MỤC LỤC
Tt
1
2
3
4
5
Nội dung
1. Phần mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
1.2 Mục đích nghiên cứu
1.3 Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung
2.1. Cơ sở chọn đề tài
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2.2.1 Thuận lợi
2.2.2 Khó khăn
2.3 Giải pháp thực hiện
2.3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp
2.3.2 Giải pháp chủ yếu
2.4. Kết quả thực hiện đề tài
2.4.1 Ứng dụng
3. Kết luận và kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
Danh mục viết tắt
Tài liệu tham khảo
ích, tác dụng của TDTT ( Như TDTT giúp tăng cường hệ miễn dịch, giảm stress,
tốt cho tim mạch, xương khớp, tăng cường hoạt động của các cơ quan chức năng
trong cơ thể, tạo sự phát triển cân đối để có hình thể đẹp, rèn luyện ý thức kỷ
luật…). Đối với học sinh, sinh viên ngay cả khi hiểu rõ về lợi ích, tác dụng của
TDTT thì không ít các em tham gia tiết học Thể dục với tâm lý bắt buộc phải
hoàn thành nhiệm vụ học tập. Điều đó khác hoàn toàn khi các em tham gia tiết
học với hứng thú và cảm xúc yêu thích môn học. Bởi vậy, tạo hứng thú học tập
cho học sinh là mục tiêu mà những người giáo viên có tâm huyết luôn mong
muốn và tìm tòi phương pháp để đạt được.
Giảng dạy môn Thể dục hay giáo dục thể chất trong trường học phổ
thông là một quá trình sư phạm nhằm giáo dục, rèn luyện và đào tạo học sinh
theo định hướng mục tiêu giáo dục: “Không ngừng hoàn thiện thể chất, nhân
cách và tài năng thể thao cho học sinh, nâng cao khả năng làm việc cho các em”.
Để đạt được mục tiêu trên, phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố
mang tính chất quyết định. Cùng với các môn học khác, chương trình môn TD ở
bậc THCS đã có sự đổi mới cơ bản cả về mục tiêu, nội dung và thời lượng đào
tạo. Song, sự đổi mới mang tính cách mạng nhất, sâu rộng nhất chính là đổi mới
phương pháp dạy học (ĐMPPDH). Hiện nay, ĐMPPDH không chỉ là phong trào
mà còn trở thành nhu cầu tất yếu đối với mọi giáo viên.
Riêng với môn học TD, đây là môn học có những đặc trưng, khác biệt rõ
rệt so với các môn học khác. Điều đó thể hiện ở quá trình rèn luyện kỹ năng, kỹ
xảo vận động và phát triển các phẩm chất thể lực cho học sinh. Do đặc trưng cơ
bản của môn TD là giảng dạy động tác, hiệu quả giờ TD phụ thuộc chủ yếu vào
tính tự giác, tích cực tập luyện của học sinh. Bởi thế, khi nói đến ĐMPPDH môn
TD, đổi mới như thế nào? Đổi mới đến đâu? đều phải hướng tới mục đích cuối
cùng là khơi dậy và nâng cao tính tự giác, tích cực tập luyện ở học sinh.
ĐMPPDH môn TD không có nghĩa là phải sáng tạo ra một phương pháp hoàn
toàn mới hay cố ép sự đổi mới vào giờ học theo kiểu phong trào.
Qua nhiều năm thực hiện cho thấy: ĐMPPDH đã mang lại hiệu quả giáo
dục cao, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh, đặc biệt là học sinh THCS. Bên
đất nước, yêu trường, yêu lớp, kính mến thầy cô mà còn giúp các em phát triển
khả năng tư duy, vận động, sáng tạo, khéo léo…Vì vậy việc đưa nhiều trò chơi
dân gian, đặc biệt là trò chơi dân gian vận động vào giờ học TD sẽ kích thích sự
ham thích tập luyện, tích cực tập luyện, định hình động tác nhanh và tốt hơn cho
học sinh. Tất cả những điều đó sẽ tạo lên cho học sinh một hứng thú học tập đặc
biệt, khiến các em mong chờ đến giờ TD để được học, được chơi chứ không chỉ
đơn thuần là hoàn thành nhiệm vụ học tập của một buổi đến trường.
