Giáo dục trí tuệ cảm xúc(EQ) cho học sinh THPT qua việc dạy học nghữ văn trong nhà trường - Pdf 57

Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.

Lí do chọn đề tài
Trong đời sống, con người tác động đến thế giới khách quan cải tạo thế giới,

cải tạo xã hội nhằm phục vụ đời sống, đồng thời cũng cải tạo chính bản thân mình.
Không những thế, con người còn tỏ thái độ của mình với Thế giới. Khi nghe một bản
nhạc, một bài thơ hay, chứng kiến một hình ảnh thương tâm con người đều có những
rung động của riêng mình. Khi thỏa mãn hay không được thỏa mãn những nhu cầu
của bản thân, con người cũng có những cảm xúc tương ứng. Những hình ảnh tâm lí
biểu lộ những rung động, những thái độ của con người đối với sự vật, hiện tượng đó
gọi là cảm xúc và tình cảm.
Trong bối cảnh biến đổi không ngừng của Thế giới hiện nay, con người chúng
ta đã và đang chịu tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm nhất là ở lứa
tổi học sinh THPT - lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ
ham hiểu biết, thích tìm tòi, thích khám phá, song còn thiểu hiểu biết sâu sắc về xã
hội, chưa có đủ kinh nghiệm sống để đứng vững trước những đổi thay không ngừng
của xã hội, dễ bị lôi kéo, kích động, sa ngã, bắt trước những thói hư tật xấu. Ở lứa
tuổi này, nếu được trang bị đầy đủ kiến thức và đúng phương pháp các em sẽ có khả
năng giao tiếp tốt, có thể bình tĩnh và đưa ra những quyết định đúng đắn trong bất kì
tình huống khó khăn nào. Nhưng nếu không được định hướng đúng các em có thể
lầm đường, lạc lối, hoặc chán nản bi quan,... thiếu khả năng giao tiếp ứng xử là điều
rất dễ xảy ra. Điều này liên quan đến một loại năng lực mà xã hội hiện nay gọi là trí
tuệ cảm EQ Emotional Quotient.Khác với IQ, EQ có thể tăng lên dần qua quá trình
học hỏi, tích lỹ kinh nghiệm của mỗi người. Vì vậy việc đưa giáo dục về EQ vào
trường học hiện nay đang là một vấn đề được quan tâm của toàn xã hội.
Là một giáo viên dạy Ngữ văn, bản thân tôi luôn ý thức được sức mạnh và sứ
mạng của văn học nhà trường trong bối cảnh đất nước hiện nay. Bởi văn học là một
trong số ít những môn học có khả năng phát triển trí tuệ cảm xúc cho học sinh. Văn
học là một nơi chứa đựng một kho tàng các tình huống cảm xúc của con người, là


Phần 2: NỘI DUNG.
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
1. Khái niệm trí tuệ cảm xúc
Như chúng ta đã biết xúc cảm là hoạt động trí tuệ, chịu sự chi phối và kiểm
soát của trí tuệ. Trí tuệ dẫn đường cho cảm xúc biểu hiện một cách hợp lí, giải phóng
những cảm xúc tiêu cực, hướng đến cảm xúc tích cực và có lợi cho hành động của
chủ thể và những người xung quanh, làm thành động lực cho hoạt động của chủ thể.
Goleman là một trong những người đầu tiên nâng co nhận thức về trí tuệ cảm
xúc, là tác giả cuốn "Emotional Intelligence" một cuốn sách đột phá xuất hiện vào
năm 1995. Ông đã chứng minh được tầm qua trọng của trí tuệ cảm xúc EQ như sau:
Trí tuệ cảm xúc dự đoán thành công trong tương lai. Bởi nó ảnh hưởng tới các mối
quan hệ, sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
Trí tuệ cảm xúc EQ ảnh hưởng đến:

Sức khỏe
Hạnh phúc
Mức độ tinh thông nghề nghiệp
Ông ước tính rằng chỉ số IQ chiếm 20 các yếu tố quyết định thành công trong
cuộc đời, còn lại các yếu tố khác như EQ, tính khí, nền tảng gia đình và sự may mắn
thuần túy tạo nên sự cân bằng. Và điều này có nghĩa là IQ được làm tròn bằng các kĩ
năng xã hội - cảm xúc như động cơ, sự kiên trì, kiểm soát xung đột, cơ chế đối phó...,
thuộc về EQ.
Tóm lại, trí tuệ cảm xúc hay trí thông minh cảm xúc được hiểu là gì? Là năng
lực nhận biết và bày tỏ xúc cảm, hòa xúc cảm vào suy nghĩ để hiểu, suy luận về cảm
xúc để điều khiển, kiểm soát cảm xúc của mình và của người khác.
2. Các cấp độ và yếu tố cấu thành trí tuệ cảm xúc
EQ gồm cấp độ.
+ Nhận biết, cảm xúc: Nhận biết đúng cảm xúc của mình và cảm xúc của
những người xung quanh.

