Rèn kĩ năng làm bài đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 9 bậc THCS - Pdf 57

1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, đề thi môn Ngữ văn đã có sự thay đổi mạnh mẽ
với hai phần: đọc hiểu và làm văn. Trong đó, phần đọc hiểu văn bản là điểm mới
nhất của đề thi và nó chiếm một tỉ lệ điểm khá lớn (30 % số điểm). Đây là phần mới
được đưa vào trong các bài kiểm tra từ 1 - 2 tiết, bài kiểm tra học kì, kiểm tra cuối
năm…nhằm đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh. Hiện nay, việc đánh giá năng
lực đọc hiểu của học sinh thường diễn ra dưới hai hình thức: kiểm tra miệng (yêu
cầu học sinh nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đã ghi chép trong vở) và
kiểm tra viết (viết về một vấn đề thuộc phương diện nội dung hoặc nghệ thuật của
văn bản đã học). Những nhiệm vụ này chưa đánh giá được năng lực đọc hiểu các
loại văn bản khác nhau của học sinh. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần đổi mới đánh giá
năng lực đọc hiểu của học sinh bằng việc sử dụng những văn bản mới (bao gồm cả
văn bản văn học và văn bản thông tin, có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với văn
bản đã học trong chương trình, sách giáo khoa), yêu cầu học sinh vận dụng những
kiến thức, kĩ năng đã có vào việc đọc hiểu và cảm thụ văn bản mới này. Như vậy,
thầy cô không thể giúp các em đọc hộ, cảm hộ, hiểu hộ như trước đây nữa mà các
em phải tự mình khám phá, tìm hiểu văn bản. Chính vì vậy, học sinh gặp rất nhiều
khó khăn khi làm bài. Thế nhưng, trong sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham
khảo đều không có các dạng bài này. Các em không biết phải bắt đầu từ đâu, trình
bày bài như thế nào, vận dụng những kiến thức gì… nhất là đối với học sinh có học
lực trung bình, yếu. Còn đối với học sinh khá giỏi, đây là một trong những dạng bài
phát huy được khả năng cảm thụ văn học của các em. Các em rất hứng thú khi được
tìm hiểu, khám phá nhiều văn bản văn học mới không có trong chương trình và sách
giáo khoa. Từ đó các em lĩnh hội được nhiều kiến thức bổ ích, nhiều bài học có giá
trị nhân văn sâu sắc.
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn, tôi nhận thấy năng lực cảm thụ, đọc
hiểu văn bản của học sinh còn rất hạn chế. Trong các giờ dạy học đọc hiểu văn bản,
học sinh thường nghe và ghi chép lại bài giảng của giáo viên chứ chưa tự mình cảm
thụ, tìm hiểu, khám phá văn bản. Càng lên lớp cao hơn, việc đọc hiểu và cảm thụ
văn bản lại càng bất cập. Do áp lực thi cử, tình trạng thầy cô đọc hộ, hiểu hộ, cảm