TD là môn học mang tính chất vận động. Vì vậy, việc luyện tập để phát
triển các tố chất thể lực đòi hỏi người tập phải luyện tập nhiều và khối lượng vận
động lớn, động tác lặp đi lặp lại nhiều lần, trong khi độ tuổi học sinh THCS, đặc
biệt là học sinh lớp 7 thì rất hiếu động (nhu cầu được chơi là hết sức cần thiết).
Vì vậy, chúng ta không thể áp đặt cho học sinh hoạt động theo những động tác
đơn lẻ, cứng nhắc, thiếu sinh động, hoặc tổ chức những trò chơi thiếu tính vận
động phù hợp, điều này dẫn đến sự nhàm chán, không kích thích được nhu cầu
vận động của lứa tuổi. Để khắc phục những tồn tại trên, việc đưa vào giờ học
TD những trò chơi dân gian vận động sẽ làm biến mất sự nhàm chán, thụ động ở
học sinh. Đồng thời, đã chuyển được một lượng vận động lớn của việc luyện tập
động tác sang phương pháp tổ chức trò chơi dân gian, chắc chắn sẽ kích thích
tính tích cực, sự hứng thú luyện tập của học sinh.
Bởi những lý do trên đây, tôi đã thực hiện nghiên cứu và đưa vào ứng
dụng đề tài sang kiến kinh nghiệm: “Nâng cao hứng thú học tập môn TD cho
học sinh lớp 7 với trò chơi dân gian vận động”
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Thực tế chương trình dạy học môn TD hiện nay đã có một số trò chơi vận
động nhưng lặp đi lặp lại ở các tiết học. Bởi lẽ đó, với mong muốn nâng cao
hứng thú học tập môn TD cho học sinh đồng thời góp phần bảo tồn, lưu giữ bản
sắc văn hóa dân tộc thông qua các trò chơi dân gian. Tôi đã tìm tòi, lựa chọn,
đưa vào một số trò chơi dân gian vận động để bổ sung và biên soạn chương trình
giảng dạy môn TD cho học sinh lớp 7 nơi tôi đang công tác.
3
thực tiễn cuộc sống nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí, giao lưu văn hóa
và phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần. Trò chơi dân gian vận động là những
trò chơi dân gian có sự vận động, đua tranh về thể lực, căn cứ theo luật chơi và
có sự phân định hơn/kém, thắng/thua, được/hỏng… Từ góc độ GDTC, trò chơi
dân gian vận động là một trong những phương tiện GDTC có hiệu quả nhằm
phát triển toàn diện các tố chất thể lực cho học sinh, giúp các em có được những
giây phút vui chơi sảng khoái mà vẫn hoàn thành nhiệm vụ học tập.
Nhắc tới trò chơi dân gian, có lẽ trẻ em là đối tượng được nói đến nhiều
nhất bởi đối với các em cuộc sống không thể thiếu những trò chơi. Nhưng ở xã
hội hiện tại, chúng ta không còn nhìn thấy hình ảnh bọn trẻ túm năm tụm ba
dưới gốc cây đa, trong sân đình, đầu ngõ hay ngoài triền đê để chơi những trò
chơi dân gian quen thuộc: trốn tìm, chơi bi, mèo đuổi chuột, rồng rắn lên mây,
nhảy dây, nhảy ngựa, nhảy ô…đôi khi chỉ vài viên sỏi, mấy que tre, một quả
bưởi rụng, bông lau… mà tạo lên những trò chơi vô cùng thú vị không kém phần
hòi hộp, gay cấn, cuốn hút. Tuy trò chơi dân gian những năm gần đây đã được
quan tâm trong trường học, xong để đưa vào giờ học TD với mục đích xử dụng
4
như một bài tập bổ trợ thì còn nhiều mới lạ.
Trò chơi dân gian bao giờ cũng đi kèm với những bài đồng giao trong
sáng, nhẹ nhàng mà hóm hỉnh, lại dễ nhớ, dễ thuộc, trẻ vừa chơi vừa hát theo
câu ca càng làm cho không khí của trò chơi thêm sôi nổi, náo nhiệt. Đó là những
câu ca trong trò “Rồng rắn lên mây”: bọn trẻ xếp hàng một, tay đứa sau nắm vạt
áo đứa trước rồi tất cả lượn đi lượn lại như con rắn và hát: “Rồng rắn lên mây/
có cây xúc xắc/ có nhà khiển binh/ hỏi thăm thầy thuốc, có nhà hay không…”.
