SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NHƯ THANH, NĂM HỌC 2014 - 2
MỘT SỐ KINH NGHIỆM ÔN THI THPTQG
MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT NHƯ THANH
THEO HÌNH THỨC TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
Người thực hiện: Nguyễn Xuân Tịnh
Chức vụ: TP chuyên môn
Đơn vị công tác: Trường THPT Như Thanh
SKKN thuộc môn: Lịch sử
THANH HOÁ, NĂM 2018
0
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU ..........................................................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................1
1.3. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................2
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.....................................................2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM....................................................2
2.1. Cơ sở lí luận....................................................................................................2
thức thi trắc nghiệm khách quan.
Môn Lịch sử chuyển sang hình thức thi trắc nghiệm là phù hợp với xu
hướng đổi mới của nền giáo dục nước ta để bắt kịp với nền giáo dục các nước
tiên tiến trên thế giới. Tính ưu việt của hình thức thi trắc nghiệm là sự khách
quan có thể đo lường và kiểm định chất lượng giáo dục bằng con số cụ thể,
không dựa vào cảm tính. Thông qua bài thi trắc nghiệm, chúng ta có thể phân
tích, đánh giá chất lượng bài thi, câu hỏi và kết quả. Với hình thức thi trắc
nghiệm, học sinh không phải học thuộc quá nhiều, chỉ cần đọc sách, hiểu bài và
biết kết nối các vấn đề, suy luận để lựa chọn các đáp án là có thể hoàn thiện bài
thi. Chính vì thế, đổi mới hình thức ôn thi THPTQG theo định hướng trắc
nghiệm khách quan là một khâu rất quan trọng, nhằm cải thiện chất lượng và
nâng cao hiệu quả dạy học, tạo tiền đề cho học sinh có thêm cơ hội bước vào
cổng trường đại học để thay đổi tương lai.
Là giáo viên đã nhiều năm đứng trên bục giảng, trước sự thay đổi về hình
thức thi trắc nghiệm khách quan đối với môn học, tôi luôn suy nghĩ, trăn trở phải
làm sao tìm ra những giải pháp hữu ích để đổi mới phương pháp dạy học và hình
thức ôn thi môn Lịch sử cho phù hợp với thực tiễn đang đặt ra hiện nay. Vậy, làm thế
nào để học sinh có thể học tập và ôn thi môn Lịch sử đạt hiệu quả? Có rất nhiều biện
pháp như: sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học và ôn thi nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập; hình thành cho học sinh các khái
niệm, thuật ngữ để hiểu rõ bản chất lịch sử; ôn thi theo bài, chương, chủ đề, chủ
điểm..., giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, có khả năng khái quát, tổng hợp
kiến thức; hướng dẫn học sinh tiếp cận với các dạng câu hỏi trong đề thi; rèn luyện
cho học sinh kĩ năng làm bài và cách xử lý tốt các tình huống trong mỗi đề thi.
Để góp phần đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp ôn thi
môn Lịch sử nói riêng ở trường THPT theo hình thức trắc nghiệm khách quan, nhằm
góp phần nâng cao chất lượng dạy - học môn Lịch sử, tôi xin trình bày “Một số kinh
nghiệm ôn thi THPTQG môn Lịch sử ở Trường THPT Như Thanh theo hình thức
trắc nghiệm khách quan”. Đây là SKKN được đúc rút trong thực tiễn ôn thi
THPTQG cho học sinh Trường THPT Như Thanh. Tôi hi vọng, với đề tài SKKN
- Đưa ra một số giải pháp kinh nghiệm trong công tác ôn thi THPTQG môn Lịch sử
hiện nay ở trường THPT theo hình thức trắc nghiệm khách quan.
- Định hướng cho học sinh phương pháp ôn thi môn Lịch sử theo định hướng trắc
nghiệm đạt hiệu quả.
- Rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm bài môn Lịch sử theo hình thức thi trắc nghiệm.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận
Căn cứ vào lí luận dạy học theo đặc trưng bộ môn Lịch sử, chúng ta có
thể khẳng định rằng, chất lượng dạy - học môn Lịch sử ở trường THPT là kết
quả đạt được sau một quá trình lao động sáng tạo của người dạy và người học.
Nó được thể hiện trên cả ba mặt mà mục tiêu của bộ môn Lịch sử yêu cầu là:
giáo dục, giáo dưỡng và phát triển. Quá trình dạy học nói chung, dạy học môn
Lịch sử nói riêng ở trường THPT bao gồm nhiều hình thức tổ chức khác nhau,
trong đó ôn thi THPTQG là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mỗi nhà trường.
