Một vài biện pháp nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 3a trường tiểu học thọ thanh, huyện thường xuân - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THƯỜNG XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT VÀI BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỌC CHO
HỌC SINH LỚP 3A, TRƯỜNG TIỂU HỌC
THỌ THANH, HUYỆN THƯỜNG XUÂN

Người thực hiện: Lê Thị Hiền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Thọ Thanh
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

THANH HÓA, NĂM 2018


MỤC LỤC
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

14
14
15


1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Tập đọc là một phân môn thực hành, là một trong những phân môn quan
trọng góp phần hình thành kỹ năng đọc cho học sinh. Đây là một trong bốn kỹ
năng cơ bản mà học sinh Tiểu học cần đạt tới. Đó là "nghe, nói, đọc, viết". Đây
là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình vì nó đảm nhiệm
việc hình thành và phát triển cho học sinh kỹ năng đọc, một kỹ năng quan trọng
hàng đầu của học sinh của bậc học đầu tiên trong trường phổ thông. Nếu không
biết đọc con người sẽ không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể
sống một cuộc sống bình thường có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong
xã hội hiện nay. Biết đọc con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ
đây họ biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên xã hội. Đọc là phương tiện văn hoá cơ bản giúp con người giao tiếp với thế giới
bên trong của người khác qua các tác phẩm văn chương. Con người không chỉ
được thức tỉnh về nhận thức mà con rung động tình cảm, nảy nở ước mơ tốt đẹp,
khơi dậy sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. Đặc biệt trong
thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử
dụng các nguồn thông tin.
Tập đọc có một vị trí vô cùng quan trọng, khi học sinh đọc tốt, viết tốt các
em mới có thể tiếp thu được môn học khác một cách chắc chắn. Từ đó học sinh
mới hoàn thiện được năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ của chính bản thân mình.
để học sinh học tốt được phân môn Tập đọc thì nhiệm vụ quan trọng nhất là rèn
đọc cho học sinh. Học sinh đọc tốt sẽ là phương tiện để học sinh chiếm lĩnh kiến
thức. Học sinh đọc tốt không những giúp các em giao tiếp tốt mà còn giúp các
em học tốt tất cả các môn học. Học môn nào, học bài nào cũng phải sử dụng đến
hoạt động đọc. Rèn học sinh đọc tốt cũng chính là giúp các em hình thành và

của việc rèn đọc. Từ đó giáo viên biết lựa chọn tìm ra những biện pháp tốt nhất,
những phương pháp phù hợp với đặc trưng của phân môn hướng dẫn học sinh
đọc tốt hơn để nâng cao hiệu quả giờ Tập đọc.
Giúp các em thích thú học tập, tạo đà để học tốt môn Tiếng Việt và các môn
học khác cũng như ở các cấp học trên và ứng dụng trong cuộc sống.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung chương trình phân môn Tập đọc lớp 3.
- Phương pháp dạy Tập đọc lớp 3.
- Hình thức tổ chức dạy học.
- Việc dạy đọc cho học sinh lớp 3 ở Trường Tiểu học Thọ Thanh.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Dự giờ thăm lớp.
- Khảo sát tình hình thực tế.
- So sánh đối chiếu.
- Phương pháp luyện theo mẫu.
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ.
- Phương pháp giao tiếp.
- Phương pháp thực hành.
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1. Cơ chế của đọc
Để nắm đươc cơ chế của đọc và xác định được nhiệm vụ của dạy đọc cần
làm rõ "Đọc là gì ?" có nhiều định nghĩa về đọc và mỗi định nghĩa thường nhấn
mạnh những khía cạnh khác nhau của đọc. "Đọc là một dạng ngôn ngữ, là quá
trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng
với hình thức đọc thành tiếng) là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết
thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh".
Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau,
là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện. Thứ nhất, đó là quá trình vận
2

năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng bộ phận
cũng là bốn yêu cầu của chất lượng của đọc, đọc đúng đọc nhanh (đọc lưu loát,
đọc trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc
hay còn gọi là đọc hiểu và đọc hay mà ở mức độ cao hơn là đọc diễn cảm). bốn
kỹ năng của đọc được hình thành trong hai hình thức đọc là đọc thành tiếng và
đọc thầm. hai hình thức này được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau, sự
hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kỹ
năng khác.
Dạy đọc còn giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói
quen làm việc với sách cho học sinh - thông qua việc dạy đọc và làm cho học
sinh thích đọc. Và thấy được rằng khả năng đọc là có ích lợi cho các em trong cả
cuộc đời, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những con đường đặc biệt
để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ và phát triển.
3