Còn trò mèo đuổi chuột thì một em đóng làm mèo, một em đóng làm chuột, tất
cả đứng thành vòng tròn, tay nắm tay dơ cao quá đầu và hát: “mèo đuổi chuột/
mời bạn ra đây/ tay nắm chặt tay/ xếp thành vòng rộng/chuột luồn lỗ hổng/mèo
chạy đằng sau/chốn đâu cho thoát/thế rồi chú chuột/lại đóng vai mèo/co cẳng
2.2.1 Thuận lợi:
Ngôi trường nơi tôi đang công tác có diện tích khá rộng, khuôn viên
trường sạch đẹp với nhiều cây xanh tạo bóng mát, có sân tập bằng phẳng sạch
5
sẽ, an toàn nên rất thuận tiện để tổ chức các hoạt động vui chơi cho học sinh.
Đặc biệt với trò chơi dân gian, chỉ cần một khoảng sân nhỏ là các em có thể tha
hồ tổ chức chơi hết trò này đến trò khác mà không cần chuẩn bị cầu kỳ với các
dụng cụ tập luyện.
Mặt khác, Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể giáo viên, nhân viên
đều rất tâm huyết với việc tạo môi trường học tập lành mạnh, vui khỏe, thân
thiện cho các em học sinh nên khi xây dựng kế hoạch đưa trò chơi dân gian vào
giờ học TD hay các hoạt động ngoại khóa tôi đều nhận được sự quan tâm, tạo
điều kiện tốt nhất từ phía nhà trường.
Một điều kiện vô cùng quan trọng là: trong PPCT môn TD có cho phép
giáo viên tự lựa chọn bài tập và trò chơi bổ trợ. VD: Tiết 16 – TD7 nội dung
phần chạy nhanh là: trò chơi, bài tập bổ trợ phát triển sức nhanh (Do GV chọn).
Từ đó, quá trình tìm tòi, nghiên cứu tôi đã có giải pháp và thực hiện việc bổ
sung nhiều trò chơi dân gian vận động phù hợp với từng nhóm đối tượng thể lực
khác nhau vào giờ học thể dục lớp 7. Vừa đổi mới hiệu quả mà lại đảm bảo đủ
nội dung theo PPCT của Bộ GD&ĐT.
2.2.2. Khó khăn:
Ngoài những điều kiện thuận lợi nêu trên, Trường THCS Minh Châu nơi
tôi công tác vẫn còn những khó khăn nhất định như là:
Đời sống văn hóa, tinh thần và vật chất của dân nhân dân trên địa bàn còn
thấp so với mặt bằng chung trong toàn huyện vì vậy phong trào rèn luyện TDTT
trong địa bàn còn chưa mạnh.
Trường còn chưa có phòng tập đa năng phục vụ cho môn thể dục vì đang
còn trong qúa trình xây dựng trường chuẩn.
Câu hỏi : Nêu cảm nhận của em về những tiết học TD? (Đánh dấu x vào ô
trả lời có hoặc không).
STT
Trả lời
Có
Không
1 Thích
2 Vui – khỏe
3 Hấp dẫn
4 Mong đến giờ học TD để được chơi trò chơi
5 Mệt mỏi, ảnh hưởng đến các môn học khác.
6 Ý kiến khác:………………………………………………………......
Kết quả điều tra:
STT
Trả lời
Có (%) Không (%)
1 Thích
84
16
2 Vui – khỏe
71
29
3 Hấp dẫn
64
46
4 Mong đến giờ học TD để được chơi trò chơi
85
15
5 Mệt mỏi, ảnh hưởng đến các môn học khác.
11
Nhóm trò chơi phát triển tố chất sức mạnh: “Kéo co”, “Chọi gà”,
“Nhảy bậc”, “Nhảy dây quăng xề”, “Nhảy dây bay”, “Nhảy ngựa”, “Chồng nụ
chồng hoa”, “Nhảy lò cò”, “Nhảy ô”…
Nhóm trò chơi phát triển sức bền: “Âm câm”, “Rồng rắn lên mây”,
“Nhẩy dây đơn”, “Bóng ngựa”, “Bóng ma”…
Nhóm trò chơi rèn luyện sự khéo léo, mềm dẻo, khả năng phán đoán
chính xác: “Nhảy dây góc”, “Bóng ma”, “Bóng ngựa”, “sít”, “Vòng quanh sô
cô la”…
Giải pháp thứ 3: Kết hợp tổ chức nhiều trò chơi trong cùng một tiết
học TD.
