Một số kinh nghiệm về việc rèn chữ viết đẹp cho học sinh lớp 2 trong giờ tập viết và chính tả - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP. THANH HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC RÈN CHỮ VIẾT ĐẸP CHO
HỌC SINH LỚP 2 TRONG GIỜ TẬP VIẾT VÀ CHÍNH TẢ

Người thực hiện: Nguyễn Thị Lĩnh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Vệ 1
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Tiếng Việt

THANH HÓA, NĂM 2018


1. MỞ ĐẦU:
1.1. Lí do chọn đề tài:
- Hiện nay công tác dạy học được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong các nhà
trường. Bởi vì “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức
và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực
hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ
năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả
năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của
mỗi người”
- Trong dạy học ở bậc Tiểu học người giáo viên phải luôn coi trọng việc
rèn luyện cho học sinh viết đúng, viết đẹp. Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
đã từng nhận xét: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người. Dạy cho học
sinh viết đúng, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, lòng tự
trọng đối với mình cũng như đối với thầy và bạn đọc bài vở của mình”.
- Việc rèn luyện cho học sinh viết đúng, viết đẹp là vô cùng cần thiết. Nếu

2


- Rèn học sinh tính cẩn thận, óc sáng tạo, tinh thần kỷ luật và khiếu thẩm
mỹ.
- Tăng chất lượng dạy học cho học sinh lớp 2B tại trường Tiểu học Đông
Vệ 1, Thành phố Thanh Hóa.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: “Một số kinh nghiệm về việc
rèn chữ viết đẹp cho học sinh lớp 2 trong giờ tập viết và chính tả”.
- Đề tài được ứng dụng trực tiếp trong năm học 2017 – 2018 cho học sinh
lớp 2B trường Tiểu học Đông Vệ 1, Thành phố Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp: Điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin,
thống kê, xử lí số liệu....
- Nghiên cứu tài liệu về công tác rèn luyện chữ viết cho học sinh tiểu học
để chọn lựa những thông tin phù hợp với học sinh.
- Đánh giá kết quả ứng dụng của đề tài qua hoạt động thực tiễn dạy học
cho học sinh lớp 2B trường Tiểu học Đông Vệ 1, Thành phố Thanh Hóa.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
Môn Tiếng Việt có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình hình thành
ngôn ngữ của học sinh. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của con người. Khả năng
sử dụng ngôn ngữ là biểu hiện trình độ văn hoá của con người. Dạy ngôn ngữ
tiếng Việt là dạy kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Dạy tiếng Việt là yêu cầu không
thể thiếu trong bậc học phổ thông, nhất là bậc Tiểu học.
Dạy viết là một trong bốn kĩ năng dạy học Tiếng Việt mà giáo dục Tiểu
học phải có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh. Chữ viết là một hệ thống tín hiệu
bằng ghi hình có chức năng giao tiếp và quy định thống nhất trong quá trình lịch
sử, chữ viết có nhiều biến đổi khác nhau. Trong trường Tiểu học mẫu chữ được

