Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả dự án đầu tư - Pdf 57


TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

ThS. LÊ CÔNG HOÀNG
Bộ môn Kinh tế vận tải
Khoa Vận tải – Kinh tế
Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt: Bản chất của các dự án đầu tư là lợi ích và chi phí của chúng thường xảy ra
vào các giai đoạn khác nhau. Bởi vì một số tiền có được hiện tại được coi là có giá trị cao hơn
cùng một số tiền như vậy nhận được trong tương lai, các chi phí và lợi ích đến sớm hơn về mặt
thời gian cần phải được được coi như có trọng lượng lớn hơn và các chi phí và lợi ích đến
muộn hơn có trọng lượng thấp hơn. Sở dĩ giá trị lớn hơn được đặt vào có lợi ích và chi phí
hiện tại hơn là tương lai là bởi vì tiền có được bây giờ cho phép sử dụng để đầu tư có lãi hay
tiêu dùng trong khoảng thời gian giữa hiện tại và tương lai.
Summary: The nature of investment projects is their benefits and costs often occur as per
different time scales. An amount of money obtainable now holds a higher value than the same
sum in the future, therefore, costs and benefits that come earlier should be regarded as those
of a larger amount, and vice versa. The reason is that the money obtainable at present can
allow for investment or spending between now and future. CT 2
I. KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên sử dụng cụm từ: “đầu tư”, nó như một
cụm từ dễ hiểu và thông dụng, được sử dụng trong mọi lĩnh vực và trong nhiều tình huống khác
nhau. Nhưng chúng ta có thực sự hiểu đầu tư là gì? Quan niệm về đầu tư thì có rất nhiều, và để
đưa ra được khái niệm đầu tư là gì cũng xảy ra rất nhiều tranh cãi. Nhưng ở hiện tại, hầu hết các
nhà kinh tế học cũng như những nhà hoạch định chính sách và nghiên cứu kinh tế, tài chính đều
thống nhất hai khái niệm chính về đầu tư như sau:
Một là: đầu tư là việc sử dụng tiền hoặc nguồn vốn để sinh ra lợi nhuận.

vào n năm trong tương lai sẽ có hiện giá B(1+r)
n
usd. Suất chiết khấu r càng cao và thời gian có
được số tiền càng lùi xa vào tương lai, thì hiện giá của nó càng nhỏ.
Hiện giá lợi ích ròng (Net Present Value, NPV) của một dòng các lợi ích ròng trong tương
lai, (B
0
- C
0
), (B
1
- C
1
), (B
2
- C
2
),..., (B
n
- C
n
) có thể được diễn tả bằng đại số như sau:
()
()
( )
()
( )
()
n
nn


=
n
0t
t
tt
0
r
r1
CB
NPV
(2)
Trong đó: n là thời gian hoạt động của dự án. Biểu thức 1/(1+r)
t
thường được gọi là hệ số
chiết khấu cho năm thời gian.
Khi đánh giá hiệu quả dự án đầu tư bằng Tiêu chuẩn hiện giá lợi ích ròng (NPV), cần lưu ý
những vấn đề sau:
1. Khi nào thì bác bỏ dự án
Bước đầu tiên để tính hiện giá của dự án đầu tư là phải trừ tất cả các chi phí ra khỏi tổng lợi
ích của mỗi giai đoạn để có được lợi ích ròng.
Thứ hai là chọn một suất chiết khấu thể hiện được chi phí cơ hội của vốn khi dùng cho
những việc khác của nền kinh tế, do đó quy ra một chi phí của vốn cho mỗi dự án bằng với lợi
ích phải từ bỏ. Khi hiện giá lợi ích ròng của một dự án được tính theo các tiêu chuẩn kinh tế, thì
hiện giá lợi ích ròng dương có nghĩa là dự án này sẽ làm cho nền kinh tế tốt hơn, hiện giá lợi ích
ròng âm sẽ làm cho nền kinh tế tệ hơn. Chính ý nghĩa này của tiêu chuẩn hiện giá lợi ích ròng đưa chúng ta đến cách diễn tả thứ nhất của tiêu chuẩn này, và điều này luôn luôn đúng trong
mọi hoàn cảnh.