Với một giáo án TD thông thường chúng ta chỉ tổ chức một trò chơi trong
khoảng thời gian 5 – 10 phút. Nhưng với giáo án tổ chức trò chơi dân gian tôi đã
thực hiện đưa vào cùng lúc 4 trò chơi dân gian trong 5 -10 phút tổ chức trò chơi.
Tại sao tôi nên làm như vậy? Bởi thứ nhất, không phải tất cả các em học sinh
trong lớp cùng thích chơi một trò chơi dân gian; thứ hai với đặc tính của trò chơi
dân gian chỉ 5 – 10 em là tổ chức được một nhóm chơi ( mấy chục em cùng chơi
một trò thì lại khó tổ chức); thứ ba các em có thể tham gia chơi quay vòng nên
trong khoảng thời gian nhất định một em có thể tham gia 2, 3 hoặc thậm trí cả 4
trò chơi, thứ tư với những học sinh thể lực yếu có thể lựa chọn trò chơi phù hợp
với bản thân mà không thấy nhàm chán, mệt mỏi. Bởi vậy giáo viên chỉ cần chú
ý việc phân phối thời gian hợp lý và lựa chọn trò hơi phù hợp với nội dung bài
học để trò chơi vừa mang tính bổ trợ vừa mang tính thả lỏng, thư giãn.
VD: Tiết 21/TD 7:
- Chạy nhanh: Luyện tập nâng cao kĩ năng chạy bước nhỏ, Chạy nâng
cao đùi, Chạy đạp sau, trò chơi “Ai nhanh hơn” hoặc do GV chọn.
- Tự chọn (Nhảy dây): thực hiện theo kế hoạch giảng dạy của giáo viên
- Chạy bền: luyện tập chạy trên địa hình tự nhiên.
Sau khi luyện tập nâng cao các bài tập bổ trợ (chạy bước nhỏ, chạy nâng
cao đùi, chạy đạp sau), tôi chia lớp thành 4 nhóm (dựa theo sở thích, trình độ thể
sinh mà còn phải lưu ý tránh những trò chơi có nguy cơ gây chấn thương cho
học sinh như: chơi quay, chơi khăng, chơi đuổi bắt, nhào lộn…Bên cạnh đó cần
lựa chọn địa hình chơi phù hợp với mỗi trò chơi khác nhau. VD trò “Nhảy ngựa”
hay “Nhảy đây bay” thì nên chơi ở sân cỏ, đất để khi chạm đất không xảy ra
chấn thương, trò “Nhảy ô” thì cần chơi sân gạch mới dễ điều khiển viên gạch đi
đến các ô, trò “Nhảy bậc” thì cần vị trí có đường chạy dài…
Giải pháp thứ 6: nâng cao hứng thú tham gia chơi trò chơi cho học
sinh nhờ kết hợp hát bài đồng giao và có hình thức thưởng phạt cho người chơi.
Khi tổ chức trò chơi, giáo viên thường quên đi một việc nhỏ nhưng có tác
dụng lớn tạo hứng thú chơi, cảm giác muốn chờ đợi đến giờ học tiếp theo để
được chơi trò chơi dân gian. Đó là những bài hát đồng giao, học sinh vừa chơi
vừa say mê theo những giai điệu vui nhộn của các bài hát đồng giao. Đấy là
chưa kể, những bài hát đồng giao với lời hát giản dị, gần gũi và dễ nhớ luôn
nhắc nhở các em những điều hay, việc tốt, biết yêu thương gia đình, mến bạn, ơn
thầy, yêu quê hương, đất nước.
