PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sinh học là môn khoa học cơ bản trong nhà trường. Sự phát triển của khoa
học kĩ thuật cho ra đời nhiều loại thiết bị hiện đại phục vụ cho nghiên cứu, kiến
thức sinh học đã và đang trở nên rộng hơn, sâu hơn. Do đó việc dạy tốt bộ môn
sinh học trở thành một nhiệm vụ rất quan trọng, song cũng gặp nhiều khó khăn,
trở ngại,…Đặc biệt bộ môn sinh học 9, với lượng kiến thức lí thuyết mang tính
khoa học hàn lâm, gây cho học sinh cảm giác ngại tiếp xúc, ngại học ngay từ
những bài đầu tiên. Với mục tiêu dạy tốt học tốt, tôi thiết nghĩ cần phải lồng
ghép giữa dạy lí thuyết với việc hình thành kĩ năng giải bài tập cho các em; nhất
là mảng bài tập di truyền.
Qua thực tế giảng dạy Sinh học 9 tại trường THCS Thiết Ống nhận thấy: các
em khá lúng túng khi làm các bài tập di truyền phân tử có liên quan đến các liên
kết hóa học. Mặt khác, thời lượng số tiết trên tuần của bộ môn ít (2tiết/tuần), chỉ
có 1-2 tiết bài tập/ 1 học kì gây khó khăn không nhỏ cho giáo viên giảng dạy bộ
môn Sinh học khi hỗ trợ các em giải bài tập di truyền nói chung và bài tập về
liên kết hóa học nói riêng. Thông thường việc này chỉ có thể thực hiện với nhóm
học sinh ôn thi đội tuyển học sinh giỏi tuy vậy cũng mất không ít thời gian của
cả thầy lẫn trò. Do đó trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, mỗi giáo viên phải
có những sáng tạo riêng trong phương pháp hướng dẫn học sinh cách khai thác
và hệ thống các dạng bài tập.
Từ quá trình dạy học sinh học lớp 9 và bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi đã rút ra
một số kinh nghiệm "Khai thác và phân dạng bài tập về liên kết Hidro của
axit deoxiribonucleic trong chương trình sinh học lớp 9 Trường THCS Thiết
Ống, huyện Bá Thước”. Với mong muốn giúp các em giải bài tập về liên kết
Hidro của axit deoxiribonucleic (ADN)- bài toán di truyền phân tử - hướng tới
đối tượng là học sinh ôn đội tuyển thi học sinh giỏi. Ngoài ra tôi cũng sử dụng
một số dạng bài cơ bản trong giảng dạy chính khóa môn sinh học 9 với mục đích
củng cố và hệ thống kiến thức lí thuyết cho học sinh đại trà. Từ đó tạo sự hứng
thú, phát huy tính tích cực chủ động của các em trong học tập, các em không còn
ngại học môn Sinh học đồng thời nâng cao chất lượng bộ môn.
tượng thực tiễn quen thuộc thường gặp hàng ngày đối với 2 đối tượng là thực vật
và động vật; ở giai đoạn 2 ( lớp 8 và lớp 9) khả năng tư duy của các em đã phát
triển, đã có một số hiểu biết ban đầu về khái niệm cũng như các kiến thức lí
thuyết mang tính hàn lâm cao, đòi hỏi tính tư duy lôgic biện chứng. Do đó việc
học tập môn sinh học ở lớp 9 có yêu cầu cao hơn, nhất là một số bài tập tính
toán phần di truyền phân tử.
Các bài tập về di truyền phân tử là những bài tập hay, lý thú và có tính tư
duy toán học cao. Để giải các bài tập này học sinh phải có được hai vấn đề là có
am hiểu cơ bản về kiến thức môn sinh học liên quan và có kiến thức, kĩ năng về
toán học (công cụ). Việc giải quyết hai vấn đề này phụ thuộc vào cách dạy của
giáo viên.