Dự án E tốn 1 triệu đô-la, NPV là +$60.000
Dự án F tốn 3 triệu đô-la, NPV là +$400.000
Dự án G tốn 2 triệu đô-la, NPV là +$150.000
Dự án H tốn 2 triệu đô-la, NPV là +$225.000
Với hạn chế ngân sách là 4 triệu đô-la, ta phải cân nhắc tất cả những kết hợp khả dĩ của các
dự án sao cho vừa sát trong giới hạn này. Kết hợp FG và FH là không thể được, vì chi phí của
chúng quá lớn. Kết hợp EG và EH nằm trong giới hạn của ngân sách, nhưng kết hợp EF lại nổi
bật với tổng NPV là $460.000. Chỉ còn một kết hợp khác nằm trong giới hạn ngân sách là GH,
nhưng tổng NPV là $375.000, không cao bằng NPV của cặp EF. Nếu giới hạn ngân sách được mở rộng ra 5 triệu đô-la, thì ta bỏ dự án E và làm dự án H cùng với dự án F. Trong trường hợp
này, hiện giá lợi ích ròng của nhóm dự án (H và F) sẽ là $625.000, lớn hơn hiện giá lợi ích ròng
của nhóm tốt thứ nhì (F và G) là $550.000.
Giả sử là dự án E, thay vì có NPV là +$60.000, nay có NPV là -$60.000. Nếu giới hạn
ngân sách vẫn là 4 triệu đô-la, thì chiến lược tốt nhất vẫn là chỉ thực hiện dự án F với hiện giá
lợi ích ròng là +$400.000. Trong trường hợp này, 1 triệu đô-la còn lại của ngân sách nên được
đem ra sử dụng ở thị trường vốn cho dù là chính giới hạn ngân sách đang cản trở ta không cho
thực hiện các dự án có tiềm năng tốt như G và H. Khi suất chiết khấu đã thể hiện đầy đủ chi phí
cơ hội của vốn công quỹ, thì ta phải bác bỏ sự lựa chọn các nhóm dự án mà tổng hiện giá lợi ích
ròng giảm đi, cho dù ngân sách vẫn có đủ vốn để thực hiện các dự án này.
3. So sánh các dự án loại trừ lẫn nhau
Rất nhiều khi trong công tác thẩm định dự án ta gặp phải những tình huống phải lựa chọn
giữa những dự án thay thế nhau có nghĩa là nếu thực hiện dự án này thì phải bỏ dự án kia. Vì lý
do kỹ thuật, có thể không thể thực hiện được cả hai dự án. Ví dụ, khi làm một con đường nối hai
thị trấn, có nhiều mức chất lượng khác nhau của con đường này; tuy nhiên người ta chỉ có thể
làm một con đường. Tương tự như vậy, một miếng đất xây dựng không thể dùng cho hai mục
đích khác nhau vào cùng một lúc. Do đó, vấn đề mà nhà phân tích đầu tư gặp phải là phải lựa
chọn trong những dự án loại trừ lẫn nhau một dự án mang lại hiện giá lợi ích ròng lớn nhất.
Điều này có thể diễn tả dưới dạng quy tắc sau:

Trong một số trường hợp, việc đầu tư vào một phương tiện như một con đường có thể được
thực hiện thông qua một loạt các dự án ngắn hạn hoặc một hay nhiều dự án dài hạn hơn. Nếu lợi
ích thu về từ việc mở rộng phương tiện này trong toàn bộ đời hữu dụng của nó như thể là một
cơ hội đầu tư có hiện giá lợi ích ròng dương, nó sẽ là không có ý nghĩa gì khi ta đem so sánh
hiện giá lợi ích ròng của một dự án cung cấp các dịch vụ đường sá trong toàn bộ đời hữu dụng
của dự án với hiện giá lợi ích ròng của một dự án cung cấp các dịch vụ đường sá chỉ cho một
thời gian ngắn nếu ta dự kiến rằng dự án ngắn này sẽ được lặp đi lặp lại.
Vấn đề tương tự như vậy cũng nảy sinh trong việc thẩm định các chiến lược đầu tư khác
nhau cho việc sản xuất điện năng. Sẽ là không đúng khi ta đem so sánh hiện giá lợi ích ròng của
một nhà máy tua-bin khí có tuổi thọ 10 năm với một nhà máy dùng than có tuổi thọ 30 năm, nếu
ta dự kiến rằng trong suốt thời gian 30 năm này, sự khan hiếm của các nhà máy điện sẽ dẫn đến
suất thu hồi cao hơn bình thường của đầu tư vào năng suất. Trong trường hợp như vậy, chúng ta
phải so sánh các chiến lược đầu tư có thời gian hoạt động xấp xỉ nhau. Ta có thể so sánh một
chuỗi dự án nhà máy điện tua-bin khí tiếp theo là nhà máy điện loại khác mà chúng có tổng thời
gian hữu dụng bằng tuổi thọ của nhà máy điện dùng than.
Trong hầu hết các tình huống thẩm định dự án, người ta không cho rằng sự kết thúc của
một dự án ngắn hạn sẽ mang lại cho những dự án tiếp theo đó những cơ hội với suất thu hồi vốn
cao hơn bình thường. Trong trường hợp như vậy, cách thích hợp là so sánh các dự án có thời
gian hữu dụng khác nhau với các biên dạng lợi ích kinh tế ròng của tất cả các dự án đem chiết
khấu theo chi phí cơ hội kinh tế của vốn công quỹ.
CT 2
Khi người ta cho rằng các dự án với đời hữu dụng ngắn sẽ dẫn tới các dự án kế tiếp có siêu
lợi nhuận, thì việc so sánh các dự án có thể thay thế cho nhau với đời hữu dụng khác nhau mà sẽ
cung cấp những dịch vụ như nhau vào một thời điểm nhất định sẽ đòi hỏi chúng ta phải điều
chỉnh chiến lược đầu tư của chúng ta để chúng trải dài cùng một khoảng thời gian xấp xỉ bằng
nhau. Một trong những hình thức điều chỉnh như thế là xem xét cùng một dự án được lặp lại
theo thời gian cho tới khi các chiến lược đầu tư thay thế khác có cùng những khoảng thời gian
hữu dụng tương tự.
Ví dụ, giả sử chúng ta muốn làm một con đường và phải xem xét 3 loại mặt bề mặt đường:
Phương án Đời hữu dụng của đường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status