Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy bài bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia - Pdf 57

MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................1
1. MỞ
ĐẦU...........................................................................................................2
1.1. Lý do chọn đề tài................................................................................2
1.1.1.Cơ sở lý luận......................................................................................2
1.1.2. Cơ sở thực tiễn..................................................................................2
1.2. Mục đích Nghiên cứu: .......................................................................3
1.3.
Đối
tượng
nghiên
cứu:........................................................................3
1.4. Phương pháp nghiên cứu………………………..………………….3
1. 4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận. ………………...………………3
1 4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn .................................................3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM…………...…………………...3
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm..........................................3
2.2. Thực trạng của vấn đề………………………………...……..……..4
2.3. Các giải pháp thực hiện………………………………..…………...5
2.3.1. Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy Bảo vệ chủ quyền lãnh
thổ quốc gia.. ........................................................................................................5
2.3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng. .................................7
2.3.3.Nội dung chủ quyền lãnh thổ quốc
gia...............................................8
2.3.4. ứng dumg công nghệ thông tin vào nội dung giảng dạy biên giới
quốc gia và xác định biên giới quốc gia Việt Nam................................................9
2.3.5. Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng bảo vệ biên giới quốc
gia nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam .................................................11
2.3.6. Trách nhiệm của công dân học sinh trong xây dựng quản lí, bảo bệ
biên giới ..............................................................................................................12

giúp cho người học dễ dàng nhận biết hình dung vị trí địa lý, các đường biên
giới quốc gia trên đất liền, trên biển, các đảo và các quần đảo, biết xác định chủ
quyền biên giới quốc gia Việt Nam, công tác phòng không nhân dân…đồng thời
nhận biết về các loại vũ khí trang bị, kỹ thuật băng bó cứu thương.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn.
Ứng dụng công nghệ thông tin đối với các môn học khác là điều không
mới, xong đối với môn giáo dục quốc phòng đây là môn học mới được đưa vào
chương trình chính khóa, môn học xen kẽ giữa lý thuyết và thực hành liên quan
nhiều đến kiến thức địa lý, băng bó cứu thương, lịch sử truyền thống quân đội
nhân dân Việt Nam. Vì vậy giảng dạy lý thuyết là điều khó khăn vì đội ngũ giáo
viên đa số là giáo viên giáo dục thể chất được đào tạo ngắn hạn và tham gia
giảng dạy Giáo dục Quốc phòng, nên việc tiếp cận với công nghệ thông tinh còn
nhiều hạn chế, phương pháp giảng dạy lý thuyết còn khiêm tốn chưa phát huy
hết hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, vì vậy tiết học còn
khô khan, thiếu tính hấp dẫn, chưa tạo được sự hứng thú trong học tập. Đặc biệt
hệ thống tranh ảnh môn Giáo dục Quốc phòng còn thiếu thốn, sân bãi còn hạn
chế nên chưa đáp ứng các yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Do đó mà chất
lượng hiệu quả của môn học chưa đáp ứng như mong muốn.

2


Vì vậy tôi lựa chọn nghiên cứu và hoàn chỉnh đề tài “Ứng dụng công
nghệ thông tin vào giảng dạy bài Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc
gia”.
1.2. Mục đích Nghiên cứu:
Khai thác thông tin, thiết kế bài giảng nhằm giúp học sinh có hình ảnh
trực quan sinh động, nhanh chóng nhận biết vận dụng, phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ
năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong

minh hoạ bằng các hình ảnh trực quan, giúp người học hình dung được lãnh thổ
quốc gia chủ quyền lãnh thổ quốc gia và đường biên giới quốc gia…Công nghệ
thông tin có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp
thu và lĩnh hội kiến thức của người học. Giáo viên có thể ứng dụng công nghệ
thông trong quá trình dạy học Giáo dục Quốc phòng – An ninh đạt được hiệu
quả cao.
Phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm đối tượng, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho học sinh.
Phương pháp là linh hồn của một nội dung, người thầy phải biết biến các
nội dung phức tạp thành những những cái đơn giản, biết khơi gợi cho học sinh
nhanh chóng nhận biết và hiểu bài một cách nhanh chóng và sâu sắc nhất, đồng
thời tối ưu khả năng của người học.
Theo các nhà lí luận dạy học, phương pháp dạy học là tổ hợp các cách
thức phối hợp hoạt động một cách thống nhất của giáo viên và học sinh trong
quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực
hiện tốt các nhiệm vụ dạy học. Do đó phương pháp dạy học, tuy có nhiều cách
hiểu khác nhau song tất cả đều hướng đến tính mục tiêu của quá trình dạy học
đó là vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. Bên cạnh đó,
phương tiện dạy học là công cụ đóng vai trò quan trọng, là cầu nối chung gian
mang lại hiệu quả giáo dục. Vì vậy quá trình dạy học cũng chính là quá trình
truyền thông. Bởi vì truyền thông là sự chuyển tải thông tin từ một hoặc một
nhóm đối tượng này đến một hoặc một nhóm đối tượng khác nhằm cung cấp
kiến thức, thay đổi nhận thức và cải biến hành vi của con người, dạy học là quá
trình truyền thông nhiều chiều trong đó học sinh là đối tượng trung tâm, là chủ
thể và giáo viên đóng vai trò chủ đạo để quá trình truyền thông đạt hiệu quả.
Giảng dạy môn Giáo dục quốc phòng An ninh là quá trình dạy học mang
tính đặc thù nhằm trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản về đường lối quân sự,

tổ chức các khóa học bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên.
Khó khăn: Còn một bộ phận giáo viên coi đây là một môn phụ nên ít
nhận được sự quan tâm, chưa động viên khích lệ giáo viên tự học, tự bồi dưỡng,
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cách tiếp cận công nghệ thông tin
trong giảng dạy còn hạn chế, ít được sự quan tâm của nhà trường và các bạn bè
đồng nghiệp cũng chính vì vậy việc khai thác, tìm tòi thông tin để thiết kế bài
giảng chưa trở nên phổ biến, làm hạn chế khả năng sáng tạo phát huy hiệu quả
trong các tiết dạy, nên chất lượng hiệu quả giáo dục chưa được nâng cao đối với
bộ môn Giáo dục Quốc phòng An ninh.
Về cơ sở vật chất: Môn Giáo dục Quốc phòng An ninh là môn học liên
quan nhiều đến các loại tranh ảnh liên quan đến các bài dạy lý thuyết cũng như
thực hành sử dụng lựu đạn, các loại bản đồ...song hiện tại các các mô hình học
cụ trên phần thì còn thiếu, phần không đáp ứng được các yêu cầu giảng dạy môn
học, các phòng học máy chiếu còn hạn chế số lượng giáo viên có nhu cầu giảng
dạy máy chiếu nhiều vì liên quan đến giờ dạy môn học khác.
Qua thực tế đó, để đạt được hiệu quả trong giảng dạy Giáo dục Quốc
phòng - An ninh việc vận dụng công nghệ thông tin sẽ tối ưu hóa và đáp ứng
được mọi yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, khắc phục được hiện tượng
thiếu các loại đồ dùng trực quan sinh động, tạo nên sự hứng thú trong học tập,
khắc sâu được kiến thức cho người học. Từ đó xây dựng được niềm tin tình cảm
của học sinh đối với môn học đồng thời học sinh nhận thức đầy đủ ý nghĩa, trách
nhiệm của công dân về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lòng
tự hào dân tộc biết chân trọng truyền thống, có thái độ nghiêm túc với sự nghiệp
bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, bảo vệ biển đảo, có kiến thức quân sự cơ
bản sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Để đạt được sự thay đổi đó, thì trước hết người giáo viên trực tiếp giảng
dạy môn Giáo dục Quốc phòng An ninh phải có thái độ nghiêm túc, không
ngừng trao dồi kiến thức, tự học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
thường xuyên tiếp cận công nghệ thông tin,vào giảng dạy, thiết kế giáo án điện


Vùng trời: là khoảng không gian bao trùm trên vùng đất và vùng nước của
quốc gia.

6


Vùng lãnh thổ đặt biệt: Ngoài các vùng lãnh thổ quốc gia đã nêu trên các
tàu thuyền và các phương tiện bay mang cờ hoặc dấu hiệu riêng biệt và hợp
pháp của quốc gia.
Khi ứng dụng công nghệ thông tin: Giáo viên hoàn toàn có thể sưu tầm
trên mạng Interrnet, giáo viên có thể cho học sinh xem các hình ảnh, các đoạn
Video clip về sự khác nhau của vùng trời, vùng nước và vùng nước nội địa,
vùng nước biên giới. Như vậy học sinh dễ dàng nhận biết, học sinh tự biết so
sánh những ưu việt khác nhau của từng vùng.
VD: như sơ đồ dưới đây.