- Giúp gia đình hiểu nhau hơn và sống vui vẻ, hạnh phúc.
Như vậy chỉ số EQ cao sẽ giúp cho học sinh phát triển tốt kỹ năng giao tiếp,
diễn đạt, hòa đồng với bạn bè, thích ứng nhanh với cuộc sống. Điều này sẽ tạo cho
các em có một nền tảng tốt về nhân cách cũng như những kỹ năng cần thiết trong
cuộc sống để có thể thành công vững chắc sau này.
4. Sức mạnh và sứ mạng của văn học trong nhà trường đối với việc bồi dưỡng
giáo dục trí tuệ cảm xúc cho học sinh.
Văn học là một phương tiện giáo dục hết sức tinh tế, có khả năng tác động sâu
sắc vào tâm hồn, tư tưởng và nhận thức của con người. Từ lâu người ta đã nhận thấy
văn học là nguồn suối không bao giờ cạn của tri thức và kinh nghiệm sống mà con
người cần tiếp thu và phát triển. Người ta cũng thấy rõ vị trí, sức mạnh riêng của tác
4


phẩm văn học trong sự nghiệp giáo dục nói chung. Nó trở thành nội dung và phương
tiện hữu hiệu để giáo dục thế hệ trẻ. Nhà nghiên cứu phê bình văn học Nga
V.G.Bieelinxki đã từng nói: "Một tác phẩm viết cho thiếu nhi là để giáo dục mà giáo
dục là một sự nghiệp vĩ đại vì nó quyết định số phận con người"  V.G.Bieelinxki
toàn tập, tập IV, Matxcơva, NXB Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, 1974, trang 79.
Nói đến chức năng của văn học là nói đến mục đích, ý nghĩa xã hội của văn
học. Mĩ học và lí luận nghệ thuật Macxit hiện nay cho rằng văn học có nhiều chức
năng, song có các chức năng chủ yếu sau: Chức năng nhận thức, chức năng giáo dục
và chức năng thẫm mĩ. Với các chức năng ấy, văn học có ưu thế đặc biệt trong việc
thực hiện các nhiệm vụ giáo dục học sinh ở lứa tuổi học đường. Mỗi một bài thơ,
một truyện ngắn đều có thể phản ánh cuộc sống xã hội và con người với nhiều mối
quan hệ, cả những tình huống những mâu thuẫn phức tạp. Học văn giúp học sinh có
được lượng tri thức và kinh nghiệm sống đáng kể có thể nâng cao được trí tuệ cảm
xúc như: Tự nhận thức về suy nghĩ và hành vi của mình; tự kiểm soát cảm xúc tiêu
cực; hiểu được cảm xúc của những người xung quanh, có được kỹ năng giao tiếp, kỹ
năng thuyết trình, thương lượng, đàm phán, ra quyết định và giải quyết được những