Đọc một cách có ý thức tác động tới ngôn ngữ và tư duy của người đọc.
Đọc sẽ giúp các em hiểu biết hơn bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện, cái
đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ lô gich cũng như biết tư duy có hình ảnh. Đọc
không chỉ giáo dục tư tưởng đạo đức mà còn giáo dục tính cách thị hiếu thẩm
mỹ cho học sinh.
Như vậy môn tập đọc có một ý nghĩa to lớn vì nó có cả các nhiệm vụ giáo
dục, giáo dưỡng và phát triển. Nội dung môn tập đọc của Tiếng việt lớp 3 được
sắp xếp theo các chủ điểm thứ tự từ gần đến xa, từ dễ đến khó so với lớp 2 chủ
điểm ở lớp 3 được mở rộng và nâng cao hơn
Dạy tốt phân môn Tập đọc là tạo cho học sinh có một nền tảng vững chắc
để học tốt môn Tiếng Việt và tất cả các phân môn khác. Có đọc đúng, đọc trôi
chảy mới cảm thụ được bài văn và đọc đúng sẽ hiểu tất cả các văn bản khác.
Những năng lực này không phải tự nhiên mà có. Nhà trường phải từng bước
hình thành và trường Tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên.


sống gần nhau nên có điều kiện giúp đỡ nhau trong việc học tập. Tích tham gia
các hoạt động do trường, lớp, địa phương tổ chức. Riêng ở lớp tôi giảng dạy có
32 học sinh, các em đều có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ.- Học sinh hiếu động.
Bên cạnh những thuận lợi, nhà trường cũng gặp không ít khó khăn do Thọ
Thanh vẫn còn là một xã nghèo, nhân dân chủ yếu làm nghề nông, thu nhập bình
quân đầu nguời thấp, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo cao. Đời sống của một bộ phận
không ít nhân dân trên địa bàn còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng
đều. Nhiều gia đình, bố mẹ đi làm ăn xa để con ở nhà với ông bà, ít quan tâm
đến việc học của con cái. Hoặc số đông phụ huynh rất quan tâm đến việc giúp
đỡ con cái học tập nhưng lại thiếu kiến thức và phương pháp sư phạm để hướng
dẫn cho con, khiến cho trẻ không có cơ hội trải nghiệm và thiếu tự tin trong học
tập. Hơn nữa còn có một số phụ huynh có tư tưởng khoán trắng cho nhà trường
và giáo viên chủ nhiệm ( trăm sự nhờ cô) nên việc kết hợp giữa gia đình với giáo
viên trong việc giáo dục học sinh còn nhiều hạn chế.
2.2.2 Thực trạng dạy Tập đọc ở trường Tiểu học Thọ Thanh
Ban lãnh đạo nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo sát sao đến hoạt động
chuyên môn của nhà trường, của tổ khối. Đặt biệt là chất lượng học sinh.
Giáo viên vững vàng về phương pháp, tinh thông về nghiệp vụ. Giàu kinh
nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh. Song bên cạnh đó do tỉ lệ giáo viên là
người địa phương nhiều, khi lên lớp các cô sử dụng tiếng địa phương nhiều, đọc
( giảng) bài chưa hay nên chưa thu hút sự chú ý của các em. Vì sợ mất thời gian,
nên trong quá trình giảng dạy đặc là môn Toán và Tiếng Việt có giáo viên chưa
dành nhiều thời gian giúp đỡ học sinh đọc chậm, học sinh chưa hoàn thành.
Tuy vậy, trước khi lên lớp vẫn còn giáo viên chưa dành nhiều thời gian để
nghiên cứu kỹ bài dạy và chuẩn bị trang thiết bị đồ dùng thật chu đáo, do đó
hướng dẫn học sinh quan sát chưa kỹ. Việc chọn từ và giải nghĩa từ của giáo
viên còn rập khuôn (bám sát từ ở phần chú giải trong sách giáo khoa).
Khi lên lớp, có giáo viên chưa khai thác hết ý đồ của sách giáo khoa, ít sử