Kết quả đạt được trong kì thi THPTQG là sự phản ánh cao nhất chất lượng dạy - học
của giáo viên và học sinh. Chính bởi vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học và ôn
thi môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay theo định hướng trắc nghiêm khách quan là
một tất yếu đối với mỗi giáo viên đang trực tiếp giảng dạy.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
Theo phương án thi THPTQG, từ năm học 2016-2017, Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã quyết định môn Lịch sử được thi theo hình thức trắc nghiệm khách
2
quan. Trước sự thay đổi của kì thi quan trọng này đã gây không ít lo lắng đối với
giáo viên và học sinh trong quá trình dạy - học và ôn thi. Hình thức thi thay đổi,
bắt buộc giáo viên phải thay đổi phương pháp dạy học và ôn thi; học sinh phải
thay đổi phương pháp học, cách ôn thi và phương pháp làm bài cho phù hợp với
hình thức thi mới. Việc tổ chức và hướng dẫn học sinh ôn tập, làm bài thi trắc
nghiệm cũng cần được thay đổi một cách nghiêm túc và bài bản hơn.
Đáp ứng yêu cầu đổi mới về hình thức thi trắc nghiệm khách quan môn
Lịch sử ở trường THPT hiện nay, đòi hỏi việc giảng dạy của giáo viên và học tập
của học sinh cũng phải điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn
đang đặt ra đối với môn học. Để đạt được điểm cao, học sinh phải nắm vững
kiến thức cơ bản trong SGK, hiểu bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử, biết
kết nối các vấn đề, biết suy luận và liên hệ với thực tiễn; dựa trên cơ sở đó, các
em mới có nền tảng kiến thức vững chắc, đủ tự tin trong khi làm bài thi. Đổi mới
phương pháp ôn thi môn Lịch sử ở trường THPT Như Thanh theo định hướng
3
thi trắc nghiệm khách quan, trong thời gian qua, tôi đã thực hiện một số giải
pháp như sau:
2.3.1. Khai thác và sử dụng sơ đồ tư duy trong ôn thi môn Lịch sử.
Đặc thù của môn Lịch sử là hiện hữu nhiều mốc sự kiện, không gian, thời gian đã
diễn ra trong quá khứ. Việc tiếp thu và nghi nhớ nội dung bài học theo phương pháp dạy
học truyền thống trước đây bằng hình thức nghi chép theo dàn ý chi tiết để nhớ sự kiện,
nội dung dễ gây cho học sinh sự nhàm chán, nhanh quên kiến thức bài cũ trước khi học
bài mới. Để khắc phục thực trạng đó, trong dạy học và ôn thi môn Lịch sử hiện nay ở
trường THPT Như Thanh, tôi đã hướng dẫn học sinh cách khai thác và sử dụng sơ đồ tư
duy theo những hình thức khác nhau như bổ dọc, xẻ ngang... cho phù hợp với đặc trưng
từng mục, bài, chương... Nếu giáo viên biết khai thác và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy
học và ôn thi hiệu quả sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
trong học tập. Học sinh sẽ cảm thấy hứng thú, chủ động và tự tin hơn trong học tập để
tìm hiểu, khám phá tri thức theo tư duy sáng tạo và tái tạo của mình. Học sinh không
hoàn toàn bị lệ thuộc vào ý kiến mang tính áp đặt chủ quan của giáo viên. Ôn thi môn
Lịch sử theo định hướng trắc nghiệm khách quan, tôi thường khai thác và sử dụng sơ đồ
tư duy để củng cố bài học. Nếu học sinh biết sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình
ôn thi sẽ giúp các em có khả năng khái quát và tổng hợp kiến thức bài học.
Một số ví dụ minh họa cho phương pháp ôn thi bằng sơ đồ tư duy tôi đã
gặp. Thông qua việc hình thành các khái niệm lịch sử, giáo viên sẽ giúp học sinh
hiểu và nhận thức một cách đầy đủ, chính xác, khách quan về lịch sử. Học sinh sẽ
không bị nhầm lẫn giữa khái niệm lịch sử này với khái niệm lịch sử khác.
Ví dụ 1: Khi ôn thi bài 16 - SGK 12: “Phong trào giải phóng dân tộc và
Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra
đời”. Để học sinh nắm vững kiến thức bài học, trong giảng dạy và ôn thi, giáo
viên phải hình thành cho học sinh một số khái niệm lịch sử quan trọng như:
Cách mạng giải phóng dân tộc, Cách mạng vô sản, Cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân, Cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới...
Ví dụ 2: Khi ôn thi phần lịch sử Việt Nam lớp 12 giai đoạn (1954-1975).
Giáo viên phải hình thành cho học sinh một số khái niệm lịch sử cơ bản
như: Chủ nghĩa thực dân cũ, chủ nghĩa thực dân mới, các loại hình chiến tranh
thực dân mới của Mĩ đã thực hiện ở miền Nam Việt Nam (Chiến tranh đơn
phương, Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Chiến lược Việt Nam hoá
chiến tranh, Đông Dương hoá chiến tranh).
Ví dụ 3: Khi ôn thi phần lịch sử thế giới hiện đại lớp 12 (1945-2000).
Giáo viên phải hình thành cho học sinh những khái niệm lịch sử cơ bản
như: Chiến lược toàn cầu, Chiến tranh lạnh, Chủ nghĩa thực dân cũ, Chủ nghĩa
thực dân mới, Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng XHCN, Chủ
nghĩa phân biệt chủng tộc Apácthai, Cách mạng khoa học - kĩ thuật, Cách mạng
khoa học - Công nghệ...
