Thực hiện chính sách xã hội đối với thương, bệnh binh ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội hiện nay – Thực trạng và giải pháp - Pdf 57

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
------------------------

TRẦN THỊ KIM ÁNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
ĐỐI VỚI THƢƠNG, BỆNH BINH Ở
HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

HÀ NỘI - 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
------------------------

TRẦN THỊ KIM ÁNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
ĐỐI VỚI THƢƠNG, BỆNH BINH Ở
HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Ngƣời hƣớng dấn khoa học:

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi và các số liệu trong khóa luận
là trung thực. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm”.
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2019
Ngƣời thực hiện

Trần Thị Kim Ánh


BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KHXH

Khoa học xã hội

UBND

Ủy ban nhân dân

LĐTBXH

Lao động thƣơng binh xã hội

MTTQ

Mặt trận Tổ Quốc


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

bệnh binh trên địa bàn huyện Ba Vì ............................................................... 33
2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình thực hiện chính
sách xã hội đối với thương bệnh binh tại huyện Ba Vì ................................... 36
Tiểu kết chƣơng 2 ........................................................................................... 37
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI THƢƠNG
BỆNH BINH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ ........................................... 38
3.1. Một số phƣơng hƣớng nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
xã hội đối với thƣơng bệnh binh tại huyện Ba Vì .......................................... 38
3.1.1. Tiếp tục quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các nghị quyết, quan
điểm, chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề
chính sách xã hội đối với thương bệnh binh tại huyện Ba Vì ......................... 38
3.1.2. Các cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân các cấp tăng cường lãnh đạo,
chỉ đạo phòng Lao động thương binh xã hội, thực hiện một cách có hiệu
quả chính sách xã hội đối với thương bệnh binh tại địa bàn huyện Ba Vì ..... 39
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xã
hội đối với thƣơng bệnh binh tại huyện Ba Vì ............................................... 40
3.2.1. Trước hết cần phải đẩy mạnh của công tác tuyên truyền, phổ biến
chủ trương, chính sách đến với người dân ..................................................... 40
3.2.2. Thực hiện tốt việc tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi
đối với người có công; xử lý, giải quyết những trường hợp còn tồn đọng,
sai sót .............................................................................................................. 42


3.2.3. Tiến hành kiểm tra, thanh tra thường xuyên, kịp thời uốn nắn,
chấn chỉnh những thiếu sót, khuyết điểm; giải quyết kịp thời các đơn thư,
khiếu nại, tố cáo liên quan đến thực hiện chính sách..................................... 43
3.2.4. Tăng cường hoạt động xã hội hóa, đẩy mạnh phong trào chăm sóc
thương bệnh binh ............................................................................................ 43
3.2.5. Phát huy vai trò Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành

trị“vật chất và tinh thần nhằm nâng cao đời sống cho họ. Thực hiện chính
sách đối với ngƣời có công còn thể hiện tinh thần trách nhiệm của Đảng và
Nhà nƣớc nhằm xoa dịu và bù đắp phần nào những”công lao và mất mát to
lớn đối với những ngƣời đã có công lao đóng góp đối với đất nƣớc.
Việc thực hiện chính sách, chế độ ƣu đãi thƣơng binh, liệt sỹ, ngƣời có
công với cách mạng và thân nhân của họ luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc cùng
toàn xã hội quan tâm. Chủ tịch hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Thƣơng
binh, bệnh binh, gia đình thân nhân và gia đình liệt sỹ là những ngƣời có công
với Tổ quốc và nhân dân. Cho nên bổn phận của chúng ta phải biết ơn, phải
thƣơng yêu giúp đỡ lấy họ…”. Phát huy truyền thống “Uống nƣớc nhớ
nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” việc thực hiện chính sách xã hội đối với
ngƣời có công không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ của Đảng, Nhà nƣớc mà
còn“là trách nhiệm của toàn xã hội. Từ quan điểm đó qua các thời kỳ chính
sách, chế độ ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng và thân nhân của họ”đã
từng bƣớc đƣợc bổ sung và hoàn thiện căn bản, phát huy tƣơng đối toàn diện
cả về vật chất và tinh thần, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, của
các ngành các cấp. Chính sách ƣu đãi, chăm sóc ngƣời có công góp phần
không nhỏ trong việc nâng cao đời sống của các thƣơng, bệnh binh và gia
đình của họ, từ đó góp phần ổn định kinh tế, chính trị cuả đất nƣớc.