đích cụ thể trong học tập hoặc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của cuộc sống. Đọc
hiểu luôn là một nội dung trọng tâm trong chương trình môn Ngữ văn (bậc Tiểu học
là môn Tiếng Việt), vì vậy đọc hiểu là một năng lực đặc thù của môn học này.
Trong dạy học môn Ngữ văn, năng lực đọc hiểu văn bản văn học rất được coi
trọng. Phần lớn bài học trong chương trình và sách giáo khoa hiện nay là bài học về
văn bản văn học. Vì thế, để học tốt môn Ngữ văn bắt buộc học sinh phải có năng lực
đọc hiểu văn bản.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Về phía giáo viên
- Thuận lợi: Là giáo viên trẻ, tâm huyết với nghề, có chuyên môn vững
vàng, luôn có ý thức học hỏi, tìm tòi đổi mới phương pháp giảng dạy, được 10 năm
trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 9 và ôn thi vào lớp 10 Trung học phổ thông, nên
trong quá trình dạy, bản thân nắm bắt được năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh
như thế nào, học sinh đã làm được những gì, các em còn gặp khó khăn ở đâu. Vì
vậy, tôi đã thấy được sự liên quan của kiểu bài này với các kiểu bài khác.
- Khó khăn: Dạng bài đọc hiểu văn bản sẽ là một dạng bài hoàn toàn mới
trong các đề kiểm tra, đề thi năm nay. Phần đọc hiểu thường xoay quanh nhiều vấn
đề với rất nhiều câu hỏi phong phú và đa dạng nhưng trong sách giáo khoa Ngữ văn
9 và sách bài tập Ngữ văn 9 không có một bài tập nào ở dạng này. Hơn nữa những
văn bản đọc hiểu thường là các văn bản ngoài chương trình và sách giáo khoa.
Chính vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải tự tìm tòi, nghiên cứu trong rất nhiều tài
liệu, sắp xếp theo từng chủ đề, từng dạng theo từng mức độ để cung cấp cho học
sinh.
2.2.2. Về phía học sinh
- Thuận lợi: Đa số học sinh lớp 9 trường tôi đều ngoan, có ý thức vươn lên
trong học tập. Phụ huynh học sinh quan tâm tạo điều kiện mua đầy đủ sách giáo
khoa, sách bài tập, sách tham khảo cho các em học.
- Khó khăn: Số học sinh thật sự có năng lực đọc hiểu văn bản rất ít; năng lực
cảm thụ, năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh hiện nay còn rất hạn chế. Thậm chí
các em còn rất lười đọc văn bản, kể cả các văn bản trong sách giáo khoa. Một số em

Bờ ao đom đóm chập chờn
Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi
Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
Bà ru mẹ ... mẹ ru con
Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?”
(Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Nguyễn Duy)
Câu 1 (0.5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên.
Câu 2 (0.5 điểm). Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào ?
Câu 3 (1.0 điểm). Chỉ ra và phân tích giá trị của hai biện pháp tu từ chủ yếu
được sử dụng trong đoạn thơ: “Bao giờ cho đến mùa thu / Trái hồng trái bưởi đánh
đu giữa rằm / Bao giờ cho đến tháng năm / Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao”.
Câu 4 (1.0 điểm). Em nhận xét thế nào về quan niệm của Nguyễn Duy: “Mẹ
ru cái lẽ ở đời / Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn” ?
Kết quả thu được:

9A


số
25

9B

27

Lớp

Giỏi
SL


%
20,0

6

22,3

Kém
SL
%
1
4,0
2

7,4
3


2.3.2. Rèn kỹ năng phân tích cấu trúc, phạm vi, yêu cầu của đề
* Cấu trúc của phần đọc hiểu
Cấu trúc của dạng bài đọc hiểu gồm hai phần:
- Phần 1: Ngữ liệu mở trong hoặc ngoài chương trình và sách giáo khoa (đoạn
văn, đoạn thơ, bài thơ ngắn, mẩu truyện…). Nhưng xu hướng sẽ là một văn bản mới
hoàn toàn, không có trong chương trình và sách giáo khoa.
- Phần 2: Thực hiện trả lời yêu cầu 4 câu hỏi dựa trên chuẩn kiến thức và kĩ
năng hiện hành, mức độ từ dễ đến khó.
* Phạm vi của phần đọc hiểu
- Văn bản văn học (Văn bản nghệ thuật):
+ Văn bản trong chương trình (Nghiêng nhiều về các văn bản đọc thêm)

Dạng 1: Câu hỏi trắc nghiệm. Thường sử dụng 4 dạng cơ bản sau:
- Câu hỏi nhiều lựa chọn dạng đơn giản
- Câu hỏi Có - Không; Đúng - Sai dạng phức hợp
- Câu hỏi điền khuyết
- Câu hỏi ghép đôi
4


Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
“Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng.”
(Nhớ con sông quê hương, Tế Hanh)
Câu 1. Đoạn thơ trên sử dụng phương thức biểu đạt nào?
A. Tự sự
B. Biểu cảm
C. Nghị luận
D. Thuyết minh
Câu 2. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ tám chữ. Đúng hay sai?
A. Đúng
B. Sai
Câu 3. Điền từ thích hợp vào chỗ trống để hoàn chỉnh nhận xét sau: Trong
đoạn thơ trên tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ………………và……………để thể
hiện sâu sắc nỗi nhớ, tình yêu đối với quê hương.
Câu 4. Nối cột A với cột B sao cho phù hợp
A