Trong dạy học và ôn thi, nếu giáo viên hình thành cho học sinh những
khái niệm cơ bản sẽ giúp cho các em hiểu đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn về
lịch sử. Khi đã hiểu rõ các khái niệm lịch sử, học sinh sẽ dễ dàng làm tốt những
câu hỏi trong bài thi có liên quan đến khái niệm lịch sử. Học sinh sẽ không bị
nhầm lẫn đáng tiếc giữa khái niệm lịch sử này với khái niệm lịch sử khác. Vì
trong thực tế, một số khái niệm lịch sử có những điểm tương đồng về nội dung,
nhưng lại khác nhau về bản chất nên rất dễ làm cho học sinh bị nhầm lẫn một
cách đáng tiếc.
2.3.3. Ôn thi bám sát chương trình SGK THPT theo chuẩn kiến thức, kĩ
cho mỗi bài. Trong ôn thi, giáo viên cũng cần lưu ý giới thiệu cho học sinh một
số kiến thức cơ bản phần giảm tải, nhưng lại có trong chương trình thi.
Ví dụ: Trong chương trình SGK THPT lớp 12 hiện nay gồm có 27 bài, trừ
bài 25 và một số phần, mục giảm tải theo bài, giáo viên sẽ không dạy những
phần này. Tuy nhiên, ở những phần giảm tải theo từng mục, từng bài, giáo viên
phải giới thiệu cho học sinh nắm những kiến thức cơ bản. Để khi làm bài thi, các
em có thể liên hệ, vận dụng kiến thức phần giảm tải để làm bài đạt hiệu quả.
Ôn thi theo giai đoạn - thời kì lịch sử: Mỗi giai đoạn, thời kì lịch sử đều
có những nội dung và kiến thức đặc thù khác nhau, nhưng lại có mối quan hệ
với nhau do bị chi phối bởi hoàn cảnh, điều kiện, nội dung lịch sử. Các sự kiện,
nội dung, hiện tượng lịch sử ngoài những điểm riêng còn có đặc điểm tương
đồng với nhau. Ôn theo giai đoạn lịch sử sẽ giúp học sinh có khả năng khái quát,
tổng hợp kiến thức theo từng giai đoạn cụ thể.
Ví dụ: Khi ôn phần Lịch sử Việt Nam từ 1919-2000, giáo viên hướng dẫn
học sinh ôn theo từng giai đoạn trong một quá trình diễn ra liên tục của các sự
kiện lịch sử theo trình tự thời gian như sau: giai đoạn 1919-1930, 1930-1945,
1945-1946, 1946-1954, 1954-1975, 1975-2000. Mỗi sự kiện mở đầu của từng
giai đoạn được đánh dấu một thời kì phát triển của dân tộc trong bối cảnh lịch sử
khác nhau. Học sinh cần nắm vững nội dung, nhiệm vụ của mỗi giai đoạn để từ
đó rút ra mối quan hệ tương tác, biện chứng của từng giai đoạn lịch sử gắn liền
với những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng. Hoàn cảnh của lịch sử thay đổi, đối
tượng đấu tranh và mục tiêu cách mạng cũng thay đổi cho phù hợp với chủ
trương, khẩu hiệu đấu tranh, hình thức và nhiệm vụ cách mạng theo từng giai
đoạn, thời kì. Ôn thi theo giai đoạn lịch sử sẽ giúp học sinh nắm kiến thức một
cách logic mang tính hệ thống hơn. Sau khi ôn xong mỗi giai đoạn lịch sử, giáo
7
viên cho học sinh làm bài tập trắc nghiệm để củng cố kiến thức, giúp học sinh có
khả năng khái quát kiến thức theo từng giai đoạn lịch sử.
Ví dụ 1: Vào đầu năm 1945, Hội nghị Ianta được tổ chức ở nước nào?
A. Liên Xô.
B. Anh.
C. Pháp.
D. Mĩ.
Ví dụ 2: Nguyên nhân chủ yếu buộc Mĩ và Liên Xô tuyên bố chấm dứt Chiến
tranh lạnh là
A. cuộc chạy đua vũ trang làm cho hai nước tốn kém, suy giảm nhiều mặt.
B. tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa.
C. sự khủng hoảng trầm trọng của Liên Xô cuối những năm 80 của thế kỉ XX.
D. sự vươn lên của Nhật Bản, Tây Âu cạnh tranh mạnh mẽ.
Ví dụ 3: Mục tiêu của Bộ Chính trị, Đảng Lao động Việt Nam khi quyết định
mở chiến dịch Điện Biên Phủ (12-1953) là
8
A. làm lung lay ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc thực dân Pháp
phải kí Hiệp định Giơnevơ.
B. làm xoay chuyển cuộc chiến tranh ở Đông Dương, tạo điều kiện cho
đấu tranh ngoại giao.
C. tiêu diệt lực lượng địch ở đây, giải phóng vùng Tây Bắc, tạo điều kiện giải
phóng Bắc Lào.