1


Xã hội ngày càng phát triển, Đảng và Nhà nƣớc ta đã có rất nhiều
những chủ trƣơng, chính sách ƣu đãi xã hội dành cho ngƣời có công và gia
đình của họ đƣợc áp dụng trên cả nƣớc, trong đó có huyện Ba Vì, thành phố
Hà Nội. Trong những năm qua Ba Vì đã thực hiện tốt những chính sách ƣu
đãi thƣơng bệnh binh do Đảng và Nhà nƣớc ban hành và tổ chức nhiều hoạt
động ý nghĩa,“không ngừng phấn đấu thực hiện tốt chƣơng trình chăm sóc
ngƣời có công và gia đình ngƣời có công. Bên cạnh những nỗ lực cố gắng

nước trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng ở nước
ta hiện nay”,“Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, 2007. Luận văn đƣa
ra“cơ sở lý luận về nâng cao năng lực của cơ quan hành chính nhà nƣớc trong
thực hiện pháp luật ƣu đãi. Từ thực trạng năng lực của cơ quan hành chính
nhà nƣớc trong việc thực hiện pháp luật ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng
đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực của cơ quan hành chính nhà
nƣớc”trong việc thực hiện pháp luật ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng ở
nƣớc ta hiện nay.
Nguyễn Thị Thu Hoài, “Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước
Việt Nam đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng từ năm
1991 đến năm 2010”, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, 2013.“Luận văn nêu ra một
cách khái quát những chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta đối
với các đối tƣợng là ngƣời có công từ năm 1991 đến năm 1995; những đổi
mới về việc thực hiện những chủ trƣơng, chính sách ƣu đãi cho phù hợp với
tình hình mới của đất nƣớc”trong giai đoạn từ 1996 đến 2010.
Phùng Thị Thu Duyên, “Ưu đãi xã hội đối với thương binh, bệnh binh
tại huyện Thanh Trì – Thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ Công tác xã hội,
2015. Luận văn tập trung làm sáng tỏ lý luận chung về chính sách ƣu đãi, đƣa
ra thực trạng“việc thực hiện chính sách ƣu đãi cho đối tƣợng thƣơng binh,
bệnh binh tại huyện Thanh trì – Tp.Hà Nội. Sau đó tác giả đƣa ra một số biện
pháp về việc thực hiện chính sách ƣu đãi cho thƣơng binh, bệnh binh tại
huyện”Thanh Trì – Hà Nội.
Võ Bá Hiếu, “Tác động của chính sách xã hội đến đời sống gia đình
thương binh, liệt sỹ trong giai đoạn hiện nay”, Khóa luận tốt nghiệp ngành
Xã hội học, 2012. Khóa luận nêu lên các cơ sở lý thuyết và thực tiễn về“việc
thực hiện chính sách đối với thƣơng binh, liệt sỹ của Đảng và nhà nƣớc, thực
trạng việc thực hiện chính sách ƣu đãi xã hội đối với gia đình thƣơng binh,

3


cao hiệu quả thực hiện chính sách.

4


Những công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu phong phú để tôi
thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về chính sách xã hội tác giả khảo sát
thực trạng việc thực hiện chính sách xã hội đối với thƣơng, bệnh binh trên địa
bàn huyện Ba Vì, từ đó đƣa ra một số phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm nâng
cao việc thực hiện các chính sách xã hội đối với thƣơng bệnh binh trên địa
bàn huyện Ba Vì.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc mục đích trên đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm chính sách xã hội và vai trò của chính sách
xã hội.
Thứ hai, làm rõ nội dung của chính sách xã hội đối với thƣơng, bệnh
binh ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, làm rõ thực trạng thực hiện chính sách xã hội cho thƣơng, bệnh
binh trên địa bàn huyện Ba Vì.
Thứ tƣ, đƣa ra một số phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả thực hiện chính sách xã hội đối với thƣơng, bệnh binh trên địa bàn huyện
Ba Vì.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu việc thực hiện chính sách ƣu
đãi xã hội đối với thƣơng binh, bệnh binh trên địa bàn huyện Ba Vì.
Thời gian: Từ năm 2010 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

Giáo sƣ G.Winkler, nguyên viện trƣởng Viện xã hội học và chính sách
xã hội (thuộc Cộng hoà dân chủ Đức cũ) cho rằng: “Chính sách xã hội là tổng
hoà các biện pháp và phƣơng pháp của Đảng, của giai cấp công nhân, của
Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa, của các liên hợp công đoàn, của các đảng phải và
các tổ chức chính trị khác, nhằm tiếp tục xây dựng quan hệ xã hội… phục vụ
cho những yêu cầu và lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập
thể, tri thức và những ngƣời lao động khác”. [22; Tr1 - 21].
Theo giáo sƣ Anthoay Giddens nhà xã hội học Mỹ thì chính sách xã hội
là “sự nghiên cứu có hiệu quả về xã hội học, khoa học chính trị và khoa học
kinh tế, đƣợc chờ đợi nhằm biến đổi hoạch định chính sách trong chính phủ
và do đó dẫn đến tiến bộ xã hội và thịnh vƣợng kinh tế. Mối quan hệ giữa
nghiên cứu và chính sách đƣợc xem nhƣ một công cụ, một phƣơng tiện nhằm
mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội một cách có hiệu
quả”. [22; Tr1 - 21].
Trong “Lý thuyết xã hội và xã hội học hiện đại”, Nxb. KHXH, Hà Nội,
1980: “Nhƣ vậy có thể coi chính sách xã hội là sự tổng hợp các phƣơng thức,
7