Những bài tập về di truyền phân tử ở lớp 9 được khai thác ở chương III và
chương IV. Mặc dù học sinh đã được trang bị kiến thức cơ bản về phân tử và
nguyên tố hóa học từ môn hóa học lớp 8 tuy nhiên đây chỉ là những khái niệm
cơ bản, những kiến thức hết sức sơ đẳng cho nên những bài tập loại này vẫn còn
mới lạ đối với các em, mặc dù không quá phức tạp đối với học sinh lớp 9 nhưng
vẫn cần tập dần cho các em có kỹ năng định hướng bài giải một cách có hệ
thống, khoa học, dễ dàng tiếp nhận và giải quyết các bài toán di truyền đa dạng
hơn ở cấp THPT cũng như khi đi sâu vào nghiên cứu Chuyên ngành ở các
trường chuyên nghiệp về sau này.
Đối với việc hướng dẫn học sinh làm bài tập ở các môn tự nhiên nói chung
và môn sinh học 9 nói riêng thì giáo viên thường dạy theo chủ đề.
Với bản thân tôi khi dạy theo cách này thường tiến hành theo các bước sau:
- Trước hết giáo viên phải dạy cho học sinh nắm được các kiến thức sinh
học cơ bản liên quan đến chủ đề.
2
- Trên cơ sở đó, phân tích một bài tập cụ thể để xây dựng hệ thống công
thức có liên quan.
Trước đây (trước năm học 2014-2015) khi chưa vận dụng sáng kiến này vào
dạy bồi dưỡng học sinh khá giỏi lớp 9, tôi có ra đề khảo sát học lực của học sinh
đội tuyển ôn thi đối với các dạng bài tập như sáng kiến này. Kết quả thu được
thống kê qua bảng sau:
Bảng 1
Năm học
Tổng số
HS
2012-2013
86
XL giỏi
SL
%
0
0.0
XL khá
SL
%
22
25.6
XL TB
SL
%
48
Trước khi vận dụng sáng kiến này thì kết quả thi học sinh giỏi các cấp còn
thấp. Cụ thể:
Bảng 2
Năm học
Sl học sinh dự
Giải thi cấp huyện
Giải thi cấp tỉnh
thi cấp tỉnh
Năm học 2012-2013
2
0
0
Năm học 2013-2014
5
2
0
Xuất phát từ những hạn chế trong kết quả thi học sinh giỏi, tôi đã tự rút
kinh nghiệm, vận dụng sáng kiến này nhằm cải tạo thực trạng trên qua việc khai
thác và phân dạng bài tập về liên kết Hidro của axit deoxiribonucleic (ADN)
trong chương trình sinh học lớp 9 Trường THCS Thiết Ống, huyện Bá Thước.
3. Các giải pháp đã sử dụng để khai thác và phân dạng bài tập về liên
kết Hidro của axit deoxiribonucleic (ADN) trong chương trình sinh học lớp
9 Trường THCS Thiết Ống, huyện Bá Thước:
Để triển khai chủ đề bài tập về liên kết Hidro trong các buổi ôn thi học sinh
giỏi đạt hiệu quả, bản thân tôi đã nghiên cứu sách giáo khoa trước khi soạn bài,
tham khảo các tài liệu nâng cao giành cho giáo viên và học sinh; các đề thi học
sinh giỏi các cấp; các chuyên đề sinh học 9. Trên cơ sở đó tôi đã biên soạn thành
hệ thống nội dung kiến thức và bài tập theo mạch kiến thức từ dễ đến khó sao
cho phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với mạch tư duy logic của các em gây được sự hứng thú đối với học sinh.
Ngoài những kiến thức trong sách giáo khoa, khi đưa các đơn vị kiến thức
Nu trên 2 mạch với nhau là liên kết Hidro.
- ADN có đặc tính tự nhân đôi (tự sao):
Quá trình này gồm các giai đoạn sau:
+ Đầu tiên 2 mạch của ADN nhờ các enzim gọi là helicaza, các enzim này
phá vỡ các liên kết hidro giữa các bazo nhờ năng lượng giải phóng từ sự thủy
phân các nucleozit 5’triphotphat. Các protein SSB gắn lên các đoạn mới được
tách làm 2 mạch đơn không kết hợp lại được.
+ Tổng hợp đoạn mồi ARN.
+ Tổng hợp các mạch mới nhờ enzim polimeraza III.
Các nucleotit của môi trường nội bào liên kết với các nucleotit ở mạch
khuôn theo nguyên tắc bổ sung: A-T, G-X.