B




- Câu hỏi thông hiểu thường yêu cầu thí sinh xác định nội dung chính của văn
bản hay một câu, một đoạn trong văn bản.
- Câu hỏi vận dụng thấp thường yêu cầu nêu tác dụng của các phép tu từ hay
việc sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt, sử dụng từ ngữ … trong văn bản.
- Câu hỏi vận dụng cao thường là dạng câu hỏi bày tỏ quan điểm thái độ hoặc
liên hệ thực tế đời sống (liên hệ hiện tượng nào và đưa ra giải pháp).
Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
“Sau tất cả mọi vui buồn chết sống
Đôi khi cây thành chỗ nhớ cho người
Tôi viết về cây giữa mùa hạt giống
Đang trồng gieo trên khắp nước non ta
Cây của rừng sâu, đồng rộng, vườn nhà
Cây xanh biếc của đường xuyên Nam Bắc
Cây dằng dịt ôm cuộc đời ấm áp
Người ở giữa cây, cây ở bên người.
Bài thơ xanh cây viết dưới mặt trời
Cho ta đọc những lời yêu mặt đất.”
(Tạ ơn cây, Vũ Quần Phương. Nguồn: thivien,net)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra hai biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn
thơ.
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu nội dung chính của đoạn thơ.
Câu 4 (1,0 điểm). Em có đồng tình với quan điểm sau đây của tác giả không?
Vì sao?
“Người ở giữa cây, cây ở bên người.”
2.3.5. Thực hiện các bước làm phần đọc hiểu
- Bước 1: Đọc lướt văn bản và hệ thống câu hỏi cuối mỗi văn bản.
- Bước 2: Đọc kỹ văn bản, gạch chân những từ ngữ, câu văn, những thông tin

sự việc, có những câu văn trần thuật. Tự sự thường được sử dụng trong truyện, tiểu
thuyết, văn xuôi nói chung, đôi khi còn được dùng trong thơ ( khi muốn kể sự việc)
- Ví dụ: “Một hôm, mẹ Cám đưa cho Tấm và Cám mỗi đứa một cái giỏ, sai đi
bắt tôm, bắt tép và hứa, đứa nào bắt được đầy giỏ sẽ thưởng cho một cái yếm đỏ.
Tấm vốn chăm chỉ, lại sợ dì mắng nên mải miết suốt buổi bắt đầy một giỏ cả tôm
lẫn tép. Còn Cám quen được nuông chiều, chỉ ham chơi nên mãi đến chiều chẳng
bắt được gì.”
(Tấm Cám)
Trong đoạn văn trên, tác giả dân gian kể về sự việc hai chị em Tấm đi bắt tép.
Đoạn văn có nhân vật: dì ghẻ, Tấm, Cám; có câu chuyện đi bắt tép của hai chị em;
có diễn biến hành động của các nhân vật dì ghẻ, Tấm & Cám; có các câu trần thuật.
Vậy phương thức biểu đạt của đoạn văn trên là tự sự.
* Miêu tả:
- Là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ
thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm
của con người.
- Dấu hiệu nhận biết phương thức miêu tả: Có các câu văn, câu thơ tái hiện lại
hình dáng, diện mạo, màu sắc…của người và sự vật (tả người, tả cảnh, tả tình,…)
- Ví dụ: “Trăng đang lên. Mặt sông lấp loáng ánh vàng. Núi Trùm Cát đứng
sừng sững bên bờ sông thành một khối tím sẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng,
dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơn man vỗ nhẹ vào
hai bên bờ cát.”
(Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy)
Đoạn văn trên tả cảnh dòng sông trong một đêm trăng sáng. Vậy phương thức
biểu đạt của đoạn văn trên là miêu tả.
* Biểu cảm:
- Là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xung
quanh.
- Dấu hiệu nhận biết phương thức biểu cảm: có các câu văn, câu thơ miêu tả
cảm xúc, thái độ của người viết hoặc của nhân vật trữ tình.