Dân tộc: 02 em
Qua khảo sát học sinh về kết quả phản ánh như sau:
Ngắt nghỉ Hiểu được nội
Tổng số học sinh
Đọc đúng, Đọc rõ ràng,
hơi ở dấu dung
đoạn,
rõ từ
rành mạch
câu
bài đọc
32
20
20
18
16
2.3. Các biện pháp nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 3A
Trường Tiểu học Thọ Thanh, huyện Thường Xuân
Qua khảo sát tôi thấy kỹ năng đọc của học sinh lớp tôi còn nhiều em chưa
đạt theo yêu cầu. Để khắc phục tình trạng này, tôi đã tìm tòi và nghiên cứu và có
được những biện pháp sau đây:
2.3.1. Phân loại học sinh
Do học sinh mới từ lớp 2 lên nên ngay sau khi nhận lớp, tôi đã tiến hành
khảo sát và phân loại học sinh theo các mức độ cụ thể như sau:
- Đọc đúng, rõ từ (Tốc độ đọc một bài khoảng 100 chữ trong khoảng thời
gian 2- 3 phút).
- Đọc thầm, hiểu được nội dung bài ở lớp.
- Đọc đúng, rõ ràng, rành mạch biết nghỉ hơi ở dấu chấm và ngắt hơi ở dấy
phẩy.
- Đọc đúng, rõ ràng, rành mạch một đoạn, bài văn, thơ ngắn.

Khi các em đọc, tôi lắng nghe, sửa, hướng dẫn đọc mẫu cho học sinh. Đây
là hoạt động cơ bản của việc rèn đọc.
Với mong muốn cho học sinh có tính siêng năng, chăm học, thích tìm tòi,
hàng tuần, tôi đều giới thiệu sách hay có liên quan đến bài học để học sinh tìm
đọc, giúp rèn kĩ năng đọc của các em. Tôi luôn coi trọng việc phối hợp với giáo
viên bộ môn để rèn đọc thông qua các môn học khác, chẳng hạn như đọc câu
hỏi, đọc yêu cầu bài, đọc đề bài. Ngoài ra, tôi còn đưa các em đến thư viện để
đọc sách mỗi tuần một buổi, tổ chức Câu lạc bộ đọc sách.

Hoạt động đọc sách của học sinh lớp 3A tại Thư viện nhà trường
7


Sinh hoạt Câu lạc bộ đọc sách
2.3.3. Rèn kỹ năng đọc cho học sinh đọc chậm, đọc sai
Những học sinh chưa hoàn thành bao gồm những em đọc chậm, chưa có kỹ
năng đọc, đọc còn ê, â, ngắc ngứ,… Với đối tượng học sinh này, tôi luôn chú
trọng hình thức đọc cá nhân để rèn luyện, uốn nắn cho từng học sinh, kết hợp
hình thức luyện đọc tiếp sức câu, luyện đọc tiếp sức đoạn, luyện đọc nhóm, tạo
mọi điều kiện để học sinh tham gia vào tiết học bằng nhiều hình thức thảo luận
cặp, nhóm, hoạt động cả lớp. Để nhiều học sinh tham gia và tham gia đọc nhiều
lần trong một tiết học, xen kẽ hợp lý đọc đồng thanh để tạo không khí lôi cuốn
học sinh yếu, học sinh còn rụt rè vào hoạt động học. Trong mỗi tiết học toàn bộ
cho học sinh đều đựơc tham gia luyện đọc càng được nhiều lần càng tốt.
Đối với phần tìm hiểu bài, tôi chú ý giải nghĩa từ khó, tận dụng tối đa tranh
minh họa và đồ dùng dạy học trong việc giải nghĩa từ hoặc giải nghĩa từ trong
câu cụ thể để các em dễ cảm nhận tránh giải nghĩa từ dài dòng, vì vốn từ tiếng
Việt của học sinh còn hạn chế.
Đối với một số câu hỏi khó trong phần hướng dẫn tìm hiểu bài, tôi đã chủ
động gợi ý và giải thích không yêu cầu học sinh tự tìm hiểu và trả lời, dành thời