D. làm phá sản kế hoạch Nava, giành thắng lợi quyết định kết thúc chiến tranh.
2.3.4.2. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh chọn câu trả lời “đúng” hoặc “sai”
Đây là dạng câu hỏi dễ, ở mức độ nhận biết, thông thường, với dạng câu
hỏi này, yêu cầu học sinh tìm phương án trả lời đúng. Nhưng đôi khi lại có có
một số câu hỏi theo kiểu “nội dung nào sau đây không đúng trong...” sẽ khiến
học sinh rất dễ chọn nhầm đáp án theo yêu cầu của câu hỏi nếu thiếu tính cẩn
thận, chủ quan trong làm bài, hoặc không đọc kĩ lời dẫn đã vội đưa ra đáp án.
Cũng có thể là do học sinh không nắm vững kiến thức nên đã chọn đáp án sai.
Ví dụ 1: Đánh giá nào là đúng đắn nhất về vai trò của giai cấp công nhân đối
với sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam giai đoạn 1919-1929?
A. Là lực lượng có tinh thần cách mạng triệt để, có khả năng lãnh đạo
cách mạng.
B. Là lực lượng xã hội tiên tiến, đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, là một
động lực và có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng.
C. Là lực lượng có trình độ cao nhất, có tính kỉ luật, có khả năng lãnh đạo
cách mạng.
D. Là lực lượng cách mạng đông đảo, nắm vai trò lãnh đạo của cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Ví dụ 2: Bài học kinh nghiệm quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam
được rút trong việc lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 là gì?
A. Phải có chủ trương và biện pháp phù hợp với tình hình thực tiễn cách mạng.
B. Tổ chức, lãnh đạo quần chúng đấu tranh bằng nhiều hình thức.
C. Xây dựng khối liên minh công - nông và mặt trận dân tộc thống nhất.
D. Phân hóa, cô lập cao độ kẻ thù để thực hiện các giải pháp cụ thể.
Ví dụ 3: Ý nghĩa lớn nhất về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là:
A. sự kết hợp tất yếu của quá trình đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp
ở Việt Nam.
B. mở ra bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam.
C. chấm dứt thời kì khủng hoảng về đường lối của cách mạng Việt Nam.
D. là bước chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính chất quyết định cho bước phát
triển nhảy vọt về sau của cách mạng Việt Nam.
2.3.4.4. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh hoàn thành câu bằng hình thức điền
vào ô trống những kiến thức đúng.
Đây là dạng câu hỏi không khó, tuy nhiên, để làm tốt dạng câu hỏi này đòi
hỏi học sinh không chỉ nắm vững nội dung kiến thức SGK, mà còn phải học
thuộc những nội dung kiến thức quan trọng ở mỗi bài học, đặc biệt chú ý một số
B. Ngoại trưởng Mĩ Đalét.
C. Thủ tướng Pháp Lanien.
D. Tướng Nava.
2.3.4.5. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh sắp xếp, kết nối các sự kiện lịch sử
diễn ra theo trình tự thời gian.
Đây là dạng câu hỏi dễ, ở mức độ nhận biết, nhưng để làm được câu hỏi
này, yêu cầu học sinh phải nắm chắc các mốc thời gian diễn ra sự kiện, hiện
tượng lịch sử, biết kết nối các sự kiện với nội dung lịch sử theo đúng trật tự
logic, sự kiện nào có trước, sự kiện nào có sau, sự kiện nào quyết định sự kiện
nào, sự kiện nào là nguyên nhân, sự kiện nào là hệ quả...
Ví dụ 1: Sắp xếp sự ra đời của các hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất trong
cách mạng Việt Nam theo thứ tự thời gian diễn ra.
1. Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương.
2. Mặt trận dân chủ Đông Dương.
3. Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương.
4. Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh.
A. 3-2-1-4.
B. 1-2-3-4.
C. 4-1-2-3.
D. 2-1-3-4.
Ví dụ 2: Nối thời gian với hoạt động cứu nước ban đầu của Nguyễn Tất Thành
(1911-1918)
Những hoạt động cứu nước ban đầu
Thời gian
1. Ra đi tìm đường cứu nước
a) Từ 1911-1917
2. Chọn hướng đi về phương Tây, đi nhiều nước và làm
b) Cuối năm 1917
nhiều công việc khác nhau
3. Trở lại nước Pháp, tham gia hoạt động trong Hội những c) Tháng 6-1911
2.3.4.6. Dạng câu hỏi yêu cầu học sinh phải lựa chọn ý phủ định.
Đây là dạng câu hỏi ở mức độ vận dụng và vận dụng cao, yêu cầu học sinh
tìm ra “đáp án sai” hoặc buộc thí sinh phải nêu quan điểm khoa học của mình trước
câu hỏi đặt ra để lựa chọn đáp án cho phù hợp với cách hỏi của lời dẫn.
Ví dụ 1: Nội dung nào không làm sáng tỏ cho nhận định: “Phong trào cách
mạng 1930 - 1931 là cuộc tập dượt lần thứ nhất chuẩn bị cho thắng lợi của
Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam”?
