạo thư giãn cho các em bước vào
tiết học tiếp theo.
19
sinh phát huy được tính tích cực, độc lập nhận thức, phát triển hứng thú học
tập và khát vọng tìm kiếm vấn đề để giải quyết.
- Ở giai đoạn đầu (phần học âm), phương pháp hỏi đáp được dùng
nhiều hơn vì lúc này học sinh chưa có nhiều kinh nghiệm trong kỹ năng nói.
Khi ấy các em rất cần sự gợi mở, dẫn dắt dần dần của giáo viên, hướng các
em vào việc trình bày một vấn đề nào đó.
+ Một số điều cần chú ý khi sử dụng phương pháp vấn đáp trong giờ dạy
luyện nói ở lớp 1:
+ Giáo viên cần xác định rõ mục đích, yêu cầu hỏi đáp để đưa ra hệ
thống câu hỏi chính và những câu hỏi phụ để gợi mở.
+ Các câu hỏi cần có mối liên hệ với nhau để trở thành đoạn hội thoại
giữa giáo viên và học sinh.
+ Câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, sát trình độ của học sinh.
+ Câu hỏi phải có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập tư duy,
phát triển hứng thú nhận thức của học sinh.
20
+ Giáo viên cần có thái độ bình tĩnh khi học sinh trả lời chưa đúng
hoặc thiếu chính xác, tránh thái độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang ý kiến của
học sinh khi không thật cần thiết.
+ Không chỉ chú ý đến kết quả câu trả lời của học sinh mà phải chú ý
đến cả cách diễn đạt câu trả lời của các em. Từ đó cần sửa lỗi diễn đạt cho
học sinh sao cho chính xác, rõ ràng, hợp logic. Giáo viên cần biết cách động
viên, khuyến khích học sinh trả lời, tập thành thói quen trả lời một cách đầy
đủ, đúng ý, sáng tạo, tránh trả lời rập khuôn, máy móc, không đủ ý, đủ câu.
+ Giáo viên cần tổng kết phần hỏi đáp bằng cách yêu cầu học sinh độc
thoại, nói một đoạn ngắn về chủ đề đó (thường là học sinh giỏi) để rèn kỹ
năng độc thoại cho các em.
hỏi học sinh tham gia giải quyết các vấn đề do một hoặc một số tình huống
đặt ra. Nhờ đó, học sinh vừa nắm được tri thức, vừa phát triển tư duy sáng
tạo và chủ động chiếm lĩnh tri thức mới.
Một số chú ý khi sử dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải
quyết vấn đề:
21
- Tình huống có vấn đề mà giáo viên nêu ra phải phù hợp nội dung
bài luyện nói.
- Yêu cầu học sinh dựa vào kinh nghiệm sống của mình để tìm thấy
tình huống có liên quan đến nội dung bài học. Từ đó học sinh thấy được mối
liên quan giữa bài học với thực tế cuộc sống và kích thích sự suy nghĩ của
các em.
- Sau khi nêu vấn đề, cần gợi ý để học sinh nhớ lại kiến thức đã học có
liên quan đến vấn đề, thấy được trình tự giải quyết vấn đề đó.
Ví dụ: Bài luyện nói “Nói về các con vật em yêu thích” (Tiếng Việt 1
tập hai - trang 95) giáo viên có thể nêu ra tình huống sau: Khi nói về các
con vật, có bạn hỏi em: “Bạn yêu quý con vật nào nhất? Bạn có thể kể cho tớ
nghe về nó được không?” Em sẽ nói về con vật đó với bạn thế nào để bạn
cũng thấy mến nó?
- Học sinh sẽ phát hiện ra vấn đề cần giải quyết là: Nói với bạn về con
vật mình yêu quý để bạn cũng mến nó.
- Giáo viên cần gợi ý để học sinh tìm cách giải quyết, hướng các em
về giới thiệu con vật mình quý mến, giới thiệu những nét đáng yêu của con
vật đó.
(Ví dụ: Tớ có một con chó rất xinh, nó có bộ lông vằn đen nên tớ gọi
nó là Vện. Nó rất khôn, tớ đi học về là nó chạy tới, ngoáy tít cái đuôi. Tớ
còn dạy nó chơi bóng với tớ, mỗi khi quả bóng lăn ra xa nó lại chạy đến tha
về cho tớ…..)
- Giáo viên phải kích thích nhu cầu nói của học sinh bằng cách sử
dụng trực quan, tạo tình huống giao tiếp phù hợp, động viên học sinh tham
gia tích cực khi luyện nói.