Ví dụ: phát âm “ưu tiên”chứ không phải “ưu tin”
+ Hướng dẫn cho học sinh phát âm đúng thanh hỏi, thanh ngã
Ví dụ: “nỗi buồn” chứ không phải “nổi buồn”
“một nửa” chứ không phải “một nữa”
Đối với học sinh đọc vẹt, chưa hiểu nội dung: Tôi rèn cho các em có kỹ
năng đọc thầm. Đây là hình thức đọc hiểu mà đòi hỏi học sinh phải có tính tự
giác. Do đó, trước khi cho học sinh đọc thầm, tôi giao nhiệm vụ cụ thể cho học
sinh nhằm định hướng rõ việc đọc - hiểu (đoạn văn hay khổ thơ nào, đọc để biết,
hiểu, nhớ hay suy nghĩ và trao đổi về điều gì,…) Kết hợp quan sát, theo dõi từng
học sinh để biết học sinh đọc đến đâu. Với cahcs làm như vậy, tôi đã nâng cao
được chất lượng đọc thầm nhằm giúp các em hiểu được nội dung bài đọc. Các
em được rèn kĩ năng đọc thầm, đọc lướt thường chủ yếu ở phần tìm hiểu bài ở
phân môn Tập đọc. Trong phần tìm hiểu bài, tôi thường chọn những từ trọng tâm
và giải thích ngắn gọn, dứt khoát, dễ hiểu.
2.3.4. Kết hợp đồng bộ các biện pháp luyện đọc
Kỹ năng luyện đọc theo mẫu: Muốn học sinh đọc thành tiếng tốt giáo viên,
trước hết giáo viên phải đọc tốt. Vì vậy, trong dạy học tập đọc, tôi thường sử
dụng phương pháp luyện theo mẫu, tôi đọc mẫu để học sinh luyện đọc theo. Tôi
luôn làm chủ được âm thanh giọng đọc của mình, không chỉ phát âm đúng chính
âm mà còn đọc đủ lớn, làm chủ tốc độ, cường độ, cao độ để đọc diễn cảm.
Quan quan sát giọng đọc của học sinh: Sau khi tôi đọc mẫu, đến học sinh
đọc, tôi quan sát giọng đọc của các em, nghe các em đọc. Để xem các em đã đọc
9


đúng mẫu chưa và nhận ra hiệu số sai lệch giữa bài đọc của các em so với bài
đọc của cô. Từ đó tái hiện lại lời đọc của học sinh để giúp các em sửa sai.
Phối hợp nhịp nhàng lời mô tả giọng đọc và làm mẫu: là có sự hài hòa giữa
những lời yêu cầu, chỉ dẫn về cách đọc và khả năng biểu diễn những yêu cầu,
chỉ dẫn này bằng chính giọng đọc mẫu của cô. Ví dụ: các em nghe cô đọc và đọc

+ Học sinh đọc chưa đúng vần:
Ví dụ : “khỉu tay” (khuỷu tay)
“tủi thơ” (tuổi thơ)
“nhứt” (nhất)
“tíng trống” (tiếng trống)
“xe být”
(xe buýt)
“ưu tin” (ưu tiên)
10


