PHẦN
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU
1
2
3
TRANG
2
1.1 Lý do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
1.5. Những điểm mới của SKKN.
2
3
3
3
3
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
3
2.1. Cơ sở lí luận.
em học sinh lớp 12A9 do tôi chủ nhiệm đã có một buổi liên hoan chia tay thật ý
nghĩa và cảm động. Cô, trò chúng tôi cùng ngồi ôn lại những kỷ niểm đã qua.
Nhìn 40 gương mặt thân quen tôi không thể nào quên được ngày đầu tiên bước
vào lớp, ngày đầu tiên được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 11A9. Khi đó
lớp 11A9 đứng cuối trong bảng thi đua của nhà trường, một lớp được đánh giá là
có khá nhiều học sinh cá biệt, học sinh đánh nhau, học sinh bỏ học, học sinh vô
lễ với giáo viên…Thú thực lúc đó tôi có chút nản lỏng nhưng vì nhiệm vụ và vì
trách nhiệm của người giáo viên đã mang trong mình “sứ mệnh trồng người”
nên tôi quyết tâm tìm hiểu cho bằng được nguyên nhân vì sao lớp lại có thành
tích “đáng nể” như vậy.
Đối tượng học sinh cấp THPT ở những độ tuổi khác nhau cũng có nhiều
hs khác nhau: có nhiều em rất ngoan, hiền và biết vâng lời thầy cô giáo. Nhưng
cũng có một số em thì ngang bướng, ngỗ nghịch… Trong đối tượng học sinh
này có những HS gọi là “học sinh cá biệt”. Đó là những học sinh luôn tạo ra
nhiều sự phiền hà và bận rộn hơn cho giáo viên. Để đưa các em học sinh cá biệt
này vào khuôn khổ không phải giáo viên nào cũng thành công trong việc giáo
dục và giảng dạy [ 3 ]. Như chúng ta đã biết, việc giáo dục phát triển nhân cách
học sinh là một nhu cầu cần thiết, bản chất của quá trình giáo dục là tổ chức toàn
bộ cuộc sống, học tập hoạt động của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi tối ưu để
tiềm năng của học sinh được phát triển dưới sự giáo dục của giáo viên chủ
nhiệm. Thực chất vai trò của giáo viên chủ nhiệm gần như trồng cây, chăm sóc
vun trồng cây giống. Người làm vườn không thể cầm ngọn cây kéo lên mà phải
chăm sóc tạo điều kiện cho hạt giống nẩy mầm [ 3 ]. Cho nên, bản thân tôi là
một giáo viên chủ nhiệm, tôi luôn tâm niệm dạy dỗ giáo dục cho các em trở
thành những con người hữu ích cho xã hội, để xứng đáng với những hình ảnh
đẹp mà xã hội ban tặng như đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói: “Nghề dạy học là
nghề cao quý nhất trong tất cả các nghề cao quý vì nó sáng tạo ra những con
người sáng tạo”.
Công tác chủ nhiệm quyết định chất lượng dạy và học của Giáo viên và
học sinh. Làm tốt công tác chủ nhiệm tức là người giáo viên đã hoàn thành tốt
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Tìm hiểu
nguyên nhân và lí do chính để trả lời cho câu hỏi: Vì sao các em học sinh đó trở
thành học sinh cá biệt ?
Quan sát, theo dõi quá trình học tập và hoạt động của các em học sinh cá
biệt trong lớp( trước, trong và sau áp dụng các biện pháp giáo dục). [ 2 ]
Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của từng học sinh cá biệt.
Trao đổi trực tiếp với gia đình, phụ huynh của các em học sinh thuộc dạng
cá biệt trong lớp 11A9, đề xuất những biện pháp áp dụng cho từng em học sinh.
Tùy điều kiện thực tế mà xây dựng các phương án khác nhau để thực hiện.