- Viết đúng chính tả.
- Viết tốc độ tối thiểu 30 chữ /15 phút.
- Trình bày đúng quy định; viết sạch, đẹp.
*Thực tế của lớp 2B trường Tiểu học Đông Vệ 1 – Năm học:
2017- 2018:
– Việc viết đúng kiểu chữ, cỡ chữ: Từ khi nhận lớp qua quan sát chữ viết
của học sinh, tôi thấy khả năng nắm các nét cấu tạo nên chữ cái, nhất là chữ cáí
viết hoa còn lơ mơ, dẫn đến một số em viết chưa đúng mẫu, cỡ chữ quy định
như em Huyền Thương; Ngọc Hà, Hà Trang….
Nhiều em viết chưa chữ thường gẫy nét, các nét khuyết trên, khuyết dưới
thường chưa đúng ly, các nét chữ không đều. Trong một bài có nét nghiêng, nét
đứng, các con chữ viết rời rạc chưa có sự kết nối liền mạch, khoảng cách giữa
các chữ chưa đều như em Bảo, Tuấn Tú, Thảo Nguyên, Hồng Quân,…..
– Việc viết đúng chính tả: Trong một bài chính tả, một số học sinh còn
sai nhiều lỗi chính tả vì nắm cấu tạo âm, vần, từ, câu chưa chắc như em Tuấn
Anh, Hoàng Đức, Trọng…. Hơn nữa trong bộ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2
có mẫu chữ hoa, loại chữ hoa kiểu 2 bay bổng, mềm mại có nhiều nét uốn lượn
rất khó viết.
- Việc viết tốc độ tối thiểu 30 chữ /15 phút: Trong lớp, số ít học sinh
viết còn chậm so với các bạn khác, chưa đúng theo quy định tốc độ tối thiểu 30
chữ / 15 phút đối với học sinh lớp 2 như em Hồng Quân, Vũ Tuấn Anh….
– Việc trình bày đúng quy định; viết sạch, đẹp: Cách trình bày trong
một bài chính tả chưa sạch, đẹp do sai lỗi chính tả và chữ chưa đúng kích cỡ,
nên các em tẩy xoá rất bẩn như em Mạnh Hoàn, Đức Thịnh, Tuấn Anh….
- Trước tình hình đó tôi đã tiến hành chấm vở sạch chữ đẹp và kiểm tra
việc sử dụng bút, thước của học sinh. Phân loại nhằm biết điểm yếu của từng em
về chữ viết để tiện giúp đỡ rèn luyện.
Qua tiến hành khảo sát, phân loại đối tượng, kết quả đạt được ở đợt chấm
Vở sạch chữ đẹp giữa kỳ 1 như sau: Tổng số học sinh: 46 em
Xếp loại chung giữa học kỳ I năm học 2017 - 2018

Giáo viên cũng phải thực sự chuẩn mẫu khi viết trên bảng, khi nhận xét
vào vở, ghi học bạ. Lời nhận xét của cô giáo phải có tác dụng chỉ bảo, khuyến
khích học sinh vươn lên trong học tập và chứa đựng tình cảm đối với học sinh.
Ví dụ: Nếu học sinh viết xấu, giáo viên chỉ nên ghi nhận xét: “Chữ em
viết chưa đẹp, cần phải luyện viết nhiều hơn” giáo viên không nên nhận xét:
“Chữ em viết quá xấu”.
Khi chấm bài nếu phát hiện thấy nét chữ viết chưa được đẹp, giáo viên
cần nắn nót viết mẫu sang lề vở để các em có ý thức sửa và yêu cầu luyện viết
thêm mỗi chữ một dòng.
Giáo viên cho học sinh mỗi em một tấm bìa kê tay có bảng chữ mẫu (cả
chữ thường và chữ hoa) hàng ngày để trong cặp. Học sinh sẽ sử dụng miếng bìa
này luyện viết khi ở nhà hoặc trong các giờ luyện viết ở lớp.
Giáo viên cũng cần chú ý đến chữ viết và cách trình bày của bản thân.
Qua chữ viết của cô giáo mà học sinh hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa quan trọng
của chữ viết đẹp. Phải là người gương mẫu tiên phong về chữ viết cho các em.
Trình bày bảng đẹp sẽ giúp học sinh rất nhiều trong việc luyện viết chữ đẹp.
Rèn luyện để có chữ viết đẹp là một yêu cầu cấp thiết của người giáo viên
tiểu học khi đứng trên bục giảng để rèn chữ viết cho học sinh.
2.3.2. Giải pháp 2: Nắm vững các nét cấu tạo chữ viết tiếng Việt và
viết đúng cỡ chữ.
Việc luyện chữ là việc cần làm nhưng không thể nóng vội, cần phải kết
hợp cả sự tỉ mỉ, lòng kiên trì và tình yêu thương học sinh thì mới tiến tới thành
công được. Qua dạy học tôi đã đúc rút cho mình được một số kinh nghiệm. Cần
phải phân loại chữ viết theo từng nhóm chữ. Bởi vì, số lượng thì rất nhiều (29
chữ) thời gian dành cho riêng môn tập viết cũng không nhiều. Việc phân loại
chữ viết theo từng nhóm là vô cùng cần thiết. Khi rèn chữ viết tôi đã chú trọng
vấn đề rèn dứt điểm từng loại chữ. Học sinh viết đúng, viết đẹp loại chữ này mới
chuyển sang loại khác. Ngay đầu năm học cần có kế hoạch cụ thể cho từng tuần,
tháng, học kỳ, năm học.
Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét và mối quan hệ về cách viết các chữ cái