- ADN có thể bị đột biến, các đột biến xảy ra trong quá trình tự sao của
phân tử ADN, dẫn đến hình thành gen mới khi liên quan đến một hoặc một số
cặp Nu; từ đó cũng dẫn đến sự thay đổi trong cấu trúc của ADN làm thay đổi số
lượng các liên liên kết Hidro.
3.1.2. Kiến thức về liên kết Hidro của axit deoxiribonucleic (ADN):
- Liên kết Hidro là một dạng liên kết hóa học yếu, đóng vai trò rất quan
trọng trong cơ thể sống. Nhờ liên kết này đã hình thành nên cấu trúc không gian
của các đại phân tử sống cơ bản như ADN, Protein, Lipit,…
- Liên kết Hidro giữa 2 mạch đơn của ADN theo nguyên tắc bổ sung, 1
purine - đơn phân có kích thước lớn (A hoặc G) của mạch đơn này với 1
pyrimidine- đơn phân có kích thước bé (T hoặc X) của mạch đơn bên kia; Cụ
thể: A liên kết với T bằng 2 liên kết hidro còn X liên kết với G bằng 3 liên kết
hidro. Điều này đảm bảo được khoảng cách đều đặn giữa 2 mạch đơn.
- Với đặc tính là liên kết yếu nên liên kết Hidro có thể bị phá vỡ dễ dàng
trong quá trình nhân đôi ADN và phiên mã gen. Tuy vậy chuỗi xoắn kép ADN
có sự tương tác liên kết hiđro giữa các cặp bazơ lân cận làm cho phân tử ADN
khi ở trạng thái xoắn kép sẽ bền vững hơn. Thêm vào đó, mỗi phân tử ADN có
một số lượng lớn nhất định các liên kết hidro cho nên dù bị chuyển động nhiệt
5
Hướng dẫn giải
- Từ công thức tính chiều dài của gen L = (N/2)3,4
Suy ra số nucleotit của gen là: N = (L: 3,4)2 = (5100 : 3,4)2 = 3000 Nu
- Xác định số nucleotit của từng loại đơn phân:
A = 20%N = 600 Nu
G = (50%-20%)N = 900 Nu.
- Số liên kết hidro (H):
Vì :
A của mạch này nối với T của mạch kia bằng 2 liên kết hidro và ngược lại
G của mạch này nối với X của mạch kia bằng 3 liên kết hidro và ngược lại
6
Mặt khác, dựa vào hệ quả của NTBS, trong phân tử ADN số lượng Nu
loại A luôn bằng số lượng Nu loại T, số lượng Nu loại G luôn bằng số lượng Nu
loại X (A = T và G = X)
Do vậy số liên kết Hidro (H) được xác định như sau:
H = 2A + 3G = 2 x 600 + 3 x 900 = 3900 (liên kết).
Xây dựng công thức tổng quát:
* Tính số liên kết Hidro ( H ) trong phân tử AND:
Với H là số liên kết Hidro, A số lượng đơn phân Adenin (A = T); G là số
lượng đơn phân Guanin (G = X)
Số liên kết Hidro (H) của ADN được xác định như sau:
H = 2A + 3 G hoặc H = 2T + 3X
Vì N = A + T + G + X = 2A + 2G
Nên số liên kết Hidro còn dược xác định theo công thức sau:
H=N+G
Hệ quả: (có thể hiểu là loại bài toán nghịch của dạng bài toán trên):
Căn cứ vào công thức tính số liên kết hidro trong phân tử ADN
nhân đôi k lần là:
Gmt = (2k – 1) Ggen
6300 = (2k – 1)900
Suy ra (2k – 1) = 6300: 900 = 7
2k = 8
Vậy k = 3
- Xác định số liên kết H:
+ Số liên kết H bị phá hủy trong quá trình nhân đôi của gen:
Khi ADN tự nhân đôi hoàn toàn 2 mạch ADN tách ra, các liên kết hidro
giữa 2 mạch nên số liên kết hidro bị phá vỡ bằng số liên kết hidro của AND ban
đầu.