1.5. Những điểm mới của SKKN:
Bài viết này tôi đã tìm ra một số nguyên nhân khiến các em học sinh cá
biệt của lớp 11A9 trở nên “khó dạy”, bất an, dễ nóng nảy, kích động, mệt mỏi,
thiếu năng lượng, hay buồn vô cớ, khó tập trung, hay đánh nhau, vô lễ với thầy,
cô giáo…. Đồng thời phát hiện ra một số phương pháp đặc thù khác biệt để
giáo dục, hỗ trợ những học sinh “ cá biệt “.
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận:
Ở lứa tuổi 16 - 17 (học sinh vào lớp 11) là lứa tuổi đang có sự mất cân
bằng về tâm sinh lí, muốn khẳng định mình coi mình là người lớn, muốn được
đối xử như người lớn, muốn được độc lập trong suy nghĩ và hành động, muốn
thử sức mình và độc lập khám phá những cái mới để khẳng định mình là người
lớn. [ 4 ] Lứa tuổi 17, lứa tuổi có nhiều thay đổi về cơ thể và nhân cách, nhiều
hoóc môn mới trong cơ thể bắt đầu xuất hiện, “lứa tuổi khủng hoảng” hay là
3
“thời kỳ quá độ” chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn, lứa tuổi với nhiều khó
khăn, phức tạp trong cuộc đời của mỗi con người, lứa tuổi học tập và trưởng
thành, hoàn thiện và phát triển. Ở giai đoạn này có rất nhiều sự thay đổi về thể
như xã Ngọc Khê, xã Minh Sơn…[ 2 ]
[ 2 ]Tôi đã tìm hiểu sơ qua tình hình lớp và biết được: Năm lớp 10 các em
xếp cuối trong bảng thi đua của nhà trường (Trường có 18 lớp cơ bản và 12 lớp
chọn). Sau khi 1 tuần tìm hiểu nguyên nhân vì sao lớp lại xếp cuối tôi nắm được:
chủ yếu là lớp vi phạm nội quy nhà trường ở các lỗi trừ điểm nhiều như: đánh
nhau, sử dụng điện thoại, vô lễ với Giáo viên, nghỉ học vô lý do…điều đặc biệt
là các lỗi này đều chủ yếu do một số em vi phạm nhiều lần, các em luôn chống
đối, không tuân thủ có xu hướng gây hấn bằng lời nói. Đó là các em:
4
STT
Họ và tên
1
Vũ Đình Nam
2
Đàm Thị Thảo
3
Lê Tuấn Phương
4
các em ham chơi game(nghiện game), chơi facebook(nghiện Facebook). Các em
bị lôi cuốn bởi những phương tiện thông tin đại chúng, những tiêu cực và tệ nạn
xã hội.
Trên đây là một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến học sinh trở thành “ học
sinh cá biệt” ở lớp 11A9. Các em không muốn học, ham chơi và trở nên khác
biệt vì nhiều lí do, hơn thế lại không được sự quan tâm, sát sao đúng mực của
gia đình nên hay bỏ học để đi chơi. Một số em khác không làm chủ được bản
thân bị một số đối tượng đã bỏ học lôi kéo dụ dỗ khiến các em không quan tâm
đến việc học chỉ ham chơi lâu dần thành quen. Mặt khác, do các em trong độ
tuổi tập làm người lớn, đây là lứa tuổi dễ dao động nhất nếu như có biện pháp
uốn nắn kịp thời các em sẽ đi theo hướng tích cực và ngược lại có thể trở nên hư
hỏng. Vì vậy nếu không giáo dục, không uốn nắn các em ngay từ đầu thì rất dễ
để cho các em không nắm vững kiến thức, không làm chủ được bản thân và
cũng sẽ khó trở thành người có tài, có đức phục vụ cho đất nước sau này.