Vùng đất: Vùng đất của quốc gia là phần lãnh thổ chủ yếu và phần lớn
diện tích so với các phần lãnh thổ khác.
Vùng nước: Gồm nước ở sông hồ,ao,ngòi,kênh rạch nằm trong lục địa,
nước ở sông,suối biên giới.
Vùng nước nội thủy,bao gồm: Nước ở phía trong đường cơ sở .
Vùng nước lịch sử.
Vùng nước lãnh hải.
Vùng trời: là khoảng không gian bao trùm trên vùng đất và vùng nước
của quốc gia.
Ngoài ra các vùng biển khác thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán
Việt nam còn có.
Vùng tiếp giáp lãnh hải.
Vùng đặt quyền kinh tế.
Qua đó giáo viên đặt các câu hỏi cho học sinh trả lời vùng nước lãnh hải

VD: Quan điểm của các nước tranh chấp ở Biển Đông.

8


Ví dụ: Các nước và vùng lãnh thổ có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông.
Như Trung Quốc đưa ra yêu sách chủ quyền đối với quần đảo” Tây sa”(Hoàng
sa) và Nam sa( Trường sa), từ xưa cho rằng hai lãnh thổ này là chủ quyền của
Trung Quốc.
Trung Quốc ra sức bám giữ yêu sách đường lưỡi bò, bao trùm một khu
vực rộng lớn trên Biển Đông.
Cho đến nay chưa có nước nào trên thế giới khẳng định đường lưỡi bò của
Trung quốc.
Philippin: Chủ trương của Philippin là giải quyết các tranh chấp ở biển
đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có công
ước luật biển năm 1982.
Malaixia thực hiện chủ trương tránh công khai phê phán, đối đầu với
Trung Quốc trên biển đông mặc dù bị ảnh hưởng trực tiếp bởi yêu sách "đường
lưỡi bò" của Trung Quốc, nhưng Malaixia chưa công khai phản đối yêu sách
này.
Ngoài ra còn có các nước ASEAN…
2.3.4. ứng dumg công nghệ thông tin vào nội dung giảng dạy biên giới
quốc gia và xác định biên giới quốc gia Việt Nam.
Khái niêm biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là đường và mặt phẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ
đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,
vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các bộ phận cấu thành biên giới quốc gia.
Biên giới quốc gia trên đất liền. Là biên giới phân chia chủ quyền lãnh thổ
đất liền của quốc gia với quốc gia khác.


Mốc biên giới Việt Nam – Campuchia dài 1137km, được hoạch định theo
Hiệp ước ngày 27/2/1985, Hiệp ước bổ sung ngày 10/10/2005 và hai nước thỏa
thuận tiến hành phân giới cắm mốc.
Tuyến biển đảo Việt Nam đã được xác định được 12 điểm để xác định
đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải theo tuyên bố ngày 12/11/1982
của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đã đàm phán với Trung Quốc kí kết hiệp định phân Vịnh Bắc Bộ ngày
25/12/2000.

2.3.5. Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng bảo vệ biên giới quốc
gia nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước Cộng hào xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng độc lập chủ quyền và sự toàn vẹn
lãnh thổ, biên giới quốc gia, đồng thời xác định bảo vệ biên giới quốc gia gắn
liền với bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là
nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm bảo vệ không
gian sinh tồn của cả dân tộc.

11


Biên giới của một quốc gia có vị trí quan trọng về kinh tế quốc phòng- an
ninh. Biên giới quốc gia ổn định là điều kiện để đảm bảo cho một quốc gia hào
bình và phát triển. Bảo vệ biên giới quốc gia là trách nhiệm của toàn Đảng toàn
dân và của cả hệ thống chính trị.
Bảo vệ biên giới quốc gia phải dựa vào dân, trực tiếp là đồng bào các dân
tộc ở biên giới.
Nước ta có biên giới quốc gia dài, đi qua địa hình phức tạp, hiểm trở, có
vùng biển rộng, lực lượng chuyên trách quản lí biên giới quốc gia không thể bố

- Đối với công dân ở khu vực biên giới là người trực tiếp cư trú, làm ăn gắn
bó lâu dài với mảnh đất nơi tuyến đầu của Tổ Quốc. Vì vậy, bảo vệ lãnh thổ,
biên giới Quốc gia là trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam nói chung nhưng
trực tiếp là nhân dân ở khu vực biên giới, đây là trách nhiệm nặng nề, to lớn,