“mua riệu” (mua rượu)
+ Học sinh đọc chưa đúng thanh hỏi, thanh ngã:
Ví dụ: “trôi nỗi” (trôi nổi)
“kiên nhẩn” (kiên nhẫn)….
+ Học sinh đọc chưa đúng nguyên âm đôi
Ví dụ : Để luyện cho học sinh phát âm đúng là “rượu” đối lập với “riệu”,
tôi luyện cho học sinh phát âm ư trước. Sau đó tạo nên sự đối lập giữa các âm
tròn môi và không tròn môi bằng cách cho một loạt từ: Mười – tươi - dưới rượu. Sự tương phản này giúp các em nhận biết nhanh hơn và dẽ phát âm hơn.
Luyện đọc nhanh: Đọc nhanh còn gọi là đọc rõ ràng, rành mạch, lưu loát,
trôi chảy, là nói đến phẩm chất của đọc về mặt tốc độ. vấn đề tốc đọ chỉ đạt ra
sau khi đã đọc đúng. Rèn kỹ năng đọc rõ ràng, rành mạch, lưu loát, trôi chảy
bằng chách đọc mẫu để cho học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị luyện đọc
nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài. Khi các em đọc, tôi thường theo dõi để giữ nhịp
đọc cho các em. Tổ chức cho các em đọc nối tiếp, tôi theo dõi và điều chỉnh tốc
độ bằng các lệnh “ đọc nhanh hơn”, “ đọc chậm lại”. Dựa vào chuẩn tối thiểu về
tốc độ và khả năng của học sinh lớp mình, tôi xác đình tốc đọ bằng cách đếm số
tiếng trong đoạn, bài rồi dự định thời gian đọc cho các em.
Ví dụ: Bài: “Cậu bé thông minh”; Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 Tập I
Trang 4. Sau đây là cách đọc một số câu:

Khi hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm đoạn văn với giọng hồi hộp, nhẹ
nhàng, đầy cảm xúc; nhấn giọng những từ gợi tả, gợi cảm. Hướng dẫn học sinh
cách ngắt câu dài.
Ví dụ 2: Bài : “Nhớ lại buổi đầu đi học” Sách giáo khoa Tiếng Việt - Tập I
trang 51.
Đoạn 1:
Hằng năm, / cứ vào cuối thu, / lá ngoài đường rụng nhiều, / lòng tôi lại
nao nức/ những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường.// Tôi quên thế nào được
những cảm giác trong sáng ấy / nảy nở trong lòng tôi / như mấy cánh hoa tươi /
mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. //
Ngoài việc đọc đúng, giáo viên cần xây dựng cho học sinh có thói quen đọc
tiếp sức đoạn và tự giác học tập, phát huy tính tích cực học tập. Tạo mọi điều
kiện để học sinh được tham gia vào tiết học (trả lời câu hỏi, phát biểu về nghĩa
của từ, mở rộng từ, tìm từ cùng nghĩa, trái nghĩa, đặt câu…). Đề xuất cách đọc
diễn cảm sau khi hiểu từ hiểu nghĩa; biết lắng nghe và nhận xét ý kiến của bạn,
được rèn đọc đúng và diễn cảm, tham gia các trò chơi luyện đọc, đọc theo cách
phân vai.
Ví dụ: Bài : “Người liên lạc nhỏ” ở đoạn 3. Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 Tập I trang 112.
- Giáo viên đọc diễn cảm:
+ Thể hiện giọng đọc qua từng đoạn:
Đoạn 1: Đọc với giọng kể chậm rãi, nhấn giọng các từ ngữ tả dáng đi nhanh
nhẹn của Kim Đồng, phong thái ung dung của ông ké (hiền hậu, nhanh nhẹn
,lững thững,…)
Đoạn 2: (Hai bác cháu gặp địch) giọng hồi hộp.
Đoạn 3: giọng bọn lính hống hách, giọng Kim Đồng tự nhiên, bình tĩnh.
Đoạn 4: giọng vui phấn khởi, nhấn giọng các từ ngữ thể hiện sự ngu ngốc
của bọn lính (tráo trưng, thông manh)
Hướng dẫn học sinh đọc phân biệt lời người dẫn chuyện, bọn giặc, Kim
Đồng, ông ké, nhằm luyện đọc diễn cảm cho học sinh, giáo viên cần hướng dẫn
học sinh đọc đúng, thể hiện đúng lời các nhân vật.