càng chán ghét học văn. Môn văn không những đang mất dần vị thế vốn có mà còn
không thực hiện được mục tiêu giáo dục của môn học như đã nói ở trên. Hơn thế
nữa, chính việc không phát huy được vai trò của môn học cũng như sức mạnh và sứ
mạng của văn học trong nhà trường đã trở thành một trong những yếu tố dẫn đến
những hệ lụy vô cùng đau xót trong việc hình thành nhân cách, đạo đức, kỹ năng
sống của giới trẻ hiện nay.
Thời gian qua nhiều vụ việc vô nhân đạo, phản nhân văn, hay phi nhân tính
trong đời sống xã hoioj cũng như trong học đường diễn ra rất n hiều. GS.Phan Trọng
Luận đã viết "Chúng ta phải bận tâm nhiều việc như mưu sinh hàng ngày, nhà chụng
cư 18 tầng bị cháy, công nhân rơi từ tầng cao, đường sá mắc kẹt hàng ngày, mỡ lợn
lòng lợn thiu thối bán ra thị trường hàng ngày, kẹo phát sáng tran lan trong học
đường... Nhưng nỗi đau tinh thần này, cái gốc của mọi nỗi đau, mọi mất mát kia có
khi lại bị coi nhẹ hay chưa được quan tâm sâu sắc đúng mức. Chúng ta không thể
dửng dưng, không thể bàng quan, không thể không cùng nhau góp sức hãm phanh
nạn xuống cấp đạo đức này. Vì đây là sinh mệnh lâu dài của dân tộc, là bản chất tốt
đẹp của một xã hội văn minh, là động lực đi lên của đất nước..."
Gần đây việc dùng hóa chất để tẩy rửa thực phẩm thiu thối, ngâm ủ rau quả,
hay dùng pin Con Ó để làm giả cà phê, hồ tiêu bán kiếm lời... đang là những vấn đề
gây bức xúc trong dư luận. Hàng ngày mỗi khi đọc báo thấy rất ít tin bài biểu dương
người tốt, việc tốt. Đa số chỉ thấy đưa tin rất nhiều các vụ cướp của, giết người, tự
vẫn. Đau lòng hơn trong xã hội ngày nay căn bệnh trầm cảm ở người lớn, tự kỉ ở trẻ
em ngày một gia tăng. Bởi con người ta phải trải qua quá nhiều áp lực mà không
được học cách làm thế nào để tự mình thoát khỏi căng thẳng. Hiện tượng này xảy ra
6


ở cả lứa tuổi học sinh - lứa tuổi vô lo vô nghĩ, hồn nhiên yêu đời nhất: ngày 1-42010, một em học sinh quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh nhảy lầu tự tử. Ngay sau đó
là một sinh viên trường cao đẳng Tuy Hòa đốt xăng giết bạn tình rồi tự tử... Gần đây
hơn là một nam sinh trường Nguyễn Khuyến, TP Hồ Chí Minh cũng đã tìm đến cái
chết do áp lực học hành, một nữ sinh ở Bắc Giang bị giết ngay tại cổng trường vì


năm hô hào thay đổi phương pháp nhưng đa số học sinh bước vào nhà trường THPT
vẫn không chọn môn văn như một môn học yêu thích. Một môn học đáng lẽ khơi gợi
nhiều tình cảm, cảm xúc nhất ở học sinh thì lại trở thành một môn học ''cực hình''. Vì
các em vẫn giữ thói quen từ THCS, đó là phụ thuộc vào văn mẫu, học thuộc văn mẫu
để đối phó với các kì thi. Nhiều học sinh tâm sự với tôi, rằng các em phải thuộc
không sót một từ nào, không chỉ một mà nhiều bài văn mẫu, để làm theo ý cha mẹ,
thầy cô. Nghe chuyện này, tôi bất giác rùng mình vì các em đang dần bị biến thành
những cỗ máy ghi nhớ.
Thêm một vấn đề nữa, tâm lí học sinh ngày nay đã dữ dội, mãnh liệt và quyết
liệt hơn xưa. Đòng thời, họ cũng sống sòng phẳng hơn, thẳng thắng hơn. Họ dám
biểu hiện thái độ trực tiếp. Nhiều vấn đề xã hội , chính trị, văn hóa, nghệ thuật trong
sách vở, nhà trường quá ư lạc hậu, xa lạ và bức bối với họ. Làm sao cứ buộc học sinh
nghe một chiều lời ca ngợi những điều lí tưởng hóa trong khi chung quanh nhan nhản
những điều tiêu cực, khác xa những gì sách vở, nhà trường ca ngợi.... Và đây là một
vấn đề gây ra bởi nội dung chương trình sách giáo khoa của chúng ta chưa phù hợp.
Về phía người học: Thái độ lạnh lùng, thờ ơ của học sinh trước những nỗi đau
buồn của con người trong cuộc đời cũng như trong văn chương là điều khiến mỗi
chúng ta phải trăn trở, suy nghĩ. Tiếng kêu xé lòng của nàng Kiều, sự hi sinh của
những người lính Tây Tiến... đã chẳng thể làm các em mảy may rung cảm, xúc động.
Đó là những dấu hiệu không lành mạnh trong tâm hồn, tình cảm của học sinh. Đây
không phải là chuyện chữ nghĩa, văn chương, mà là vấn đề nhân văn, là chất lượng
phát triển tình cảm, tâm hồn học sinh. Điều đáng lo ngại là sự sa sút về nhân văn
không phải là hiện tượng lẻ tẻ, thưa thớt, mà đã trở thành một thứ tâm lí của học sinh
ngày nay. Nhiều giáo viên phàn nàn là trước những hành vi cao thượng, xả thân vì
nghĩa lớn của nhân vật anh hùng, nhiều học sinh không cso thái độ cảm phục, xúc
động mà có khi còn giễu cợt, nhạo báng. sự lạnh lùng, vô cảm của học sinh trước các
hình tượng văn học tất cũng sẽ dấn đến sự lạnh lùng vô cảm trước các hiện tượng
ngoài đời. Và bởi thế, trí tuệ cảm xúc từ đó mà bị ăn mòn, giảm sút.
Từ những nguyên nhân kể trên, có thể tựu chung lại rằng môn văn trong Nhà