ADN tự nhân đôi 3 lần:
Lần 1: Có 1 phân tử ADN
Số liên kết H bị phá vỡ = số liên kết H của ADN = H = 20H
Lần 2: Có 21 = 2 phân tử ADN mới được tạo ra
Số liên kết H bị phá vỡ = số liên kết H của 2 ADN = 2H = 21H
Lần 3: Có 22 = 4 phân tử ADN mới được tạo ra
Số liên kết H bị phá vỡ = số liên kết H của 4 ADN = 4H = 22H
Vậy tổng số liên kết Hidro bị phá hủy sau 3 lần tự nhân đôi là:
�H
bị phá vỡ = 1H + 2H + 4H = (20 + 21 + 22)H = (23 - 1)H
= (23 - 1)(2A + 3G) = 7 x 3900 = 27300 (liên kết)
+ Số liên kết Hidro được hình thành trong quá trình gen nhân đôi:
Mỗi mạch đơn của ADN đều nối các nu tự do theo NTBS bằng các liên
kết hidro nên số liên kết Hiđro được hình thành là tổng số liên kết Hiđro của 2
ADN con. Do đó số liên kết Hidro được hình thành trong quá trình nhân đôi
chính là số liên kết Hidro của tất cả các gen con vừa được tạo ra sau 3 lần tự
�H hình thành = H2n
(liên kết)
3.2.3. Bài toán đột biến gen – liên quan đến rối loạn quá trình tự sao
chép của ADN
Bài tập cơ sở 3 : Trong phân tử ADN, ađênin (A) liên kết với timin (T) bởi
2 liên kết hiđrô và xitôzin (X) liên kết với guanin (G) bởi 3 liên kết hiđrô.
a) Tính số liên kết hiđrô của gen khi biết:
A + G = 700 nuclêôtit và A - G = 100 nuclêôtit.
b) Số liên kết hiđrô của gen thay đổi như sau:
-Trường hợp 1 : Mất một cặp nuclêôtit.
-Trường hợp 2: Thêm một cặp nuclêôtit.
-Trường hợp 3: Thay thế một cặp nuclêôtit này bằng một cặp nuclêôtit
khác.
Thảo luận:
- Đối với câu a học sinh áp dụng công thức tính số liên kết Hidro đã được
xây dựng từ bài toán cơ sở 1 để tính.
- Đối với câu b để xác định số liên kết Hidro của gen đã thay đổi như thế
nào qua mỗi loại đột biến học sinh phải nhớ lại đặc điểm củ từng loại đột biến.
Hướng dẫn giải:
a. Số liên kết hiđrô của gen:
Xác định giá trị A, G: A + G = 700 Nu (1)
A – G = 100 Nu (2)
Giải hệ 2 phương trình ta được: A = 400Nu ; G = 300 Nu
- Số liên kết Hidro:
H = 2A + 3G = 2 x 400 + 3 x 300 = 1700 (liên kết)
9
Bài 1. Một đoạn phân tử ADN có 270 nucleotit loại G và tỉ lệ A = 1/3X.
Phân tử này có bao nhiêu liên kết hidro?
( Trích BT cuốn PP giải bài tập di truyền và sinh thái lớp 9/ Lê Ngọc Lập/ Nhà
xuất bản Giáo dục)
Lược giải
- Số lượng các loại Nu:
G = X = 270 Nu; A = T = 90 Nu
- Số liên kết hidro trong phân tử AND:
A liên kết với T bằng 2 liên kết hidro
10
G liên kết với X bằng 3 liên kết hidro
H = 2A + 3G = 2 x 90 + 3 x 270 = 990 (liên kết).
Bài 2. Cho biết gen của một loài động vật có tỉ lệ (A+T)/(G+X) = 1,5 và
có 3.109 cặp Nu. Tính tổng số liên kết hidro có trong bộ gen của loài ? (Sưu tầm)
Lược giải
- Từ tỉ lệ (A+T)/(G+X) = 1,5 suy ra A = 1,5G hay 2A = 3G (*)
Tổng số Nu của gen là 3.109 cặp = 6.109 Nu
N = 2A + 2G = 6.109 Nu (**)
Thay (*) vào (**) ta được: N = 3G + 2G = 6.109 Nu
Suy ra G = 6.109 : 5 = 1,2.109 Nu
Vậy X = G = 12.108 Nu; T = A = 18.108 Nu
- Tổng số liên kết Hidro của gen là : H = 2A+ 3G = 72.108 (liên kết).