điểm của người viết. Nghị luận thường đi liền với thao tác phân tích, giải thích,
chứng minh, bình luận.
- Ví dụ: “... Trên thực tế, không một lòng đố kị nào có thể ngăn cản được
người khác thành công, cho nên lòng đố kị chỉ có hại cho bản thân kẻ đố kị. Nó vừa
làm cho kẻ đố kị không thể sống thanh thản, luôn dằn vặt khổ đau vì những lí do
không chính đáng, lại vừa có thể dẫn họ đến những mưu đồ xấu xa, thậm chí phạm
tội ác. Kẻ đố kị không hiểu rằng “ngoài trời còn có trời ”(cao hơn),“ngoài núi còn
có núi” (cao hơn), mình tài giỏi còn có người tài hơn.”
(Theo Băng Sơn)
Trong đoạn văn trên, tác giả nêu ra vấn đề cần bàn luận đó là “lòng đố kị gây
nên nhiều tác hại trong cuộc sống”, người viết bày tỏ quan điểm phê phán đối với
những con người có lòng đố kị. Vậy, phương thức biểu đạt của văn bản là nghị luận.
* Hành chính công vụ:
- Là phương thức dùng để giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân
dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác
trên cơ sở pháp lí (thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng…)
- Ví dụ: Giấy xin phép nghỉ học, đơn, hợp đồng,…
* Lưu ý:
- Phương thức hành chính công vụ thường ít xuất hiện trong đề đọc hiểu.
- Trong đề thi nếu có câu hỏi: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn
bản, thì các em chỉ cần nêu một phương thức chính. Nếu đề bài hỏi xác định
phương thức biểu đạt hoặc những phương thức biểu đạt thì có thể trả lời nhiều
phương thức.
8


Ví dụ 1: Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ
sau:
“Thuở nhỏ tôi ra ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm

- So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét
tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.
- Ví dụ:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
(Ca dao)
* Nhân hóa:
- Nhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách,
suy nghĩ, tên gọi ... vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật,
cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn.
- Ví dụ: Chị ong nâu, ông mặt trời, bác giun, chị gió,…
* Ẩn dụ:
9


- Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có
nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
- Ví dụ:
“Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.”
(Ca dao)
* Hoán dụ:
- Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự
vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi
cảm cho sự diễn đạt.
- Ví dụ:
“Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”
(Bài ca vỡ đất, Hoàng Trung Thông)
* Nói quá/ phóng đại/ khoa trương/ ngoa dụ/ thậm xưng/ cường điệu:

10


* Liệt kê:
- Là sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả đầy đủ, sâu
sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay tư tưởng, tình cảm.
- Ví dụ:
“Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng
Em đã sống lại rồi, em đã sống!
Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung
Không giết được em, người con gái anh hùng!”
(Người con gái Việt Nam, Tố Hữu)
* Tương phản, đối lập:
- Là cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.
- Ví dụ:
“O du kích nhỏ giương cao súng
Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu
Ra thế, to gan hơn béo bụng
Anh hùng đâu cứ phải mày râu”
(Tố Hữu)
* Đảo ngữ:
- Đảo ngữ là biện pháp tu từ thay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông thường
của câu, nhằm nhấn mạnh ý, nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng và làm câu thơ, câu
văn thêm sinh động, gợi cảm, hài hòa về âm thanh,…
- Ví dụ:
“Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà”
(Qua Đèo Ngang, Bà Huyện Thanh Quan)
* Câu hỏi tu từ:
- Là đặt câu hỏi nhưng không đòi hỏi câu trả lời mà nhằm nhấn mạnh một ý