Sẽ là hấp dẫn hơn, nhiều động lực hơn khi có thêm hình thức thưởng phạt
cho người chơi. Đôi khi hình thức phạt lại là một trò chơi khác nhẹ nhàng hơn.
VD: đội thua phải nhảy lò cò một vòng quanh lớp học, vừa nhảy vừa hát bài
đồng giao “Nhảy lò cò cho cái giò nó khỏe, nhảy khe khẽ cho nó khỏe cái giò”,
hay phải chơi trò “Bơm xe” cũng vô cùng thú vị.
*Một số trò chơi dân gian với bài đồng giao vui nhộn tôi đã áp dụng
đưa vào giờ học TD lớp 7 – trường THCS nơi tôi đang công tác:
- Trò chơi “Quăng xề”: hai người cầm hai đầu dây thừng quăng từ dưới
lên trên nhiều vòng. Người chơi còn lại lần lượt vào nhảy, người quăng dây vừa
quăng vừa hát: “sang sông/ về sông/ ăn một bát cơm/ nhớ người cày ruộng/ ăn
đĩa rau muống/ nhớ người đào ao/ ăn một quả đào/ nhớ người vun gốc/ ăn một
con ốc/ nhớ người đi mò/ sang đò. Hát hết câu “sang đò” thì người chơi nhảy ra
khỏi dây quăng.
9
2
5
8
1
4
7
10
3
6
9
10
Dụng cụ chơi chỉ đơn giản là một viên ngói (hoặc gạch mỏng). Khi bắt
đầu, người chơi ném viên ngói vào ô số 1 sau đó dùng một chân nhảy lò cò đá
viên ngói lần lượt sang các ô tiếp theo cho đến ô số 10 thì nhặt viên ngói chạy về
ném vào ô số 2 và tiếp tục chơi như vậy đến khi viên ngói được ném vào ô số 10
là kết thúc trò chơi, ai về ô số 10 trước là người thắng cuộc. Luật chơi như thế
nào tùy thuộc vào người chơi thống nhất trước khi chơi, thông thường thì cả
chân và viên ngói đều không được chạm vạch ô, với những ô không có viên ngói
thì nhảy lò cò nếu ô đứng một mình và tiếp đất bằng hai chân nếu hai ô đứng
liền nhau…Đây là trò chơi khá phức tạp về cách chơi và luật chơi, độ khó khi di
chuyển bằng 1 chân mà lại phải đưa viên ngói đi từng ô một, đòi hỏi người chơi
phải thật khéo léo, điều chỉnh lực của chân hợp lý…nhưng chính độ khó đó đã
làm trò chơi trở lên cuốn hút học sinh một cách lạ kỳ. Trò chơi này rất phù hợp
để bổ trợ cho sức mạnh của chân trong nội dung học bật nhảy của lớp 7, tuy
nhiên vì học sinh rất yêu thích nên tôi tổ chức thường xuyên hơn, thậm trí giờ ra
chơi 20ph các em vẫn tham gia chơi, có khi còn tổ chức thi đấu giữa các tổ,
phương pháp phân tích, loại trừ dựa trên các yếu tố như (Tóc dài ngắn, đeo
vòng, khuyên tai, đi giầy, dép…) để đoán tên người chơi mà không nhìn thấy họ.
Xem đến phần này, người chơi và người xem luôn có những trận cười sảng
khoái.
- Trò chơi “Rồng rắn lên mây”: Oẳn tù tỳ, người thua đóng vai thầy
thuốc, người chơi xếp hàng một, tay đứa sau nắm vạt áo đứa trước rồi tất cả
lượn đi lượn lại như con rắn và hát: “Rồng rắn lên mây/ có cây xúc xắc/ có nhà
khiển binh/ hỏi thăm thầy thuốc, có nhà hay không” . Thầy thuốc sẽ trả lời mấy
lần “Thầy thuốc đi văng rồi”, người chơi lại lượn đi mấy vòng và hát, cho đến
khi thầy thuốc có nhà. Thầy thuốc hỏi: “ Mẹ con con rắn đi đâu”, người đứng
đầu trả lời “ Mẹ con rồng rắn đi xin thuốc”, thầy thuốc “Cho tôi xin khúc đầu” –
“Cùng xương cùng xẩu” – “Cho tôi xin khúc giữa” – “Cùng máu cùng me” –
“Cho tôi xin khúc đuôi” – “Tha hồ mà đuổi”. Kết thúc từ “Đuổi” thầy thuốc
nhanh chóng chạy đuổi bắt những bạn đứng sau, người đứng đầu phải có chiến
thuật che chắn để thầy thuốc không bắt được ai.