Đối với nhóm chữ này thì chữ cơ bản là chữ cái a. Khi viết chữ a tôi cũng
hướng dẫn tương tự như chữ O nhưng điểm đặt bút thấp hơn. Khi lượn nét cong
đến điểm dừng thì lia bút tới đường kẻ ngang giữa đưa nét bút thẳng xuống viết
nét móc phải. Khi viết nét móc phải tôi đã lưu ý học sinh viết nét thẳng cần phải
kéo quá nửa gần sát đến ly mới được viết nét đá hất, nếu viết nét đá hất sớm quá
6


thì dẫn đến chữ viết sẽ choạc còn nếu như viết nét thẳng sát xuống dòng kẻ mới
viết nét đá hất thì dẫn đến nét đá hất sẽ nhọn, chữ viết cứng, gẫy nét và rất xấu.
Các chữ ă, â viết tương tự, giáo viên chỉ cần lưu ý cách viết dấu mũ “ ^ ”.
Đối với dấu mũ từ phía trái trên đầu chữ a lia bút lên trên không viết một nét gấp
khúc từ trái qua phải, lưu ý hai chân dấu mũ không được chạm đầu chữ cái a.
Khi viết nét cong “ O ” cần phải lưu ý đáy nét cong không chạm vào đầu chữ a
như sau:

Đối với các chữ cái d, đ, q có chiều cao gấp đôi đơn vị chữ, chiều ngang
giống như chữ a, cách viết tương tự:

Nhóm 3: Nhóm các chữ cái có các nét cơ bản là nét móc:

Ở nhóm các chữ cái này trọng tâm rèn luyện là nét móc ngược, nét móc
xuôi và nét móc hai đầu, ở nét móc ngược và móc xuôi được quy định như sau:
1. Điểm đặt bút
2. Điểm uốn lượn.
3. Điểm kết thúc.
Đối với nét móc hai đầu
1. Điểm đặt bút.
2. Điểm tiếp giáp giữa hai nét móc.
3. Điểm kết thúc

- Nét khuyết xuôi
- Nét khuyết ngược
1. Điểm đặt bút
1. Điểm đặt bút
2. Điểm uốn lượn
2. Điểm uốn lượn
3. Điểm dừng bút
3. Điểm dừng bút
Khi viết nét khuyết tròn cần lưu ý học sinh nét khuyết cần thon và tròn
đầu, không viết nét khuyết quá to hay quá nhọn, điểm giao nhau giữa nét chéo
và nét sổ thẳng ở đường kẻ giữa.
Khi viết chữ b giáo viên lưu ý học sinh viết nét thắt không nên viết quá to
hay quá nhỏ viết nét cong cần phải lượn vào một chút trước khi viết nét thắt như
8


sau:

Nhóm 5: Nhóm chữ cái có nét thắt phối hợp với nét cong:

Ở nhóm chữ này các nét móc, nét cong, nét thắt các em đều đã được
luyện.
2.3.3. Giải pháp 3: Rèn cách viết các chữ cái viết hoa.
Căn cứ vào sự cấu tạo, nét giống nhau của các chữ tôi chia chữ hoa ra
thành các nhóm nhỏ như sau:

Khi dạy các chữ hoa cần giúp học sinh:
+ Bước đầu luyện viết vào vở ô ly, giáo viên viết mẫu các chữ lên bảng, từ
điểm bắt đầu, điểm uốn lượn và điểm kết thúc của từng chữ, học sinh được
luyện viết vào bảng con nhiều lần. Khi các em đã viết đẹp tôi cho viết vở có ô ly,


2.3.4.2. Trường hợp viết nối không thuận lợi.
Trường hợp này chữ cái đứng trước không có liên kết với chữ cái đứng
sau. Vậy khi viết đặc biệt lưu ý cho học sinh không nhấc nét bút lên mà khi viết
đến điểm dừng bút của chữ cái đứng trước thì lia bút đến điểm bắt đầu của chữ
cái đứng sau.
Ví dụ: Viết các vần: an, am anh, en, ên, in, un…
Viết từ: cành chanh…

Đối với chữ có hai chữ cái đứng cạnh nhau đều không có nét liên kết, phải
hướng dẫn cho học sinh tạo nên nét liên kết để tránh việc nhấc nét bút lên.
Ví dụ: Víêt chữ ngh, ch, th, ph, kh, tr, gh, gi…