câu có 7 tiếng); thất ngôn bát cú (mỗi bài 8 câu, mỗi câu 7 chữ); lục bát (một câu
sáu tiếng, một câu tám tiếng tạo thành một cặp); Lục bát biến thể (thường biến thể ở
câu tám có thể biến thể thành 9 đến 13 tiếng); song thất lục bát (hai câu 7 tiếng và
một cặp lục bát); tự do (số tiếng trong mỗi dòng thơ không đều nhau).
- Ví dụ: Đoạn thơ sau được viết theo thể thơ gì?
“Con sẽ không đợi một ngày kia
khi mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?
Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt
Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua
mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ
ai níu nổi thời gian?
ai níu nổi?
Con mỗi ngày một lớn lên
Mẹ mỗi ngày thêm cằn cỗi
Cuộc hành trình thầm lặng phía hoàng hôn.”
(Mẹ, Đỗ Trung Quân)
Trả lời: Đoạn thơ trên có số tiếng trong mỗi dòng thơ không đều nhau: dòng
3 tiếng, dòng 5 tiếng, dòng 6 tiếng…Vì thế đoạn thơ này được viết theo thể thơ tự
do.
2.3.6.2. Mức độ thông hiểu: thường có các dạng sau:
Dạng 1: Xác định nội dung chính của văn bản
- Để xác định chính xác nội dung của một văn bản học sinh cần đọc kĩ văn
bản để tìm câu chủ đề. Dựa vào câu chủ đề để xác định nội dung.
- Có thể dựa vào nhan đề và những câu văn mở đầu và kết thúc của văn bản
để xác định nội dung chính.
- Hoặc xác định chính xác nội dung của từng đoạn văn bản, rồi tổng hợp lại
thành nội dung bao quát toàn văn bản.
Ví dụ:


nó một nhan đề phù hợp với nội dung.
- Cơ sở để đặt nhan đề là phải dựa vào nội dung văn bản và dựa vào câu chủ
đề. Nhan đề đòi hỏi phải đúng trọng tâm, ngắn gọn, hay.
“Sao đã cũ
Trăng thì già
Nhưng tất cả đều trẻ lại
Để con bắt đầu gọi ba!
Con bắt đầu biết thương yêu
Như ba bắt đầu gian khổ
Đêm sinh con hoa quỳnh nở
Một bông trắng xóa hương bay...
Hôm nay con bắt đầu gọi ba
Người con nhận diện, yêu thương đầu tiên sau mẹ
Tiếng gọi thiêng liêng trào nước mắt
Đây bàn tay ba rắn chắc
Cho ba ẵm, ba thơm
Thịt xương, hòn máu của ba đây có mùi của mẹ
Ba nhìn sao cũ
Ba nhìn trăng già
Bầu trời hiện thêm một ngôi sao mới
Ngôi sao biết gọi: Ba! Ba!”
(Đặng Việt Ca)
Bài thơ trên chưa có nhan đề, em hãy đặt nhan đề cho bài thơ?
Trả lời: Có thể đặt nhan đề cho bài thơ là: Ngôi sao của ba hoặc Con là ngôi
sao
Dạng 3: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản
13


- Câu hỏi này thường kết hợp với phần nhận biết biện pháp tu từ. Nếu không

Làm sao mà ai biết
Mình đã bắt đầu từ quả trứng nào đây
Sao không thử một lần vỗ cánh tung bay?..”
(Khát vọng, Đặng Hồng Thiệp, Thơ Sông Lam,
trang 247, NXB Hội nhà văn, 2017)
Em hiểu như thế nào về ý nghĩa của hình ảnh bầy gà trong văn bản trên?
Trả lời: Học sinh có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng nổi bật
được một hoặc tất cả các ý nghĩa của hình ảnh bầy gà:
- Hoàn cảnh sống trói buộc, tù túng...
- Cái tầm thường, thiển cận, hạn hẹp, kém cỏi…
2.3.6.3. Mức độ vận dụng
Đối với các bài kiểm tra định kì trên lớp chỉ cần viết trong khoảng từ 3 - 7
dòng trình bày suy nghĩ về vấn đề nào đó liên quan đến nội dung của văn bản, thể
14