A. Phong trào 1930 - 1931 có quy mô rộng lớn, mang tính chất triệt để,
hình thức đấu tranh phong phú và quyết liệt.
B. Khối liên minh công - nông được hình thành, Đảng Cộng sản Đông
Dương được công nhận là phân bộ độc lập, trực thuộc Quốc tế Cộng sản.
C. Phong trào 1930 - 1931 để lại cho Đảng Cộng sản Đông Dương nhiều bài
học kinh nghiệm quý báu về công tác tư tưởng, vai trò của liên minh công - nông
và mặt trận dân tộc thống nhất, về lãnh đạo và tổ chức quần chúng đấu tranh.
D. Đây là phong trào cách mạng đầu tiên do Đảng lãnh đạo, khẳng định
đường lối đúng đắn của Đảng và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Ví dụ 2: Nhận xét nào dưới đây không đúng về cuộc Cách mạng tháng Tám
năm 1945 ở Việt Nam?
A. Đây là cuộc cách mạng diễn ra nhanh, gọn, ít đổ máu, bằng phương
pháp hoà bình.
B. Đây là cuộc cách mạng đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa.
C. Đây là cuộc cách mạng diễn ra với sự kết hợp khởi nghĩa ở cả nông
thôn và thành thị.
D. Đây là cuộc cách mạng diễn ra với sự kết hợp lực lượng chính trị và
lực lượng vũ trang.
2.3.4.7. Dạng câu hỏi có đáp án gần giống nhau.
Đây là câu hỏi ở mức độ vận dụng cao, khi bắt gặp dạng câu hỏi này trong
đề thi, học sinh rất khó lựa chọn đáp án chính xác nếu không nắm vững kiến
thức, hiểu rõ bản chất của lịch sử nên dễ chọn đáp án sai.
Ví dụ 1: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch có đoạn: “Bất kì
C. Thực dân Pháp.
D. Quân Trung Hoa Dân quốc.
Ví dụ 2: Điểm mới của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Đông Dương tháng (5/1941) so với Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng
(11/1939) là:
A. thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi để chống đế quốc.
B. đề cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, chống đế quốc và chống phong kiến.
C. giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi khuôn khổ từng nước Đông Dương.
D. tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thực hiện giảm tô, giảm tức.
Ví dụ 3: Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc và sự ra đời nước Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa đã làm cho
A. hệ thống thuộc địa của CNTD bị sụp đổ.
B. trật tự hai cực Ianta tan rã.
C. CNXH vượt qua phạm vi một nước, trở thành hệ thống thế giới.
D. CNXH trở thành hệ thống thế giới trải rộng từ châu Âu sang châu Á.
2.3.4.9. Dạng câu hỏi khó lựa chọn đáp án đúng.
Đây là câu hỏi khó, ở mức độ vận dụng cao, nếu gặp dạng câu hỏi này,
học sinh rất dễ bị mất điểm. Chính vì thế, trong quá trình làm bài, yêu cầu học
sinh phải đọc kĩ câu hỏi rồi cân nhắc kĩ mới đưa ra phương án trả lời.
Ví dụ 1: Nguyên nhân cơ bản dẫn đến Mĩ tiến hành cuộc đảo chính lật đổ chính
quyền Ngô Đình Diệm (1-11-1963) là do
A. mẫu thuẫn trong nội bộ chính quyền Sài Gòn.
B. Mĩ giật dây các tướng lĩnh trong quân đội Sài Gòn.
13
C. những thắng lợi vang dội của quân và dân miền Nam trên tất cả các
mặt trận, đặc biệt là quân sự.
D. Sự suy yếu, khủng hoảng của chính quyền Ngô Đình Diệm.
Ví dụ 2: Mùa Xuân năm 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân
C. Chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947.
D. Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.
2.3.4.11. Dạng câu hỏi kiến thức không có trong SGK yêu cầu học sinh phải
biết suy luận, vận dụng kiến thức đã học để làm bài.
Trong đề thi THPTQG có những câu hỏi là lời dẫn không có trong SGK.
Để làm tốt dạng câu hỏi này, yêu cầu học sinh không chỉ nắm vững kiễn thức cơ
bản mà còn phải tìm hiểu thêm một số kiến thức bên ngoài có liên quan đến mỗi
bài học để tích luỹ thêm kiến thức. Khi đã có đủ kiến thức theo chiều rộng và
chiều sâu, học sinh sẽ dễ dàng làm tốt các dạng câu hỏi có lời dẫn dạng như vậy
trong mỗi đề thi để đạt được điểm cao.
14
Ví dụ 1: Vận dụng kiến thức đã học và dựa vào hiểu biết của bản thân, lựa chọn
phương án thích hợp để hoàn thiện đoạn trích sau: “Giống như mặt trời chói lọi,
..... chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức,
bóc lột, trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng cuộc cách mạng nào có
ý nghĩa to lớn và sâu sắc như thế”.