10


2.3.4.3. Chú ý khoảng cách giữa các con chữ, các chữ với nhau.
Ví dụ: nếu học sinh viết chữ “lá sen” mà khoảng cách các con chữ xa quá
sẽ không đẹp, dày quá cũng không đẹp.
Nếu học sinh viết khoảng cách giữa các chữ cái đều chữ sẽ đẹp

2.3.4.4. Kỹ thuật viết dấu phụ và dấu thanh
* Về dấu phụ: Lỗi này thường phổ biến nhiều ở học sinh nhưng vẫn có em
mắc phải.
Đối với các dấu phụ cần đặt ở vị trí phía trên đầu các chữ cái, không chạm
vào đầu các chữ cái. Với dấu “ ’ ” của chữ Ơ dấu hơi có điểm dừng bút chạm
vào điểm dừng bút của nét cong khép kín. Với dấu “ ’ ” của chữ ư có điểm dừng
bút chạm vào đầu của móc thứ hai.
Về dấu câu: Cần lưu ý viết dấu “ / ” và “ \ ”; (?); (~), (.) phải đặt đúng vị
trí cần đặt.

hai nét trở lên thì ngoài yêu cầu viết đúng mẫu các nét còn phải lưu ý sự chuyển
tiếp giữa các nét một cách tự nhiên không tạo chỗ gãy dẫn đến làm giảm vẻ đẹp
của chữ.
+ Ngoài việc xác định số nét của mỗi chữ cái viết hoa giáo viên giúp học
sinh xem mối quan hệ giữa các nét với nhau. Cụ thể là xem giữa các điểm kết
thúc của nét liền trước với điểm bắt đầu của nét liền sau có trùng hay không.
Nếu điểm của nét liền trước trùng với điểm bắt đầu của nét liền sau có nghĩa là
sau khi kết thúc nét liền trước ta chuyển sang nét tiếp theo. Trường hợp này gọi
là liên kết thực.
+ Nếu điểm kết thúc của nét liền trước không trùng với điểm bắt đầu của
nét liền sau thì xảy ra ba trường hợp:
- Một là: điểm bắt đầu của nét liền sau nằm trên một điểm bất kỳ của nét
liền trước (không phải là điểm kết thúc của nét liền trước) trường hợp này thì ta
rê bút và gọi là liên kết thực có lặp đoạn.
Ví dụ: Chữ "h" nét khuyết trên + liên kết thực có lặp đoạn + nét móc 2
đầu:

- Hai là: Điểm bắt đầu của nét liền sau nằm ngoài nét liền trước nhưng có
một điểm khác của nét liền sau nằm trên nét liền trước gọi là điểm tiếp giáp.
Ví dụ: Chữ a: Nét cong kín + Điểm tiếp giáp + nét móc ngược

- Ba là: Toàn bộ nét liền sau nằm ngoài nét liền trước. Trường hợp này ta
nhấc bút chạy một vòng tưởng tượng trên không rồi mới đến điểm bắt đầu của
nét liền sau. Đây ta quy ước là liên kết ảo không có tiếp điểm
2.3.6. Giải pháp 6: Sửa tư thế ngồi, cách cầm bút cho học sinh.
Qua dạy học tôi thấy việc học sinh ngồi chưa đúng tư thế trong khi viết
còn rất nhiều. Từ đầu năm tôi đã cho các em cách ngồi viết đúng tư thế, khi ngồi
viết phải ngồi đúng tư thế, lưng thẳng, không tì ngực vào cạnh bàn, đầu hơi cúi,
hai mắt cách vở từ 25 - 30cm. Cánh tay trái đặt trên mặt bàn bên trái vở, bàn tay
trái tỳ vào mép vở giữ không xê dịch khi viết. Thường xuyên nhắc sửa tư thế ở

học sinh viết hàng ngày phải biết được học sinh còn viết xấu những nét nào và
cách sửa nét đó như thế nào (cách sửa nét tôi đã nêu ở trên) hơn nữa giáo viên
phải đặt kế hoạch cụ thể cho từng tháng, từng kỳ và cả năm từ đó quyết tâm
phấn đấu theo kế hoạch đã đề ra.
2.3.8. Giải pháp 8: Bồi dưỡng cho học sinh lòng say mê và tinh thần
13