hiện suy nghĩ riêng của bản thân, không yêu cầu về đoạn văn, bài văn mà yêu cầu
về ý. Còn đối với đề thi học sinh giỏi và thi vào lớp 10, cấp độ này đòi hỏi, yêu cầu
học sinh phải viết đoạn văn.
Để viết được một đoạn văn đạt điểm cao: Trước tiên, cần xác định rõ vấn
đề cần viết (nội dung của đoạn văn), viết trong bao nhiêu dòng? (dung lượng), sau
đó tiến hành tìm ý cho đoạn văn. Việc tìm ý cho đoạn văn sẽ giúp học sinh hình
dung được những ý cần viết, tránh tình trạng viết lan man dài dòng, không trọng
tâm.
- Lưu ý: Đoạn văn cũng có bố cục 3 phần: mở đoạn - thân đoạn - kết đoạn
+ Câu mở đầu có nhiệm vụ dẫn dắt vấn đề. Đối với đoạn văn trong đề đọc
hiểu, các em nên dẫn dắt từ nội dung của văn bản được trích dẫn.
+ Các câu nối tiếp: Dựa vào các ý chính vừa ghi trên giấy nháp, chúng ta tiến
hành viết đoạn văn.
+ Câu kết của đoạn có nhiệm vụ kết thúc vấn đề. Câu kết có thể nêu cảm xúc

“Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
15


Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như đất cày , như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ
Tiếng tha thiết nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm , dấu ngã chênh vênh”
(Tiếng Việt, Lưu Quang Vũ)
Câu 1 (0,5 điểm). Văn bản trên thuộc thể thơ nào?
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra và phân tích biện pháp tu từ được sử dụng chủ yếu
trong văn bản.
Câu 3 (1,0 điểm). Văn bản thể hiện thái độ, tình cảm gì của tác giả đối với
tiếng Việt.
Câu 4 (1,0 điểm). Viết đoạn văn khoảng 7 - 10 câu, trình bày suy nghĩ của
em về trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ở giới trẻ ngày nay
Đáp án:
Câu
Nội dung
Điểm
1
Thể thơ tự do.
0,5
2
Biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng trong văn bản: so sánh:
0,5
- Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa


Lý Tự Trọng đầu không hề chịu cúi
Lúc ra pháp trường còn đọc truyện Nguyễn Du
Chị Sáu ơi! Bông hoa chị cài đầu
Còn thắm mãi giữa ngàn cây Côn Đảo.”
(Vinh quang thay thế hệ Hồ Chí Minh, Vương Trùng Dương)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Đoạn thơ sử dụng biện pháp tu từ nào là chính? Tác dụng?
Câu 3 (1,0 điểm). Hình ảnh Lý Tự Trọng “ra pháp trường còn đọc truyện
Nguyễn Du” và chị Võ Thị Sáu với “bông hoa chị cài đầu” gợi lên ý nghĩa gì?
Câu 4 (1,0 điểm). Tại sao tác giả lại xem mình là “viên đá mọn không tên”?
Đáp án:
Câu
Nội dung
1
Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên là biểu cảm
2
- Biện pháp tu từ chính: liệt kê (tên tuổi và hành động dũng cảm
của những anh hùng trẻ tuổi trong 2 cuộc kháng chiến của dân
tộc.)
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh vẻ đẹp kiên cường, bất khuất của những cá nhân
anh hùng đã làm nên thời đại anh hùng, qua đó bộc lộ niềm tự
hào, ngợi ca, biết ơn của tác giả.
+ Tạo âm hưởng mạnh mẽ, hào hùng cho đoạn thơ.
3
Hình ảnh Lý Tự Trọng “ra pháp trường còn đọc truyện Nguyễn
Du” và chị Võ Thị Sáu với “bông hoa chị cài đầu” gợi lên ý
nghĩa:
- Làm nổi bật tư thế hiên ngang, bất khuất đến bất diệt trước sự


Thầy giáo giơ cao một tờ giấy trắng, trên đó có một vệt đen dài và đặt câu
hỏi với học sinh:
- Các em có thấy gì không?
Cả phòng học vang lên câu trả lời:
- Đó là một vệt đen.
Thầy giáo nhận xét:
- Các em trả lời không sai. Nhưng không ai nhận ra đây là một tờ giấy trắng
ư?
Và thầy kết luận:
- Có người thường chú tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhặt của người khác mà
quên đi những phẩm chất tốt đẹp của họ. Khi phải đánh giá một sự việc hay một
con người, thầy mong các em đừng quá chú trọng vào vết đen mà hãy nhìn ra tờ
giấy trắng với nhiều mảng sạch mà ta có thể viết lên đó những điều có ích cho
đời.’’
(Trích Quà tặng cuộc sống - Dẫn theo )
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong
văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Trong lời khuyên của thầy giáo, hình ảnh “vết đen” tượng
trưng cho điều gì?
Câu 3 (1 điểm). Nội dung chính mà văn bản trên muốn đề cập đến là gì? Dựa
vào nội dung đó, hãy đặt cho văn bản một nhan đề khác.
Câu 4 (1 điểm). Theo anh/chị, việc chỉ “chú tâm đến những lỗi lầm nhỏ nhặt
của người khác mà quên đi những phẩm chất tốt đẹp của họ” thể hiện một cách
đánh giá con người như thế nào?
Đáp án:
Câu
Nội dung
Điểm
1