* Luận bàn: Đối với loại bài toán thuận được minh họa thông qua 2 bài tập
trên đây, có thể xem là dạng đơn giản vì lẽ học sinh chỉ cần thay số vào công
thức để tính. Tác dụng của những bài toán này là nhằm giúp các em củng cố
phần kiến thức lí thuyết, tự xây dựng được công thức và tạo tiền đề cho các bài
toán phức tạp hơn. Dạng bài tập này tôi thường sử dụng để giúp học sinh giỏi
bắt đầu tiếp cận với chủ đề bài học;sử dụng vào tiết bài tập và ôn tập trong giờ
H2 = 2230 – 160 = 2070 (liên kết hiđrô)
* Luận bàn: Bài tập số 3 này so với 2 bài tập trên có điểm khác là bài này
xét với đồng thời 2 gen, thông tin về liên kết Hidro của mỗi gen cũng là cơ sở để
học sinh xác định số Nu từng loại của mỗi gen. Như vậy, để làm được bài tập
này bên cạnh ghi nhớ công thức còn đòi hỏi học sinh kĩ năng tư duy toán học,
biến đổi và vận dụng linh hoạt các công thức tính toán đã được xây dựng về liên
kết Hidro.Với những bài tập như bài 3 này chủ yếu được sử dụng cho đối tượng
học sinh ôn thi đội tuyển học sinh giỏi .
* Loại bài toán nghịch:
Bài 4. Một gen có 1464 liên kết Hiđrô và trên mạch 1 của gen có
A1 = 36%; T1 = 20%. Hãy tính chiều dài của gen?
( Trích BT trong cuốn PP giải bài tập di truyền và sinh thái lớp 9/ Lê Ngọc
Lập/ Nhà xuất bản Giáo dục)
Lược giải
Tính chiều dài của gen:
Xác định số Nu của gen:
A = A1 + A2 = T1 + T2 (*)
Theo nguyên tắc bổ sung ta có: A1 = T2; A2 = T1 Thay vào (*) ta được:
A = A1 + T1 = (36%+ 20%): 2 = 28%
Suy ra, A = T = 28%N và G = X = 22%N
- Từ công thức tính số liên kết hydro: H = N + G Với G = 22% N
Nên H = 1,22N = 1464 suy ra N = H : 1,22 = 1200 Nu
Chiều dài của gen: L = (N/2)x 3,4 = 2040 (Ǻ)
* Luận bàn: Đề bài cho biết giá trị của liên kết Hidro và tỉ lệ phần trăm của
2 loại Nu trên một mạch, từ cơ sở này học sinh thành lập lại các công thức, xác
định mối liên hệ giữa các giá trị đã biết tìm ra giá trị N, từ đó tính ra chiều dài
của gen. Như vậy bài này có thể phát triển thành dạng bài phổ quát: không chỉ
tính giá trị L(chiều dài), mà còn xác định các giá trị khác như:khối lượng gen
(M), số chu kì xoắn (C),…
Bài 5. Xét một cặp nhiễm sắc thể tương đồng chứa một cặp gen dị hợp
N/20 = (2A + 2G)/20 = (A + G)/10
Số liên kết H giữa các cặp A - T = 2A, theo giả thiết ta có:
(A + G ) /10 = 2A
G = 19A (1)
Số liên kết H trong phân tử ADN : 2A + 3G = 531.104 (2)
Thế (1) vào (2) giải ra ta có A = 9.104 = T
G = X = 171.104.
b. Khối lượng của ADN : N.300C = 2( 9.104 + 171. 104) x 300 = 108.107
đvC
c. Số lần tái bản của ADN:
Gọi k là số lần tế bào của ADN (Đk: k thuộc số nguyên dương)
Số A cung cấp: 9.104 ( 2k - 1) = 1143 . 104
2k = 128
k=7
* Luận bàn: Với bài này xét với 1 phân tử ADN xong yêu cầu học sinh là
phải tổng hợp cả kiến thức về cấu trúc và cơ chế tự sao của ADN; điểm thú vị là
bài toán tách 2 loại liên kết hidro của cặp A-T với cặp G-X giúp học sinh củng
cố và khắc sâu lại kiến thức về liên kết hóa học này.