đặc biệt, là trách nhiệm của mỗi người và mỗi quốc gia.
- Thấy rõ sức thuyết phục mạnh mẽ của bản thông điệp, tầm nhìn, tầm suy nghĩ
sâu rộng của tác giả.
- Hiểu được những ý nghĩa sâu sắc và những cảm xúc chân thành của tác giả.
- Hiểu được những suy nghĩ sâu sắc và những cảm xúc chân thành của tác giả.
Về kĩ năng: Biết trao đổi, trình bày ý kiến cá nhân về hiện trang, về giải pháp
để đấu tranh chống nguy cơ lây lan đại dịch HIV/AIDS để xây dựng một thế giới
lành mạnh.
Về thái độ: Nhận thức rõ ý thức trách nhiệm của từng cá nhân trong việc sát
cánh, chung tay đẩy lùi hiểm họa HIV/AIDS.
9


Trên cơ sở mục tiêu bài học này, giáo viên giúp học sinh hình thành trí tuệ cảm
xúc trên các phương diện sau:
- Nhận biết cảm xúc, thấu hiểu cảm xúc và tạo ra cảm xúc: Thông qua bài học
học sinh thấy được niềm thống thiết của C.Annan trước hiểm họa HIV/AIDS trên
toàn cầu. Từ đó đồng cảm, lắng nghe và chia sẻ.
- Suy nghĩ và sáng tạo: Biết suy nghĩ, đánh giá, bình luận về hiện trạng và
nguy cơ của đại dịch HIV/AIDS. Từ đó có thể đưa ra những giải pháp và việc làm
cần thiết của cá nhân và cộng đồng để đẩy lùi đại dịch ấy.
- Giao tiếp: Biết trình bày ý tưởng của cá nhân, biết lắng nghe, phản hồi tích
cực về hiện trạng và giải pháp để đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ lây lan của
đại dịch HIV/AIDS .
- Ra quyết định: Đưa ra những quyết định đúng đắn về những việc làm cụ thể
của các cá nhân và xã hội vì một thế giới không HIV/AIDS...
Việc nhận thức rõ khả năng có thể bồi dưỡng trí tuệ cảm xúc cho học sinh
trong mỗi bài học sẽ giúp giáo viên linh hoạt, lựa chọn các phương pháp dạy học phù
hợp với đối tượng học sinh và lựa chịn các tình huống học tập trong mỗi bài học hợp
lí hơn để giáo dục trí tuệ cảm xúc chọ học sinh.

khác quan trọng hơn, đấy là nội dung cảm hứng của văn bản, sản phẩm của việc thể
hiện những rung động mãnh liệt, cảm hứng nồng nàn, cháy bỏng của nghệ sĩ vào tác
phẩm. Đọc diễn cảm là làm sao lột tả được nội dung tình cảm của nó, phải đọc đúng
giọng điệu, làm lây lan cảm xúc của nhà văn đến người đọc, truyền cảm hứng cho
độc giả. Ngay tên gọi đã nói đúng bản chất của việc đọc diễn cảm, đó là người đọc
phải thể hiện xúc cảm, tình cảm trong giọng đọc.
Những cảm xúc này không phải giả tạo mà phải là cảm xúc chân thành, sâu sắc về
văn bản. Nói đọc diễn cảm thuộc nghệ thuật trình diễn trước hết không phải là “khoe
giọng” mà là sự thể hiện xúc động của trái tim. Chính vì thế, giáo viên sử dụng thích
đáng biện pháp này sẽ tạo cho học sinh những ấn tượng tươi mới, những xúc động
mạnh mẽ về văn bản; đồng thời nó có khả năng kích thích liên tưởng, tưởng tượng
tạo sự thâm nhập thuận lợi vào thế giới nghệ thuật của văn bản. Cho nên, đây là biện
pháp có tác dụng rèn luyện cảm thụ văn học cho học sinh.
3.Trần thuật sáng tạo:
11