2.4 Kết quả thực hiện đề tài:
Bảng 2: Kết quả kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thể lực cuối năm học
của học sinh khối 7 năm học 2017 – 2018 (Sau một năm thực hiện đề tài
SKKN).
Tổng số HS
Giỏi (%)
Khá (%)
Đạt (%)
Chưa đạt (%)
51
22
25
4
0
- Phát phiếu phỏng vấn cho … học sinh khối 7 năm học 2016 – 2017.
Có (%)
98
96
89
99
3
Không (%)
2
4
11
1
97
*Một số ý kiến khác: “Được chơi trò chơi dân gian trong giờ học TD em
thấy rất thích thú bởi không chỉ giúp chúng em dễ hiểu và thực hiện kỹ thuật
động tác tốt hơn mà hơn nữa đấy đều là những trò chơi quen thuộc, gần gũi với
chúng em”, “Ngoài giờ học TD em và các bạn thường chơi những trò chơi dân
gian mà cô đã hướng dẫn”, “Em thích nhất trò chơi nhảy dây góc” – là ý kiến
của nhiều bạn nữ, “Em thích trò chơi nhảy ô, nhảy bậc”…
Quan sát biểu đồ dưới đây sẽ cho ta thấy rõ hơn hiệu quả nâng cao hứng
thú học tập cho học sinh trong giờ học TD nhờ việc đưa vào các trò chơi dân
gian vận động.
Biểu đồ thống kê năm học 2016- 2017 và năm học 2017 - 2018
Quan sát biểu đồ ta nhận thấy trình độ thể lực của học sinh được theo dõi ở hai
năm học có sự khác biệt rõ rệt. Cùng đối tượng học sinh, nhưng năm ứng dụng
đưa trò chơi dân gian vào giờ học TD thì kết quả kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện
than thể của học sinh cao hơn năm chưa ứng dụng rất đáng kể.
thời lượng trò chơi hợp lý, phù hợp với yêu cầu bổ trợ kỹ thuật trong từng tiết
học TD.
Tổ chức kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thể lực cho học sinh sau một năm
ứng dụng đưa trò chơi dân gian vận động vào giờ học TD.
TIẾT 12. ĐHĐN - CHẠY NHANH
I. Mục tiêu:
1/ Nhiệm vụ:
- ĐHĐN: Ôn Biến đổi đội hình 0 - 3 - 6 - 9, Biến đổi đội hình 0 - 2 - 4
- Chạy nhanh: Ôn Chạy bước nhỏ, Chạy nâng cao đùi, Tư thế sẵn sàng xuất phát, một số trò chơi dân gian vận động phát triển sức nhanh; Học: Chạy
đạp sau.
2/ Yêu cầu:
- Về kiến thức: Học sinh cơ bản nắm được yêu cầu, cách thực hiện các kỹ
thuật bài tập đã học.
- Về kỹ năng: học sinh thực hiện tương đối đúng các kỹ thuật bài tập đã học,
bước đầu thực hiện được kỹ thuật bổ trợ chạy đạp sau; biết cách vận dụng sáng
tạo các kỹ thuật đã học vào hoạt động thực tiễn trong và ngoài nhà trường.
- Về thái độ: rèn luyện cho học sinh ý thức kỷ luật, tính tự giác, tích cực, hứng
thú tập luyện tốt.
II. Địa điểm – phương tiện:
1/ Địa điểm: sân tập vệ sinh sạch sẽ.
2/ Phương tiện: giáo án, còi.
III. Nội dung – tiến trình dạy học.
ĐL
NỘI DUNG
PHƯƠNG PHÁP – TỔ CHỨC
TG
KL
A. PHẦN MỞ ĐẦU
8-10p
?Em hãy nêu các khẩu lệnh của
↨
người chỉ huy và cách thực hiện
Xcs
biến đổi đội hình 0 – 2- 4?