12


góp phần giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biên giới quốc gia và giữ gìn
an ninh trật tự và an toàn xã hội.
* Trách nhiệm của học sinh: Thế hệ trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước,
đã và đang và sẽ tiếp tục nối các thế hệ đi trước gánh vác trách nhiệm đối với
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuổi trẻ Việt Nam mang trong mình truyền thống cách mạng tiếp thi và kế thừa
bản sắc văn hóa, truyền thống đạo lí của dân tộc, luôn tin vào sự lãnh đạo của
Đảng, đoàn kết chặt chẽ thành lực lượng tin cậy của Đảng của dân tộc.
* Ứng dụng CNTT thiết kế nội dung giảng dạy bằng phần mềm
powerpoit.
Việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính bằng những đoạn phim
minh họa với hình ảnh, âm thanh sống động, bài giảng của giáo viên có thể thu
hút sự chú ý và tạo hứng thú cho học sinh. Trong quá trình thực hiện, việc đánh
giá và đưa ra mô hình ứng dụng và nguyên tắc khai thác tư liệu để đạt hiệu quả
trong giảng dạy môn Giáo dục Quốc phòng - An Ninh Giáo viên có nhiều thuận
lợi hơn trong việc tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh so với phương
pháp giảng dạy truyền thống. Tuy nhiên, để có được một tiết học với 45 phút
như vậy, người giáo viên phải tâm huyết, say mê sáng tạo tìm tòi, có những ý
tưởng độc đáo nhằm thiết kế một bài giảng đạt mức chuẩn, sinh động, kích thích
được học sinh vào hoạt động nhận thức một cách chủ động thì giáo viên thường
phải bắt đầu từ ý tưởng bài giảng, phải thiết kế hình ảnh, các đoạn clip, các hiệu
ứng âm thanh, hình ảnh phù hợp trong bài giảng, phải đảm bảo qui trình soạn

Kết quả sau khi thực nghiệm đối với lớp 11A8 giảng dạy theo phương pháp áp
dụng công nghệ thông tin.
Lớp 11A7 (Tổng 45hs)
Giỏi
SL

%

khá
SL %

Lớp 11A8 (Tổng 45hs)

TB
SL

Yếu
% SL

%

Giỏi
SL

%

khá
SL

%

thực hành, kích thích lòng ham mê học tập và ý chí vươn lên, loại bỏ thói quen
học tập thụ động.
Thiết kế bài dạy bằng công nghệ thông tin theo hướng đổi mới làm tăng
tính hiệu quả học tập và hợp tác giữa các cá nhân, nhất là lúc giải quyết những
vấn đề tư duy trìu tượng, những kiến thức liên quan đến thực hành cần học sinh
nắm rõ, hiểu sâu do vậy ứng dụng công nghệ thông tin đã kết hợp cả phương
pháp truyền thống với các phương pháp hiện đại gắn với nhiều hình thức tổ chức
dạy học theo lớp, theo nhóm và cá nhân, học ở trong lớp, ngoài lớp, trong
trường hay liên hệ thực tế ngoài thao trường, bãi tập có liên quan đến nội dung
bài học.
Tuy nhiên soạn giảng theo hướng đổi mới ứng dụng công nghệ thông tin
vào giảng dạy môn Giáo dục Quốc Phòng - An ninh đã mang lại hiệu quả thiết
thực, xong việc soạn giảng để đáp ứng yêu cầu bài giảng cũng cần sự nỗ lực tự
học học tự bồi dưỡng của giáo viên đó là sử dụng công nghệ thông tin thành
6

13,3 14 31 18,2 40

7

14


thạo, biến vận dụng để khai thác có hiệu quả về hình ảnh, âm thanh, các đoạn
phim, video phù hợp từ mạng Internet và biết cắt hình ảnh, các đoạn clip có tác
dụng minh họa sinh động, vừa đủ đáp ứng yêu cầu bài giảng là công việc mất
nhiều thời gian, công sức đòi hỏi giáo viên cần tâm huyết với nghề sẽ đạt được
hiệu quả cao.
3.2. Kiến nghị:
- Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo.

1. SGK Giáo dục quốc phòng – an ninh 11 – NXB Giáo dục.
2. Tài liệu tập huấn công tác QPAN năm học 2018-2019
3. Những hình ảnh minh họa được sử dụng từ nguồn dữ liệu Internet

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status