Trần thuật sáng tạo là tự đặt mình vào một nhân vật nào đó trong văn bản mà trần
thuật lại câu chuyện của nó. Hình thức này phát huy sáng tạo của học sinh, rèn luyện
năng lực hoá thân, nhập thân vào nhân vật. Khi trần thuật, trong chừng mực nào đó,
học sinh phải đặt mình vào vị trí nhân vật, thể nghiệm những gì mà nhân vật nếm trải
trong tình huống của nó, từ đó hiểu sâu sắc hơn về nhân vật và mở rộng kinh nghiệm
đời sống. Biện pháp này khiến học sinh hào hứng học tập, xoá bỏ khoảng cách với
văn bản, phát huy được sự sáng tạo. Giáo viên phải thực hiện biện pháp này một
cách linh hoạt, không nên rập khuôn. Việc trần thuật có thể thay cho việc đọc, hoặc
thực hiện ở phần củng cố bài học, tuỳ vào đối tượng học sinh.
Giáo viên nhất thiết phải có sự động viên khích lệ cũng như những hướng dẫn,
uốn nắn cần thiết. Mục đích chính của trần thuật sáng tạo không phải là để học sinh
nắm vững hệ thống cốt truyện của văn bản mà là con đường để cảm thụ văn bản. Do
đó, giáo viên phải định hướng việc trần thuật vào lĩnh hội và thể nghiệm giá trị của

học sinh hiểu và cảm thông sâu sắc bi kịch của Chí Phèo. từ đó rút ra nhiều bài học
bổ ích cho bản thân, tôi đã thực hiện như sau:
Để giúp học sinh có khả năng thoát khỏi tình trạng bế tắc khi phân tích đoạn
văn miêu tả tiếng chửi của Chí Phèo có thể nêu những câu hỏi: Vì sao Chí Phèo
chửi? Chí Phèo chửi những đối tượng nào? Tiếng chửi ấy biểu hiện điều gì? Tiếng
chửi ấy có mang lại được điều gì hay có thay đổi được điều gì trong tình cảnh hiện
tại của Chí Phèo không?
Nếu không may các em lâm vào tình trạng cùng quẫn, bế tắc chúng ta có nên
chửi giống Chí Phèo không? Khi ấy chúng ta sẽ làm gì để thoát khỏi tình trạng ấy?
Hoặc khi phân tích đoạn sau 7, 8 năm đi tù về, Chí Phèo thay đổi hoàn toàn về
nhân hình và nhân tính. Để giúp học sinh có thể nhận biết và quản lí cảm xúc tôi đặt
những câu hỏi sau:
Hãy tìm những chi tiết miêu tả ngoại hình của Chí Phèo ở đoạn này? Những
chi tiêt về ngoại hình ấy so với trước kia cho ta thấy Chí Phèo đã thay đổi như thế
nào? Đó có còn là ngoại hình của một người lương thiện không? Ngoại hình ấy cho
ta thấy được điều gì bên trong con người Chí Phèo?
Như vậy, ngoại hình của con người phần nào nói lên tính cách. Vì thế chúng ta
cần phải có một ngoại hình như thế nào?
Hoặc để giúp học sinh có kĩ năng giải quyết xung đột một cách tích cực, khi
phân tích đoạn Chí Phèo đến nhà Bá Kiến để rạch mặt ăn vạ, giáo viên có thể hỏi:
13