- Một học sinh trả lời câu hỏi.
- 4 học sinh lên thực hiện kỹ
B. PHẦN CƠ BẢN.
28-30p
thuật.
15
1. Ôn tập ĐHĐN:
6-8p
- Đi đều - đứng lại,đổi chân khi đi
đều sai nhịp.
2. Chạy nhanh:
10-12p
2.1 Ôn tập:
- Chạy bước nhỏ: yêu cầu dẻo cổ
chân, tăng dần tần số động tác.
- Chạy nâng cao đùi: yêu cầu thả
lỏng cẳng chân, nâng đùi cao tích
cực.
- Tư thế sẵn sàng – xuất phát: yêu
cầu đứng đúng tư thế chuẩn bị,
phản xạ nhanh khi nghe tiếng còi
xuất phát.
2.2 Học mới: Kỹ thuật chạy
- GV nhận xét, cho điểm.
- Chia 4 tổ tập luyện, cán sự tổ
điều khiển.
- GV quan sát, nhắc nhở,
hướng dẫn học sinh sửa sai
3x10 (Nếu có).
m
ĐH 3: ôn tập chạy nhanh
10m
3x10 ♦ ♦ ♦
m
♦ ♦ ♦
♦ ♦ ♦
3L
♦ ♦ ♦
- HS trả lời câu hỏi 1.
- GV giới thiệu kỹ thuật chạy
đạp sau giống như động tác
của trò chơi dân gian nhảy
“Nhảy bậc”.
- Gọi một số học sinh lên thực
hiện nhảy bậc 5 bước.
- Học sinh quan sát, nêu yêu
cầu cơ bản kỹ thuật chạy đạp
sau (Dựa trên việc quan sát trò
chơi nhảy bậc).
- GV: chốt lại yêu cầu kỹ thuật
cơ bản.
3L
tay và hít thở sâu. GV hô “Gió
thổi gió thổi”, học sinh hỏi
“Thổi ai, thổi ai”, GV hô thổi
ai (Theo đặc điểm trang phục,
giới tính…) thì người ấy phải
bước vào trong vòng tròn.
2.4.2 Ứng dụng thực tiễn trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Một điều bất ngờ là khi ứng dụng đưa trò chơi dân gian vận động vào
giờ học TD ở khối lớp 7 thì nó đã nhanh chóng lan tỏa ra khắp các khối lớp ở
trường tôi. Giờ ra chơi 20 phút, ở khắp các nơi từ bục giảng, góc sân trường, sân
tập, hành lang…đều nhìn thấy những em học sinh túm 5 tụm 3 chơi nhảy dây, ô
ăn quan, rải ranh, chuyền.... Vào mỗi sáng thứ 2 hàng tuần, giờ chào cờ đã
không còn khô khan, nhàm chán với các em nữa nhờ tổ chức các trò chơi dân
gian vui nhộn, thu hút không chỉ học sinh mà cả các thầy, các cô cùng tham gia
chơi.
Không chỉ trong nhà trường, khi trò chơi dân gian đã trở lên quen thuộc,
gắn bó với các em. Tôi đã bắt gặp rất nhiều hình ảnh đẹp khi đi trên đường làng:
ở sân đình mấy em chơi ô ăn quan, rải ranh, trong sân nhà văn hóa có mấy em
chơi nhảy dây, nhảy bậc, chốn tìm… quán nét cũng vắng dần những cô cậu học
trò. Từ đó tôi nhận thấy rằng, trò chơi dân gian có sức hút rất mạnh mẽ, khi đã
yêu thích rồi thì các em sẽ tự tránh xa những trò chơi mang tính chất không lành
mạnh như điện tử, trò chơi bạo lực…
17
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kêt luận
Qua việc ứng dụng đưa trò chơi dân gian vào giờ học TD lớp 7 trường
Minh châu, ngày 25 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm do tôi viết, không sao chép của
người khác
Người viết
Trần Trung Dũng
18
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
THCS:
TDTT:
TD:
GDTC:
ĐHĐN:
ĐMPPDH:
trung học cơ sở
Thể dục thể thao
Thể dục
giáo dục thể chất
đội hình đội ngũ.
đổi mới phương pháp dạy học.
19