các biện pháp của Nhà nƣớc, của các đảng phái và tổ chức chính trị khác
nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân phù hợp với trình
độ phát triển đất nƣớc về kinh tế, văn hoá, xã hội… Chính sách xã hội là sự
cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luật những chủ trƣơng, đƣờng lối của
Đảng và Nhà nƣớc”.
Nhƣ vậy có thể hiểu: “Chính sách xã hội là sự tác động của nhà nước
vào việc phân phối và ổn định các hoàn cảnh sống cho con người thuộc các
nhóm xã hội khác nhau trong lĩnh vực thu nhập, việc làm, sức khoẻ, nhà ở và
giáo dục trên cơ sở mở rộng, bình đằng và cổng bằng xã hội trong một bổi
cảnh lịch sử và cấu trúc xã hội nhất định”.
Chính sách xã hội của Nhà nƣớc đƣợc chia ra nhƣ sau:

trật tự, góp phần giảm xung đột và bất công bằng trong xã hội. Những chính
sách xã hội khi ra đời cần đi theo đúng đƣờng lối, chủ trƣơng, quan điểm của
Đảng và Nhà nƣớc về sự phát triển, vấn đề quan tâm. Hay nói cách khác, các
chính sách xã hội giải quyết vấn đề xã hội theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Yếu tố định hƣớng đƣợc hiểu nhƣ là sự hƣớng dẫn, dẫn dắt, kiểm soát vấn đề
đi theo đúng quan điểm, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc, giải quyết các
vấn đề trên cơ sở phát triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Chính sách xã hội đóng vai trò là công cụ của Nhà nƣớc trong việc
phản ánh thực tại khách quan của đời sống xã hội, phù hợp với các đặc điểm,
điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong giai đoạn lịch sử
nhất định, tạo sự phát triển bền vững cho xã hội. Bởi vậy, các chính sách xã
hội là cơ sở, tiền đề định hƣớng sự phát triển đời sống xã hội trong một thời
điểm, giai đoạn phát triển nhất định.
Các chính sách xã hội cùng những đặc trƣng cơ bản của nó, giúp mọi
ngƣời hiểu rõ hơn về những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc và
các tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện, tổ chức nhằm phát triển toàn xã
hội. Do vậy, chính sách xã hội đóng vai trò định hƣớng cho các hoạt động của
đời sống xã hội.

9


Chính sách xã hội có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực thúc
đẩy sự phát triển xã hội:
Chính sách xã hội đóng vai trò tạo tiền đề và điều kiện để phát triển xã
hội, nó hƣớng vào giải quyết những vấn đề tồn đọng, nảy sinh trên mọi lĩnh
vực nhằm tạo một môi trƣờng hoạt động lành mạnh. Có thể nhắc tới các chính
sách xã hội giảm nghèo, công bằng xã hội trong khu vực dân tộc thiểu số,
ngƣời khuyết tật, khu vực khó khăn, ngƣời nghèo, vấn đề về dân số, lao động
việc làm, kinh tế… đã tạo tiền đề, điều kiện để mọi hoạt động trong xã hội phát