- Giáo viên phải tạo hoàn cảnh giao tiếp tốt. Đó là các điều kiện trong
lớp học ở thời điểm luyện nói. Giáo viên cần giáo dục học sinh trong lớp
biết cách lắng nghe và có thái độ đúng khi nghe bạn nói. Giáo viên phải là
người động viên, khích lệ kịp thời để học sinh phấn khởi trong khi nói.
- Giáo viên cần giúp học sinh thực hiện được việc giữ bình tĩnh, tự tin
và chú ý đến thái độ của người nghe trong khi mình nói.
- Giáo viên cần giúp học sinh biết lựa chọn và sử dụng đúng các nghi
thức lời nói cũng như các từ ngữ, các kiểu câu khi nói.
- Giáo viên cần giúp học sinh biết sử dụng ngữ điệu phù hợp khi nói,
tránh lối nói như đọc thuộc lòng hoặc ngữ điệu thái quá.
- Khi học sinh đang nói, giáo viên không nên ngắt lời các em một
cách tuỳ tiện. Nếu cần uốn nắn giáo viên cũng cần tế nhị, nhẹ nhàng, nên để
học sinh dứt lời thì mới sửa lỗi. Giáo viên không nên làm đứt mạch suy nghĩ
hoặc tạo cho học sinh tâm lý e ngại vì sợ nói sai.
2.4 . HIỆU QUẢ:
So với cách dạy luyện nói trước đây giáo viên chỉ đặt những câu hỏi vấn đáp đơn
giản học sinh trả lời một cách thụ động, chỉ có một số học sinh khá giỏi thường xuyên
phát biểu còn lại học sinh lớp chỉ ngồi nghe, thậm chí có những học sinh nhút nhát còn
không dám nói thế nhưng từ khi tôi vận dụng những biện pháp trên vào dạy luyện nói cho
học sinh lớp 1 tôi thấy đạt học sinh được những kết quả như sau:
Đầu năm
- Diễn đạt lúng túng, chưa rõ ý, chưa
thành câu.
- Lời nói chưa tự nhiên, đôi khi còn
lạc chủ đề luyện nói.
- Học sinh còn nhút nhát, nói nhỏ,
3 . KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ
23
3.1 KẾT LUẬN
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng vào việc dạy luyện
nói cho học sinh lớp 1. Mặc dù để đánh giá kết quả luyện nói của học sinh
thì không thể thống kê bằng những con số cụ thể được nhưng tôi nhận thấy
nếu giáo viên chú ý, quan tâm đến nội dung luyện nói trong mỗi giờ học của
môn Tiếng Việt, chọn lựa và đưa ra những phương pháp dạy học hợp lý thì
chất lượng nói (giao tiếp) của học sinh có khác biệt rõ rệt. Đó là:
- Bản thân giáo viên không còn cảm thấy “ngại” khi dạy nội dung này
trong các giờ học.
- Học sinh cũng không còn cảm thấy lúng túng mỗi khi được giáo
viên yêu cầu nói về một vấn đề gì nữa mà ngược lại các em rất hào hứng,
mong chờ được nói.
- Học sinh được tham gia giao tiếp trong mỗi tiết học nhiều hơn. Đặc
biệt với nhiều em học sinh đầu năm rất nhút nhát, ít hoạt động trong các giờ
học thì cuối học kỳ 1 đã tiến bộ hẳn. Các em đã mạnh dạn hơn trong giờ học,
dám giơ tay phát biểu xây dựng bài, đóng góp ý kiến mỗi khi thảo luận
nhóm trong các tiết học.
- Kỹ năng nói, trình bày vấn đề của học sinh tốt hơn. Các em biết cách
trả lời câu hỏi đủ ý, đủ câu, biết cách nhận xét vấn đề bạn trình bày…
- Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, không có một phương pháp nào tối
ưu, mỗi phương pháp đều có những mặt mạnh và những hạn chế của nó. Khi
tiến hành dạy học giáo viên cần nắm vững các phương pháp dạy học, lựa chọn
và kết hợp các phương pháp sao cho phù hợp với nội dung và mục đích bài
học, phù hợp với tâm sinh lý học sinh lớp 1 để có thể đạt kết quả cao trong dạy
học luyện nói. Giáo viên cần khéo léo, mềm dẻo và linh hoạt khi vận dụng các
phương pháp dạy học đó.
người khác.
Người viết
Trịnh Hồng Nhung
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
25