A. Cách mạng tư sản Pháp.
B. Cách mạng tháng Tám.
C. Cách mạng tháng Mười Nga.
D. Cách mạngTân Hợi.
Ví dụ 2: “Người Việt Nam ta giữ vững trong tim lời thề. Mười chín tháng Tám
chớ quên là ngày khởi nghĩa. Hạnh phúc sáng tô non sông Việt Nam”. Những
câu hát trên của nhạc Sĩ Xuân Oanh đã nói về sự kiện lịch sử nào ở nước ta?
A. Giải phóng Thủ đô.
B. Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc Lập.
C. Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội.
D. Nhân dân Hà Nội đánh tan cuộc tập kích bằng máy bay B52 của đế
quốc Mĩ.
Ví dụ 3. Tính chất điển hình của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là
cuộc cách mạng
A. giải phóng dân tộc.
B. dân chủ tư sản kiểu mới.
C. dân chủ tư sản kiểu cũ.
D. dân tộc, dân chủ nhân dân.
2.3.5. Hướng dẫn học sinh cách tự ôn thi ở nhà
Kiến thức các môn học nói chung, môn Lịch sử nói riêng ở trường THPT
hiện nay rất rộng. Học sinh học trên lớp theo PPCT của Bộ Giáo dục & Đào tạo,
học phụ đạo 1 buổi/tuần/môn theo khối học vẫn chưa đủ, nếu các em không có ý
thức và thói quen tự giác trong học tập. Để đảm bảo kiến thức cho kì thi
THPTQG, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh một số phương pháp tự học và
ôn thi. Việc tự học và ôn thi ở nhà của học sinh phải được thực hiện một cách
thường xuyên gắn với sự theo dõi sát xao của giáo viên bộ môn. Ngày nay, do sự
bùng nổ công nghệ thông tin nên việc sử dụng mạng Internét, các nguồn tài liệu
tham khảo phục vụ cho việc học rất dễ dàng nếu các em có ý thức tự giác trong
học tập. Học sinh có thể tự học ở nhà theo một số định hướng của giáo viên như
sau:
Thứ nhất: Học sinh biết khai thác và sử dụng có hiệu quả kiến thức trong
SGK từ khâu học bài cũ, chuẩn bị bài mới, làm đề thi trắc nghiệm từ nhiều
nguồn sách ôn thi trắc nghiệm THPTQG, các đề thi tham khảo khác nhau trên
mạng của các trường THPT trong cả nước.
Thứ hai: Học sinh biết khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên trên mạng
Internét, đăng kí làm thành viên trên diễn đàn tự học khối C để giải đề thi trắc
nghiệm của các trường THPT, giáo viên đưa lên, học trên mạng online, lớp học
trực tuyến của những giáo viên có kinh nghiệm và uy tín trong giảng dạy và ôn
thi môn Lịch sử.
Thứ ba: Học sinh có thể tự biên soạn những câu hỏi trắc nghiệm sau khi
câu hỏi trắc nghiệm. Vì thế, thời gian là một yêu tố rất quan trọng giúp học sinh
làm tốt bài thi. Vậy, làm thế nào để các em hoàn thành bài thi một cách tốt nhất
mà không bị thiếu thời gian. Trong quá trình dạy học và ôn thi, giáo viên nên
trang bị cho học sinh một số kinh nghiệm và kĩ năng cần thiết trong làm bài, tránh
những trường hợp đáng tiếc xảy ra như: tập trung nhiều thời gian cho câu khó để
mất thời gian làm câu dễ. Những câu dễ học sinh lại chủ quan, đọc qua lời dẫn đã
chọn đáp án vội vã nên làm sai, làm nhầm, lúng túng không biết xử lí các câu hỏi
khó trong đề thi. Bằng kinh nghiệm ôn thi của mình, tôi đã hướng dẫn học sinh một
số kinh nghiệm trong làm bài thi trắc nghiệm môn Lịch sử như sau:
Không nên giành nhiều thời gian cho một số câu hỏi quá khó mà bản thân
đang còn phân vân, chưa đủ tự tin để đưa ra sự lựa chọn quyết định. Không nhất
thiết phải làm bài thi theo trình tự các câu hỏi trong đề thi. Việc đầu tiên trong
quá trình làm bài, học sinh phải đọc qua một lượt các câu hỏi, xem những câu
hỏi nào mà mình biết rồi thì dùng bút chì đánh dấu vào đề thi. Sau khi làm hết
những câu hỏi “tương tự” mình biết chắc chắn là đúng thì làm đến những câu
hỏi khó hơn. Đối với những câu hỏi còn phân vân 50/50 thì dùng phương pháp
loại trừ, hoặc dựa vào sự phỏng đoán theo linh cảm của bản thân, tuyệt đối
không được để trống đáp án nào.
2.3.6.2. Phải tìm được “từ khóa” trong mỗi câu hỏi.
Từ khoá trong mỗi câu hỏi chính là điểm mấu chốt để giúp học sinh giải
quyết vấn đề. Mỗi khi đọc xong câu hỏi, bước đầu tiên học sinh phải tìm được
“từ khoá” trong mỗi câu hỏi nằm ở đâu. Điều này rất quan trọng giúp học sinh
định hướng được câu hỏi có liên quan đến vấn đề gì? Đáp án nào sẽ gắn liền với
“từ khoá” đó. Tìm ra “từ khoá” chính là cách nhanh nhất để học sinh lựa chọn
được đáp án đúng và chính xác cho mỗi câu hỏi, tránh cho học sinh tình trạng
lạc đề hoặc nhầm lẫn các dữ liệu trong việc lựa chọn đáp án.