2.3. Các giải pháp đã áp dụng.
5
Với cương vị là một giáo viên chủ nhiệm nhiều năm trong nghề được tiếp
xúc với nhiều em và cũng đã được nghe nhiều tâm sự của các em, tôi không thể
không trăn trở khi đứng trước hiện tượng nhiều em “hoc sinh cá biệt” trong lớp
mình chủ nhiệm.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên tôi đã áp dụng một số biện pháp
sau:
Biện pháp thứ nhất: [ 3 ] Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của từng học sinh
để hiểu rõ từng hoàn cảnh cụ thế từ đó có biện pháp cụ thể, thích hợp với từng
em. Trước tiên là tôi sử dụng phiếu thăm dò(phụ lục), trao đổi với bạn bè thân
thiết của các em. Sau đó tôi đến thăm gia đình từng em một để nắm rõ, hiêu rõ
hoàn cảnh, môi trường mà các em đang sống bởi muốn giáo dục con người phải
tôi thông báo và kết hợp với gia đình học sinh gặp gỡ học sinh cố ý đánh bạn và
đến nhà trao đổi với gia đình cam kết. Trước khi gặp gia đình tôi đã tiến hành
gặp riêng 2 em đánh nhau tìm hiểu nguyên nhân vì sao lại xảy ra như vậy. Tôi
muốn các em tự nhận ra vì sao mình sai? Nguyên nhân nào dẫn đến hành động
6
không kìm chế được bản thân như vậy? Bài học kinh nghiệm rút ra sau mỗi lần
đânhs nhau đó? [ 4 ], [ 5 ].
Đồng thời, Nhà trường đã phối kết hợp với các cơ quan an ninh trên địa
bàn để quản lý học sinh và xử lý nghiêm khắc những trường hợp vi phạm pháp
luật đặc biệt là những trường hợp xâm phạm đến thân thể của công dân, học sinh
(đánh người, đặc biệt là đánh người gây thương tích), để răn đe những người
chuyên gây rối trật tự xã hội, bắt nạt người khác...
Biện pháp thứ năm: Đối với học sinh có gia đình không hòa thuận hoặc
gia đình có hoàn cảnh đặc biệt như em Vũ Đình Nam, em Lê Tuấn Phương tôi
thường hỏi han, tâm sự, quan tâm đến em nhiều hơn tạo mối quan hệ gần gũi để
hiểu được tâm tư nguyện vọng của em, để động viên khích lệ kịp thời. Tạo cho
các em có chỗ dựa vững chắc để em thấy được sự quan tâm của người thầy như
cha như mẹ của các em luôn dìu dắt em khi em vấp phải những khó khăn trong
học tập cũng như cuộc sống.
Khi các em mắc lỗi vì cứ lí do gì nhưng sau những buổi học sau tôi
thường gặp trao đổi riêng với từng em, hỏi thăm lí do không trách phạt ngay lúc
đó và lựa lời khuyên nhủ, động viên. Bởi tôi biết nguyên nhân dẫn đến các em
mắc lỗi là thiếu sự quan tâm, chia sẻ của gia đình, các em thiếu thốn tình cảm.
Các em cũng cảm thấy vui khi cô giáo quan tâm đến mình và cũng chia sẻ lí do.
[1 ], [3].
Tạo mối quan hệ thân thiện giữa các học sinh trong lớp để các em cảm
thấy vui vẻ khi đến lớp. Đôi khi có những mâu thuẫn giữa một số em trong lớp
thường là các em dấu GVCN. Tôi thường có một “điệp viên” thông báo tình
vui vẻ, tích cực hướng dẫn các bạn trong lớp về chiến thuật và cách thức thi đấu.
Đội tuyển bóng chuyền nam lớp 11A9( áo Xám)
(Đội trưởng Nam đang đập bóng).
Giao nhiệm vụ cho học sinh trong các giờ ngoại khóa hoặc hoạt động của
nhà trường tạo cho các em cơ hội để các em thấy được vai trò và trách nhiệm
của mình trong tập thể. Đồng thời phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh.
Các em không còn cảm giác “cô đơn” trong tập thể.