13
Bài 7*: Gen cấu trúc có 150 vòng xoắn và có tích giữa hai loại nuclêôtit
không bổ sung là 6%, số liên kết hiđrô của gen nằm trong khoảng từ 3500 đến
3600.
Tỉ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit của gen? (Sưu tầm)
Lược giải
Tỉ lệ % từng loại Nuclêôtit của gen:
- Gọi A và G là hai loại nucleêôtit không bổ sung.
Theo đề ra ta có: A . G = 6% = 0,06
(1)
14
A + G = 50% Nuclêôtít
suy ra 2A = 80 % Nuclêôtít
A = T= 80% : 2= 40 % Nuclêôtít
G = X =50% - 40 %= 10% Nuclêôtít
Mặt khác số liên kết Hiđrô của gen là 2805, ta có: 2A+ 3G = 2805 (liên kết)
Hay: 2 x 40% N + 3 x 10% N = 2805 (liên kết)
Suy ra 110%N = 2805
N = 2550 Nu
* Vậy số Nuclêôtít mỗi loại là: A = T = 40% x 2550 = 1020 Nu
G = X= 10% 2550 = 255 Nu
c. Số liên kết hiđrô trong các gen con:
Số liên kết hiđrô bị phá hủy: H(22 -1) = 8414 (liên kết).
Tổng số liên kết hiđrô trong các gen con được tạo ra là:
2805 x 22 = 11220 (liên kết).
Bài 9. Một nhóm gồm 3 phân tử ADN (mạch kép) giống nhau tiến hành
nhân đôi một số lần liên tiếp, môi trường đã cung cấp 46500 Nu loại T. Xác định
tổng số liên kết hidro trong các gen con được hình thành. Biết rằng mỗi phân tử
ADN có 4000 liên kết hidro giữa các Nu ở 2 mạch và có G = 2A. (Sưu tầm)
Lược giải
- Tính số Nu của mỗi phân tử ADN:
Số liên kết hidro: H = 2A + 3G = 4000 liên kết (1) mặt khác G = 2A (2)
Thay (2) vào (1) ta được: H = 2A + 3 x 2A = 4000
suy ra A = 4000 : 8 = 500 Nu.
Vậy: T = A = 500 Nu; X = G = 1000 Nu
- Xác định số lần nhân đôi của 3 phân tử ADN:
- Tính số liên kết Hydro bị phá hủy sau 3 lần tự nhân đôi:
(2k – 1)H = 19.320 (liên kết).
* Luận bàn: Đối với bài tập dạng này đòi hỏi học sinh phải nắm vững cơ
chế tự nhân đôi của ADN từ đó vận dụng sang giải bài tập. Phân biệt được số
liên kết bị phá hủy so với số Hidro được hình thành.
Dạng 3. Bài toán đột biến gen – liên quan đến rối loạn quá trình tự sao
chép của AND
Bài 11. Gen D có 186 Nu loại G và 1068 liên kết hydro. Gen đột biến d
hơn gen D một liên kết hidro nhưng chiều dài 2 gen bằng nhau.
Đột biến liên quan đến bao nhiêu cặp Nu và thuộc dạng nào của đột biến gen?
Lược giải
Chiều dài 2 gen D và d bằng nhau nên đây là dạng đột biến thay thế.
Liên kết hidro tăng thêm 1 như vậy 1 cặp A - T đã được thay thế bằng 1 cặp
G- X.
Bài 12. Một gen dài 5100 Ǻ có A = 2G. Một đột biến liên quan tới 1 cặp
nucleotit làm thay đổi 1 liên kết hidro nhưng không làm thay đổi chiều dài gen.