Ví dụ 1: Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, để giải quyết căn bản nạn đói,
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi
A. “Tấc đất tấc vàng”.
B. “Không một tấc đất bỏ hoang”.
học sinh dùng phương pháp loại trừ. Đây là một cách hữu hiệu để giúp học sinh
tìm ra câu trả lời đúng. Mỗi câu hỏi thường có 4 đáp án, những đáp án đều
không có sự khác nhau nhiều lắm về nội dung. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung
cũng như cách hỏi của từng câu dẫn, học sinh có thể loại trừ bằng “mẹo” trong
khi làm bài như sau: Thay vì tìm đáp án “đúng”, học sinh lại tìm ra đáp án
“sai”. Đây cũng là một cách hay, càng loại trừ được nhiều phương án sai càng
tốt. Khi thấy không còn đủ cơ sở để loại trừ nữa thì dùng cách phỏng đoán. Học
sinh tự nhận thấy phương án nào có tính khả thi, đủ tin cậy hơn thì khoanh vào
phiếu trả lời trắc nghiệm. Đây là cách cuối cùng để học sinh tìm ra phương án
đúng cho câu hỏi theo suy luận mang tính chủ quan của mình.
Ví dụ 1: Điểm khác của tình hình nước Mĩ so với các nước Đồng minh sau
Chiến tranh thế giới thứ hai là:
A. Sở hữu vũ khí nguyên tử và nhiều loại vũ khí hiện đại khác.
B. Chú trọng đầu tư phát triển khoa học - kĩ thuật.
C. Không bị tàn phá về cơ sở vật chất và thiệt hại về dân thường.
D. Thành lập liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO).
Ví dụ 2: Vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một bước ngoặt lịch sử vĩ đại
của lịch sử cách mạng Việt Nam?
A. Đã kết thúc thời kì phát triển của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản.
B. Đưa giai cấp công nhân và nông dân lên nắm quyền lãnh đạo cách mạng.
C. Chấm dứt thời kì khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng.
D. Chấm dứt tình trạng chia rẽ giữa các tổ chức chính trị ở Việt Nam.
18
Ví dụ 3: Nhận xét nào dưới đây không đúng về cuộc Cách mạng tháng Tám
năm 1945 ở Việt Nam?
A. Đây là cuộc cách mạng diễn ra nhanh, gọn, ít đổ máu, bằng phương
pháp hoà bình.
B. Đây là cuộc cách mạng đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa.
Thi trắc nghiệm là một hình thức thi mới đối với môn Lịch sử. Để học
sinh đạt kết quả cao trong kì thi THPTQG, trong quá trình dạy học và ôn thi,
giáo viên phải cho học sinh làm nhiều đề thi trắc nghiệm để củng cố kiến thức,
rèn luyện kĩ năng làm bài, tạo cho học sinh một tâm lí tốt khi bước vào kì thi
quan trọng này. Khi biên soạn đề thi THPTQG cho học sinh thi thử, giáo viên
phải đầu tư nhiều thời gian để làm đề. Đề thi phải dựa vào cấu trúc, Ma trận đề
thi THPTQG theo yêu cầu của Bộ Giáo dục & Đào tạo, dựa trên sự tham khảo
đề thi mẫu của Bộ, đề thi THPTQG của nhiều trường THPT khác. Đề thi giáo
viên biên soạn phải đảm bảo theo 4 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng,
vận dụng cao.