Biện pháp thứ bảy: Một biện pháp cũng không kém phần quan trọng đó
là việc biểu dương, khen thưởng, kịp thời. [ 1 ]
8
Từ những nhiệm vụ được giao, biểu dương, khen thưởng, động viên các
em khi thực hiện tốt nhiệm vụ. Từ đó giúp cho các em hiểu được mình vẫn còn
có giá trị trong lớp, có khả năng thực hiện tốt các việc khác.
Biện pháp thứ tám: Tạo điều kiện để các em tham gia hoạt động xã hội,
hoạt động tình nguyện, hoạt động từ thiện nhân đạo.
Nhân nghĩa là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt
Nam, hãy cho đi tình yêu thương để nhận lại gấp trăm ngàn sự yêu thương đó.
Đó là tính nhân văn trong mối quan hệ giữa con người và con người. Hãy tổ
chức để các em tham gia nhiều các hoạt động xã hội, giúp đỡ mọi người trong
xã hội để các em nhận thấy mình thật giá trị và cuộc sống thật sự ý nghĩa. [ 4 ]
Thật vậy, khi một người không thực sự cảm nhận được giá trị của mình
trong cuộc sống thì hãy giúp họ tham gia các hoạt động xã hội, hãy giúp đỡ
những người khác khó khăn hơn mình, tôi nghĩ sẽ có tác động tích cực. [ 5 ]
Trường THPT Ngọc Lặc đóng trên địa bàn huyện miền núi nên ở đây còn
có rất nhiều hoàn cảnh đáng thương. Tôi đã liên hệ với địa phương và vận động
các em tham gia thăm hỏi, động viên những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn để giúp đỡ. Phối hợp với Đoàn thanh niên thôn Quang Thắng - xã
lớp tôi đã xây dựng cho mình một kế hoạch chủ nhiệm. Tìm hiểu nguyên nhân
vì sao lớp trở nên “cá biệt”? và áp dụng các biện pháp như đã trình bày trong
sáng kiến. Kết quả cuối năm học 2017 – 2018 lớp 11A9 đã vươn lên tốp 5 trong
bảng thành tích xếp loại thi đua của toàn trường. Lớp được tặng danh hiệu lớp
tiên tiến. [ 2 ]
10
Tập thể lớp tiên tiến năm học: 2017 - 2018
2.4.2. Một số học sinh tiêu biểu:
1. Em Vũ Đình Nam (làng Mỏ, xã Mỹ Tân): Năm lớp 10 là học sinh cá
biệt, ngỗ ngược, em hay đánh nhau, nghỉ học..., Nam được sinh ra trong gia đình
bố mẹ đã ly hôn. Cả bố, mẹ đều có gia đình riêng, em ở với bà nội già, yếu. Em
trở thành trụ cột gia đình, cuộc sống gia đình đã khó khăn giờ trở nên khó khăn
nhiều hơn, em phải phụ giúp bà làm nương, rẫy để kiếm. Nên thời gian đầu Nam
rất hay nghỉ học, tỏ thái độ chán chường. Từ khi tôi áp dụng các biện pháp giáo
dục phù hợp, động viên chia sẻ, tạo điều kiện, được bạn bè hiểu và cảm thông
em đã vui vẻ trở lại và ý thức hơn trong học tập, em không còn đánh nhau, nghỉ
học vô lý do, chăm chỉ học tập. Từ một học sinh cá biệt cuối năm em đã đạt
danh hiệu học sinh tiên tiến học kỳ II .
2. Em Đàm Thị Thảo (thôn Hưng Sơn – xã Thúy Sơn): là một học sinh cá
biệt, có những biểu hiện bất cần, chán nản trong học tập, nghiện Facebook, thích
đánh nhau, ăn diện .... vì gia đình khá giả nhưng bố mẹ bận làm ăn không quan
tâm đến em, đáp ứng mọi đòi hỏi vật chất ở em. Sau một thời gian dài được
động viên chia sẻ và bạn bè an ủi, em đã có tiến bộ rõ rệt trở thành học sinh bình
thường, luôn có ý thức thực hiện tốt các nội quy chung của lớp và nhà trường.