“Mẹ ơi những ngày xa
Là con thương mẹ nhất
Mẹ đặt tay lên tim
Có con đang ở đó.
Như ngọt ngào cơn gió
Như nồng nàn cơn mưa
Với vạn ngàn nỗi nhớ
Mẹ dịu dàng trong con.”
(Trích Mẹ dặn - Đỗ Nhật Nam,
Hát cùng những vì sao, NXB Lao động 2016, trang 59)
Câu 1 (0,5 điểm). Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích
trên là gì?
Câu 2 (0,5 điểm). Xác định các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong
đoạn trích trên.
Câu 3 (1 điểm). Bức thông điệp mà đoạn thơ gửi đến là gì?
Câu 4 (1 điểm). "Mẹ đặt tay lên tim
Có con đang ở đó".
Em hiểu thế nào về hai dòng thơ trên ?
Đán án:
Câu
Nội dung
Điểm
1
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên
0,5
là biểu cảm.
2
Từ láy: nồng nàn
0,5
Từ ghép: nỗi nhớ; điệp từ: như

Bạn không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho ba và nấu ăn
rất ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá
trị có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải nhận ra những giá trị đó...
(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân)
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn
trích.
Câu 3 (1,0 điểm). Em hiểu thế nào về câu: “Chắc chắn, mỗi một người trong
chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn.’’
Câu 4 (1,0 điểm). Rút ra thông điệp ý nghĩa nhất với bản thân từ đoạn trích
trên.
Kết quả thu được như sau:

9A


số
25

9B

27

Lớp

Giỏi
SL
%
4
16,0


3

11,1

Kém
SL
%
0
0
0

0

Từ kết quả trên tôi nhận thấy nếu giáo viên thường xuyên rèn luyện kĩ năng
làm bài đọc hiểu văn bản cho học sinh trong các giờ ôn tập Văn học, các tiết hoạt
động Ngữ văn… các em sẽ đạt kết quả cao khi làm bài.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Như vậy, với hệ thống kiến thức và kĩ năng trên, giáo viên không phải mất
nhiều thời gian hướng dẫn học sinh giải từng đề cụ thể, mà chỉ cung cấp cho các em
“chìa khóa” để đọc hiểu văn bản. Chìa khóa đó là một hệ thống những kiến thức, kĩ
năng cần thiết để các em sử dụng trong quá trình đọc hiểu văn bản thông
thường. Khi học sinh đã có một nền tảng kiến thức cơ bản, thì giáo viên chỉ cần
mình họa bằng một số đề cơ bản. Từ đó, học sinh hoàn toàn có thể chủ động, tự tin
khi đứng trước các hiện tượng văn học. Đặc biệt đối với học sinh lớp 9 lại càng
quan trọng và cần thiết để các em tự tin hơn khi bước vào kì thi tuyển sinh vào lớp
10 Trung học phổ thông.
Với đề tài này, giáo viên có thể áp dụng ở tất cả các lớp cấp Trung học cơ sỏ
trong các buổi bồi dưỡng, phụ đạo học sinh. Để đạt hiệu quả cao có thể dạy bài này

7. Bài tập trắc nghiệm Ngữ văn 9
8. Bài tập rèn kĩ năng tích hợp Ngữ văn 9
9. Hướng dẫn trọng tâm ôn luyện thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
10.Tuyển tập 36 đề ôn luyện thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
11. Nguồn In-tơ-net

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status