các em để nhắc nhở các em học tập tốt, đặc biệt là việc tập đọc ở nhà. Với
những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tôi đã chủ động tham mưa
nhà trường tặng quà tết vì người nghèo, tặng sách vở đồ dùng học tập, tặng áo
ấm,... Từ đó gia đình các em đã quan tâm hơn đến việc học ở nhà, khi có bài
về nhà thì phụ huynh động viên nhắc nhở các em học bài, làm bài, vì thế học
sinh lớp tôi tiến bộ rất nhiều.
Thông qua các buổi họp phụ huynh như: Đầu năm, cuối học kỳ I và cuối
năm (3 lần/1 năm) để phụ huynh nắm được tình hình học tập của con em mình.
Từ đó, phụ huynh có biện pháp rèn các em học ở nhà.
Phụ huynh phải sắp xếp thời gian hợp lý để các em có thời gian rảnh tìm
đọc sách, truyện, chuẩn bị trước bài khi đến lớp.
Thường xuyên quan tâm đến việc học tập của con em mình, tạo không khí
học tập thoải mái cho các em.
Tóm lại: Giáo viên cần nắm vững chuẩn kiến thức cần đạt của phân môn
Tập đọc đối với học sinh lớp 3, nắm được từng đối tượng học sinh để sử dụng
phương pháp dạy sao cho phù hợp, đạt hiệu quả nhằm nâng cao được chất lượng
học tập của học sinh.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Với một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh tập đọc như trên, tôi thấy giờ
Tập đọc của lớp tôi dạy đã đạt kết quả tốt. Số lượng học sinh nắm được thể loại,
yêu cầu bài đã tăng lên, phân môn Tập đọc ở lớp 3A có tiến bộ rõ rệt, chất lượng
môn Tiếng Việt cũng đã nâng cao.
13


So sánh với kết quả khảo sát trước khi áp dụng sáng kiến và sau khi
áp dụng sáng kiến trên kết quả lớp tôi thu được như sau:

Tổng số học sinh


linh hoạt các phương pháp, các hình thức tỏ chức dạy học. Các hoạt động của
tiết dạy không tách rời nhau, mà phải có sự đan xen liên kết và hỗ trợ lẫn nhau.
Bên cạnh đó giáo viên cần phải có dự kiến về các câu trả lời của học sinh và các
tình huống sư phạm xảy ra trong mỗi hoạt động, có biện pháp giải quyết và điều
chỉnh kịp thời. Giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy
học theo nhóm, dạy học cá nhân,.....có thể tổ chức học sinh dưới hình thức trò
chơi để kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, nhằm đạt kết quả cao trong
giờ học mà học sinh không nhàm chán.
Làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, công tác động viên khen thưởng kịp thời,
kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình để tạo điều kiện cho các em trong quá
trình học tập ở trường, ở nhà.
Biết lắng nghe ý kiến chỉ đạo của chuyên môn và ý kiến đóng góp xây dựng
của đồng nghiệp. Luôn có thái độ cầu tiến, không ngừng học hỏi để nâng cao
trình độ chuyên môn cho bản thân.
Để đạt được các điều đó, người giáo viên phải thực sự tâm huyết với nghề,
kiên trì nhẫn nại, tận tụy với học sinh, biết hi sinh chia sẻ và thông cảm với hoàn
cảnh của những học sinh gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống,
hết lòng vì học sinh thân yêu.
Hiểu rõ đặc điểm tâm lý của từng đối tượng học sinh để có những sáng tạo,
cải tiến về mặt phương pháp sao cho phù hợp với từng đối tượng và từng bài cụ
thể. Giáo viên cần nắm vững nội dung cơ bản của từng bài học trong SGK và
những hướng dẫn cụ thể về mục tiêu cần đạt. Tuỳ theo đặc điểm của từng bài
học mà xây dựng kế hoạch bài giảng cho phù hợp.
14


Để góp phần dạy tốt phân môn Tập đọc ở lớp 3, tôi đã mạnh dạn đề xuất
các biện pháp.
1. Tổ chức tiết học hoạt động sôi nổi, gây hứng thú học tập cho học sinh.
2. Nâng cao chất lượng đọc mẫu của giáo viên.



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dạy học tập đọc ở tiểu học - Lê Phương Nga. NXB Giáo dục, năm 2003.
2. Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học. Lê Phương Nga. NXB
Đại học sư phạm, năm 2006

16


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CẤP
TỈNH
Họ và tên tác giả: Lê Thị Hiền
Chức vụ và đơn vị công tác: Trương Tiểu học Thọ Thanh

TT

Tên đề tài SKKN

1.

Một vài biện pháp sửa lỗi
chính tả cho học sinh lớp 3
trường Tiểu học Thọ Thanh

Kết quả
Cấp đánh
đánh giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status