Sau những lần tình nguyện, thăm gia đình có hoàn cảnh khó khăn em đã ý thức
được giá trị của bạn thân, trân trọng cuộc sống không còn ăn diện lẵng phí, tập
trung học tập, hòa đồng cùng các bạn trong lớp, tích cực trong cương vị lớp phó
văn thể của lớp.
sinh dân tộc thiểu số; Xem học sinh như con của mình, chia sẻ vui buồn, cùng
lắng nghe ý kiến học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp.
Tóm lại giáo viên chủ nhiệm cần tạo ra sự mật thiết giữa thầy và trò, giữa
học sinh với học sinh, thầy trò tạo được sự vui vẻ học tập trong suốt thời gian ở
lớp để các em đến lớp đều đặn bằng sự tự nguyện và cảm thấy tiếc nuối khi phải
nghỉ học, bỏ học. Đó cũng là lúc ta hoàn thành thành một phần vai trò của mình
trong công tác chủ nhiệm.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Trong suốt những năm làm GVCN, qua việc áp dụng một số biện pháp
giáo dục học sinh cá biệt , với tâm huyết của người làm nhiệm vụ “ trồng người
” cho đất nước. Tôi nhận thấy đây là nhiệm vụ rất khó khăn và không dễ thành
công. Thực tế trong những năm qua, với những vấn đề ấy, bản thân tôi đã được
các em học sinh cá biệt tôn trọng. Ban đầu các học sinh cá biệt sống rất tách rời
tập thể, thấy cô giáo thì ghét cay, ghét đắng, xong dần dần, tôi đã giúp cho các
em hiểu được vấn đề và hiện nay đa số các em sống rất gần gũi với lớp. Đặc biệt
bất kỳ chuyện gì xảy ra, dù lớn hay nhỏ các em này cũng đều tâm sự và chia sẻ
với tôi từ niềm vui đến nỗi buồn. Chính đều đó dần dần, tôi đã giúp các em tránh
được tự ti và mặc cảm ban đầu.
Mức độ vi phạm của các em học sinh cá biệt giảm đáng kể so với đầu năm
học. Đối với bốn học sinh cá biệt mà tôi đã chủ nhiệm, nay các em đã sắp ra
trường để đi tiếp con đường mà các em lựa chọn . Nhìn chung các em đó đều có
những tình cảm thân thiện với cô giáo chủ nhiệm, trong buổi liên hoan chia tay
lớp có em đã khóc và tâm sự “ nếu không có cô, không được gặp cô em sẽ
không có ngày hôm nay, cô như một nghười mẹ thứ hai của em”. Đó chính là
phần thưởng quí giá, là niềm hạnh phúc nhất đối với tôi.
3.2. Kiến nghị
12
và hiệu quả hơn.
Trên đây là một số kinh nghiệm của cá nhân tôi trong việc giáo dục “học
sinh cá biệt”. Song vẫn còn nhiều hạn chế rất mong được sự góp ý, chia sẻ từ
quý thầy cô giáo để tôi tiếp tục hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Ngọc Lặc, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến do mình
viết không sao chép của người khác.
Người viết sáng kiến
Đỗ Thu Hà
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu Tình huống sư phạm trong công tác Giáo Dục học sinh THPT.
Tác giả: Bùi Thị Mùi.
2. Sổ theo dõi năm lớp 10A9, 11A9: sổ chủ nhiệm, sổ điểm, sổ nề nếp của
nhà trường, xếp loại thi đua.
3. Tài liệu tập huấn Giáo viên chủ nhiệm và công tác tư vấn tâm lý – giáo
dục cho học sinh trung học. (PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa – chủ biên. Bộ
GD&ĐT năm 2013).
4. Tư vấn tâm lý tuổi vị thành niên. Tác giả Nguyễn Công Khanh.
5. Tham khảo một số tài liệu trên mạng internet:
- Nguồn: https:/giadinh.vnexpress.net/
- Nguồn:
14