Tại sao sau khi đi tù về, Chí Phèo không đến nhà ai khác mà laiị đến nhà Bá Kiến để
rạch mặt ăn vạ? Mục đích của hắn là gì? Hắn có thực hiện được mục đích ấy không?
Hắn đã lâm vào tình trạng như thế nào?...
Qua việc trả lời những câu hỏi về Chí Phèo, học sinh sẽ rút ra nhiều bài học
cho mình. Chẳng hạn tôi hỏi: Khi giải quyết xung đột chúng ta có cần xác định trúng
đối tượng không? Có cần chọn thời gian và địa điểm phù hợp không? Trong một
xung đột chúng ta có nên làm xấu thêm tình hình không?... Từ đó tôi định hướng cho

không rõ ràng để có thể thấy ngay tức thì. Nhưng tác dụng của nó thì vô cùng sâu sắc
và bền lâu. Có thể thấy ngay được , có cái phải trải nghiệm thời gian và thực tế cuộc
sống. Chỉ biết rằng áp dụng phương pháp này tôi nhận thấy giờ học văn trở nên sống
hơn rất nhiều. Các em hăng hái tham gia thảo luận các vấn đề của bài học. Các em đã
biết cách đặt mình vào tình huống của nhân vật trong tác phẩm, giúp họ giải quyết
những mâu thuẫn, bế tắc, những mối quan hệ phức tạp chằng chịt như nhân vật trong
tác phẩm “Chí Phèo”, “Vợ nhặt”, “Vợ chồng A Phủ”, “Chiếc thuyền ngoài xa”…
Khảo sát về vấn đề này,kết quả như sau:
*Trước khi thực nghiệm (Khảo sát đầu năm 2015-2016)
Lớp

Sĩ số

11A1
11A2

45
44

Hứng thú
SL
TL %
10/45
22.2%
12/44
27.3%

Ít hứng thú
SL
TL

TL
SL
TL
12A1
45
30/45
66.7%
10/45
22.2%
5/45
11.1%
12A2
45
27/44
61.4%
13/44
29.5%
4/44
9.1%
12A6
45
32/45
71.1%
8/45
17.8%
5/45
11.1%
Đặc biệt khi tôi cho học sinh tự kiểm nghiệm về sự thay đổi của bản thân trước và sau
Lớp


dạy học phù hợp để phát huy tính chủ động sáng tạo trong học tập nói riêng cũng
như trong giáo dục trí tuệ cảm xúc cho học sinh nói chụng. Từ đó giúp học sinh
không chỉ yêu thích môn văn mà còn xem môn văn như là một chìa khóa vàng để các
em mở được cánh cửa đến với cuộc đời rộng lớn một cách dễ dàng và gặt hái được
thành công.
Hướng đến giáo dục trí tuệ cảm xúc cho học sinh thông qua các tiết học Ngữ
văn còn giúp cho bộ môn lấy lại được vị trí vốn có của một môn học đặc thù - trong
đó có một sức mạnh không thể không nhắc đến của văn học là giúp con người có
thêm niềm tin yêu cuộc đời dù kết thúc của tác phẩm ấy có buồn thế nào đi chăng
nữa.
Đề tài "Giáo dục trí tuệ cảm xúc  EQ cho học sinh THPT qua việc dạy học
Ngữ văn trong Nhà trường" là tất cả những gì mà tôi trăn trở thực hiện từ năm học
2015-2016 cho đến nay. Trong phạm vi nhỏ hẹp của một sáng kiến kinh nghiệm tôi
không thể dẫn ra hết tất cả và cụ thể những gì mình đã làm. Nhưng tôi sẽ tiếp tục áp
dụng và phát triển để giúp học sinh có được trí tuệ cảm xúc và tình yêu đối với môn
Ngữ văn. Hi vọng qua đề tài này, tôi nhận được sự góp ý chân thành để việc làm của
mình được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa hơn.
17


2. Kiến nghị: Không.
Xin chân thành cảm ơn
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 15 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người viết


19


Phần 2: NỘI DUNG

2

I. Cơ sở lí luận của vấn đề

2

1. Khái niệm trí tuệ cảm xúc

2

2. Các cấp độ và yếu tố cấu thành trí tuệ cảm xúc

3

3.Vai trò, tác dụng của trí tuệ cảm xúc

4

4. Sức mạnh và sứ mạng của văn học trong nhà trường đối 4
với việc bồi dưỡng giáo dục trí tuệ cảm xúc cho học sinh
II. Thực trạng của vấn đề.

5

1. Thực trạng.

5. Giáo dục trí tuệ cảm xúc thông qua việc tổ chức hình 14
thức sân khấu hóa và loại hình trò chơi
6. Giáo dục kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết trình, đàm 14
phán, thương lượng thông qua thảo luận nhóm
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI 15
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

17

TÀI LIỆU THAM KHẢO

20


21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status