quyết tâm rèn luyện chữ viết.
Để bồi dưỡng lòng say mê và tinh thần rèn luyện chữ viết của học sinh tôi
thường cho xem những bộ vở sạch chữ đẹp của các anh chị các năm trước, kể
cho các em nghe về những tấm gương chăm luyện chữ. Qua những mẩu chuyện,
qua thực tế được nhìn những trang vở của bạn các em sẽ thêm tin tưởng vào sự
thành công của bản thân và từ đó sẽ say mê rèn luyện chữ.
2.4. Hiệu quả cuả sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục.
Thực tế khi nghiên cứu và áp dụng đề tài: “Một số kinh nghiệm về việc rèn
chữ viết đẹp cho học sinh lớp 2 trong giờ tập viết và chính tả” tại lớp 2BTrường Tiểu học Đông Vệ 1- Năm học 2017 – 2018 đã thu được một số hiệu
quả:
* Thứ nhất: Trước khi thực hiện đề tài này bản thân tôi rất băn khoăn
trăn trở về việc đổi mới. Làm sao để cung cấp kiến thức cho học sinh đúng với
quy định của Thông tư 22 về chuẩn kiến thức, kĩ năng phù hợp với học sinh lớp
2; Đồng thời tạo sự tương tác giữa giáo viên với học sinh trong hoạt động dạy
học.
* Thứ hai: Khi bắt đầu áp dụng đề tài này, đối với bản thân tôi đã nâng
cao năng lực, đáp ứng yêu cầu hoạt động khi rèn chữ viết cho học sinh theo các
mức: Viết đúng kiểu chữ, cỡ chữ; Viết đúng chính tả; Viết tốc độ tối thiểu 30 chữ
/15 phút; Trình bày đúng quy định; viết sạch, đẹp... Học sinh đã có sự chuyển
biến tích cực như:
– Việc viết đúng kiểu chữ, cỡ chữ: Một số em chưa nắm chắc các nét
cấu tạo chữ cái, chữ cáí viết hoa còn lơ mơ. Hiện nay đã viết đúng mẫu, cỡ chữ


14


+ Ở cuối học kỳ I:
Xếp loại chung cuối học kỳ I năm học 2017 - 2018
Xếp loại
A
B
C
Số học sinh
20 em
26 em
0 em
Tỉ lệ %
43,5 %
56,5 %
0%
+ Ở giữa học kỳ II:
Xếp loại chung giữa học kỳ II năm học 2017 - 2018
Xếp loại
A
B
C
Số học sinh
30 em
16 em
0 em
Tỉ lệ %
65,2 %

Để có được những kết quả trên đều xuất phát từ lòng yêu nghề, mến trẻ,
tính kiên trì của giáo viên. Cùng với sự nỗ lực phấn đấu của học sinh và sự quan
tâm của các bậc phụ huynh và ban giám hiệu nhà trường.
Để rèn cho học sinh viết chữ đẹp và có bộ vở sạch thì theo tôi cần phải
theo thứ tự mà gặp tình huống nào thì xử lý nó ngay lúc đó.

15


3.2. Kiến nghị:
Trong quá trình thực hiện tôi thấy vẫn còn một số vướng mắc. Chẳng hạn
bút viết của các em chưa đáp ứng nhu cầu, hỏng ngòi, tắc mực. Nhiều em bút
không hút được mực phải mang ống mực đến lớp dẫn đến chân tay còn rây mực
và làm bẩn vở của học sinh.
Để cho bộ vở của học sinh ngày một đẹp hơn tôi xin đề nghị một số điểm
như sau:
- Giáo viên tận tụy, yêu nghề, có tình cảm với học sinh, chăm chút cho
học sinh như chăm chút con mình.
- Học sinh cần phải có những quyển vở đẹp.
- Học sinh được phụ huynh quan tâm.
- Lớp học đủ ánh sáng.
- Những vấn đề được trình bày ở trên là những kinh nghiệm của bản thân
tôi rút ra từ thực tế giảng dạy. Với thời gian ngắn nên đề tài đưa ra không tránh
khỏi những thiếu sót. Tôi kính mong được sự góp ý chỉ bảo của các đồng nghiệp
để đề tài hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÔNG VỆ 1

Thanh Hóa, ngày 01 tháng 04 năm 2018


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status