19
Trong làm bài thi trắc nghiệm, giáo viên sẽ phát hiện ra nhiều điểm yếu
của học sinh trong quá trình học tập và ôn thi về kiến thức cũng như các kĩ năng,
thao tác và kinh nghiệm làm bài. Thông qua các bài thi, học sinh sẽ củng cố
được kiến thức, va chạm với nhiều dạng câu hỏi khác nhau trong đề thi. Làm
nhiều đề thi, học sinh càng thêm nhuần nhuyễn về kiến thức, hạn chế được
những yếu kém của mình trong quá trình học tập và ôn thi, rèn luyện cho các em
những kĩ năng và kinh nghiệm làm bài. Nếu trong dạy học và ôn thi, giáo viên
không cho học sinh làm nhiều đề thi trắc nghiệm, học sinh sẽ ít được cọ sát để
kiểm tra kiến thức, thiếu kinh nghiệm làm bài. Chính vì thế, trong dạy học và ôn
thi, giáo viên phải cho học sinh làm nhiều bài thi, đề thi trắc nghiệm.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
“Một số kinh nghiệm ôn thi THPTQG môn Lịch sử ở Trường THPT Như
Thanh theo hình thức trắc nghiệm khách quan”, là một đề tài SKKN có tính thực
tiễn cao, được áp dụng hiệu quả trong quá trình ôn thi môn Lịch sử ở Trường
THPT Như Thanh những năm qua. Tôi thiết nghĩ, đề tài SKKN này không chỉ
được áp dụng hiệu quả trong quá trình ôn thi môn Lịch sử ở Trường THPT Như
Thanh, mà còn có khả năng ứng dụng và triển khai rộng rãi cho mọi đối tượng
13
14
12A4
12A4
12A4
12A5
12A4
12A4
12A4
12A4
12A5
12A4
12A4
Họ và tên
NGUYỄN THẾ NAM
LÊ THỊ VÂN
QUÁCH THỊ HOÀI
NGUYỄN VĂN SỸ
NGUYỄN THỊ LAN
NGUYỄN THỊ MINH
VŨ THỊ THUÝ
NGUYỄN THỊ TRANG
LÊ VĂN ĐỨC
HÀ THỊ HIỀN
VŨ VĂN MINH
Giới
11/09/1999
THANH HÓA
THANH HÓA
THANH HÓA
THANH HÓA
THANH HÓA
THANH HÓA
THANH HÓA
THANH HÓA
THANH HÓA
THANH HÓA
THANH HÓA
10
9.75
9.50
9.50
9.25
9.25
9.25
9.25
9.25
9
9
20
15
17
TRƯƠNG KHÁNH HUYỀN
LƯƠNG THANH TÙNG
LÊ THỊ KIỀU
QUÁCH THỊ TRINH
ĐỚI THỊ HẬU
LÔ VĂN HOÁ
MAI XUÂN HỢP
NGUYỄN KIM LIÊN
LÊ THỊ HOA
TRỊNH THỊ TRÀ
NGUYỄN HỮU MINH
LÊ THỊ NGỌC
Nam
Nữ
Nữ
Nam
Nữ
Nữ
Nữ
Nam
Nam
Nữ
Nữ
Nữ
Nam
Nữ
24/06/1999
10/11/1999
8.75
8.75
8.50
8.50
8.50
8.25
8.25
8.25
8.25
8.25
8
8
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Với SKKN “Một số kinh nghiệm ôn thi THPTQG môn Lịch sử ở Trường
THPT Như Thanh theo hình thức trắc nghiệm khách quan”, tôi nhận thấy, đề tài đã
đạt được những mục tiêu cơ bản đề ra của bộ môn là: nhiệm vụ giáo dục, giáo
dưỡng và phát triển. Với phương pháp ôn thi môn Lịch sử theo hình thức trắc
nghiệm khách quan, tôi đã giúp học sinh làm quen với cách ôn thi mới, hình
thành cho các em những kĩ năng, thao tác cần thiết để xử lí các dạng câu hỏi
khác nhau trong đề thi, rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm bài. Từ đó, học sinh
nhận thức sâu sắc hơn về vị trí và vai trò quan trọng của phương pháp ôn thi trắc
nghiệm trong quá trình học tập bộ môn Lịch sử ở trường THPT.
Tôi hi vọng, với SKKN này sẽ góp phần tích cực hơn nữa trong việc đổi
mới phương pháp dạy - học, phương pháp ôn thi môn Lịch sử ở trường THPT
hiện nay theo xu hướng trắc nghiệm khách quan. Với bản thân, tôi sẽ tiếp tục
phát huy những kết quả đạt được trong việc thực hiện SKKN, đúc rút kinh
nghiệm, khắc phục khó khăn để đề tài được triển khai rộng rãi cho các đối tượng
học sinh trong Nhà trường một cách hiệu quả và có chất lượng.
THPTQG để đáp ứng yêu cầu thi trắc nghiệm khách quan hiện nay.
- Phải luôn tìm tòi, sáng tạo, từng bước cải tiến phương pháp dạy học,
phương pháp ôn thi theo định hướng trắc nghiệm trong từng tiết học, bài học và
toàn bộ chương trình cho phù hợp với những đối tượng học sinh khác nhau.
- Phải thực sự tâm huyết, tận tình với công việc, yêu nghề, có tinh thần
trách nhiệm cao trước học sinh và tập thể sư phạm nhà trường.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯƠNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Nguyễn Xuân Tịnh
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu tập huấn cán bộ quản lí và giáo viên THPT về kĩ thuật xây dựng Ma
trận đề và biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan
2.Từ điển Thuật ngữ lịch sử phổ thông, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
3. Câu hỏi trắc nghiệm khách quan Lịch sử 11, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
4. Luyện thi THPTQG năm 2018, Khoa học Xã hội, NXB Giáo dục Việt Nam
5. Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm lịch sử 11, NXB Hà Nội
6. Hướng dẫn ôn tập trắc nghiệm lịch sử 11, NXB Đại học Thái Nguyên
7. Bài tập trắc nghiệm và lịch sử 11, NXB Giáo dục
8. Ôn luyện trắc nghiệm thi THPTQG năm 2018, môn Lịch sử - Tuyển chọn 45
đề tham khảo. PGS.TS Nguyễn Mạnh Hưởng - TS Nguyễn Văn Ninh, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội
9. Phương pháp dạy học lịch sử, NXBGD - 1998