Gen đột biến tự nhân đôi một số lần cần môi trường cung cấp 3507 nucleotit loại
G. Xác định dạng đột biến và số nucleotit mỗi loại cung cấp cho quá trình tái
bản trên của gen đột biến. (Sưu tầm)
Lược giải
Gen ban đầu
Số nucleotit của gen ban đầu
N = (L/3,4) x 2 = (5100Ao/3,4 ) x 2 = 3000 (nucleotit)
A + G = 3000/2
A = 2G => A = T = 1000 (nucleotit)
G = X = 500 (nucleotit)
Gen đột biến:
16
2A + 3G = H
2.40 + 3G = 185 Nên
Vậy: A = T = 40 Nu
G=
(185-80):3 = 35 Nu
G = X = 35 Nu
* Xét đoạn gen sau đột biến:
- Số lượng nuclêôtit của gen sau đột biến:
2400 + ( 40 + 35 )2 = 2550 Nu
- Chiều dài của gen sau đột biến:
L = N/2 x 3,4 Ǻ = 2550/2 x 3,4 Ǻ = 4335 (Ǻ)
17
* Luận bàn: Bài tập này ngoài liên kết Hidro, còn đề cập đến một loại liên
kết khác cũng rất điển hình của Axit deoxiribonuclic: liên kết cộng hóa trị. Mục
đích để các em có tư duy tổng hợp và khái quát không bó buộc trong một dạng
liên kết hóa học, khích thích khả năng tìm tòi khám phá của các em ở các dạng
toán về liên kết hóa học khác..
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Trên đây là một số bài toán minh họa cho phương pháp bồi dưỡng cho học
sinh với chủ đề khai thác và phân dạng bài tập về liên kết Hidro của axit
Deoxiribonucleic từ năm học 2014 – 2015.
Sau vài năm áp dụng các giải pháp trên tôi thấy kết quả học sinh giải bài
%
SL
%
SL
%
SL
%
2014-2015
109
8
7.3
45
41.3
47
43.1
42.6
41
43.6
4
4.2
So sánh và đối chứng với kết quả khi chưa vận dụng sáng kiến (Bảng 1):
Tôi thấy tỉ lệ xếp loại khá, giỏi tăng; yếu giảm cụ thể là:
Tỉ lệ giỏi tăng: (7.3 + 8.3 + 9.6) : 3 – 0.8 = 7.6 %
Tỉ lệ khá tăng: (41.3+ 44.8 + 42.6) : 3 – (25.6 +25.4) : 2 = 17.4 %
Tỉ lệ yếu giảm: (18.6+ 14.4) : 2 - (8.3 + 3.2 + 4.2): 3 = 7.9 %.
Kết quả thi học sinh giỏi cấp Huyện, cấp Tỉnh:
Bảng 4
18
SL học sinh dự
Giải thi cấp tỉnh
thi cấp tỉnh
2014-2015
2
1
1
2015-2016
3
2
1
2016-2017
3
2
1
rất tích cực đối với học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi của tôi: từ chỗ sợ các
bài tập về liên kết Hidro, khả năng hoàn thành bài tập thấp thì sau khi thực hiện
sáng kiến này các em tỏ ra rất hứng thú và hoàn thành bài tập một cách dễ dàng.
Trong phạm vi của SKKN này tôi chỉ có thể đề cập đến bài tập về liên kết
Hidro, trong tiến trình ôn tập và hệ thống bài tập cho học sinh tôi còn phát triển
19
Năm học
Giải thi cấp huyện
và khai thác thêm các bài tập về liên kết hóa học khác nhau (liên kết cộng hóa
trị, liên kết peptit,...) đối với mỗi loại phân tử di truyền như ADN, ARN,
Protein,... với mục đích củng cố kiến thức lí thuyết, kết hợp kiến thức sinh học
với kĩ năng tính toán và tư duy logic toán học, giảm áp lực, tránh nhàm chán cho
học sinh, kích thích tình yêu môn sinh học từ các em, gạt bỏ định kiến xem môn
sinh học là môn học thuộc đơn thuần.
2. Kiến nghị:
Đối với nhà trường: Tăng cường chỉ đạo các tổ chuyên môn tập trung đổi
mới nôi dung sinh hoạt, trong đó cần coi trọng việc thảo luận, xây dựng các
chuyên đề dạy học qua trường học kết nối.
Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo: Cần mở các chuyên đề về công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi môn sinh học theo các chuyên đề, để giáo viên có điều kiện
nâng cao phương pháp và trao đổi học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.
Với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng môn sinh
học, tôi xin mạnh dạn nêu ra sáng kiến kinh nghiệm nhỏ của bản thân đã được
áp dụng kiểm nghiệm, mang lại hiệu quả tích cực cho việc dạy học môn sinh
học tại trường, chắc chắn sáng kiến còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết. Rất mong
nhận được sự góp ý của Hội đồng khoa học, thầy cô, đồng nghiệp và các bạn để
đề tài hoàn thiện hơn.