độ “lƣơng hƣu thƣơng tật” đối với thƣơng binh.
Các văn bản pháp luật nhằm“ƣu đãi thƣơng binh, gia đình liệt sĩ thời kỳ
kháng chiến chống Pháp còn đơn giản, nội dung còn mang tính hƣớng dẫn là
chủ yếu, tính pháp luật chƣa cao; trợ cấp chỉ mang tính chất tƣợng trƣng”do
khả năng kinh tế lúc bấy giờ và do hoàn cảnh kháng chiến còn nhiều khó khăn,
gian khổ.
Vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng đã
khái quát về quan điểm và chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với vấn
đề có tầm chiến lƣợc này: “ Phải đối đãi với những ngƣời, những gia đình liệt
sĩ và thƣơng binh nhƣ là những ngƣời đã có cống hiến rất lớn, rất lớn đối với
sự nghiệp cách mạng, đối với sự nghiệp chống Mỹ cứu nƣớc của nhân dân..;
đó là một vấn đề rất quan trọng.., một vấn đề chính trị, một vấn đề tƣ tƣởng,
một vấn đề tình cảm, một vấn đề xã hội, một trong những vấn đề lớn của
nƣớc ta…, một vấn đề của tất cả chúng ta, một vấn đề lớn của Đảng ta, Nhà
nƣớc ta, của các tổ chức quần chúng, một vấn đề của các cơ quan có trách
nhiệm ở Trung ƣơng và của cơ quan có trách nhiệm ở địa phƣơng, của tỉnh,
của huyện, của xã. Một vấn đề mà không cho phép một ngƣời Việt Nam nào
không quan tâm, nếu ngƣời Việt Nam đã quan tâm đến sự nghiệp cách mạng
của nƣớc ta, của dân ta, quan tâm đến sự nghiệp chống Mỹ cứu nƣớc của
chúng ta hiện nay”.
Trong giai đoạn này, pháp luật về“ƣu đãi ngƣời có công đã phát triển
tƣơng đối toàn diện về việc chăm sóc vật chất và tinh thần cho ngƣời có công;
chính sách đối với thƣơng binh, liệt sỹ đƣợc bổ sung, sửa đổi những điểm hết
sức cơ bản. Tuy nhiên ở thời kỳ này, pháp luật ƣu đãi ngƣời có công”vẫn còn
mang tính liệt kê, chƣa có chiều sâu về định lƣợng và chỉ phù hợp với nền
kinh tế kế hoạch, tập trung, bao cấp.

11



công với cách mạng thuộc diện hƣởng chế độ ƣu đãi, trong đó có trên 1,4 triệu
ngƣời hƣởng trợ cấp hàng tháng), những nội dung ƣu đãi ngƣời có công với

12


cách mạng đƣợc luật pháp hoá, đã trở thành một hệ thống chính sách bao gồm
nhiều mặt của đời sống”(trợ cấp, phụ cấp, chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở,
ƣu đãi về giáo dục - đào tạo, về việc làm, ruộng đất, tín dụng, thuế...).
Nhiều vấn đề tồn tại trong chính sách ƣu đãi trƣớc đây đã đƣợc điều
chỉnh phù hợp với tình hình mới khi ban hành Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có
công. Nhƣ“việc áp dụng thống nhất mức trợ cấp giữa thƣơng binh hƣởng
lƣơng và thƣơng binh hƣởng sinh hoạt phí khi bị thƣơng, giữa thƣơng binh
đang công tác hay nghỉ hƣu với thƣơng binh về địa phƣơng có cùng tỷ lệ
thƣơng tật; thực hiện công bằng trong chính sách giữa ngƣời có công thoát ly
và không thoát ly, căn bản tách chế độ ƣu đãi tồn tại từ mấy chục năm trong
chính sách bảo hiểm xã hội chuyển sang”chính sách ƣu đãi xã hội.
Để“đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, Hệ thống chính sách ƣu đãi
xã hội đối với ngƣời có công không ngừng đƣợc bổ sung, sửa đổi nhằm đảm
bảo tính khoa học”và thực tiễn, phù hợp với“tiến trình đổi mới của đất nƣớc,
cùng với việc đồng bộ với những văn bản pháp luật khác có liên quan”trong
hệ thống pháp luật.
Để tháo gỡ những bất cập“cũng nhƣ đảm bảo chính sách phù hợp với
thực tế, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung
Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng (Pháp lệnh số 04/2012/PLUBTVQH13). Từ đó điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận ngƣời có công đã từng
bƣớc đƣợc hoàn thiện, ngày càng phù hợp với thực tiễn và đảm bảo tính
khách quan, công bằng xã hội, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính, hài
hoà với hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong tiến trình đổi mới. Mỗi đối
tƣợng lại có điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận khác nhau. Về điều kiện xác nhận
và chế độ ƣu đãi đƣợc mở rộng hơn, bảo đảm kịp thời”và đúng đối tƣợng;

lẫn tinh thần khi đất nƣớc đã bình yên. Với việc hoàn thiện hệ thống pháp
luật, chính sách xã hội đối với thƣơng, bệnh binh đã và đang đƣợc thực hiện
và triển khai tốt trên toàn đất nƣớc. Cụ thể, một số chính sách ƣu đãi dành cho
thƣơng bệnh binh theo quy định của Nhà nƣớc:
Chính sách trợ cấp hàng tháng
Với tinh thần tiếp nối truyền thống “Uống nƣớc nhớ nguồn” của“dân
tộc Đảng và Nhà nƣớc ta trong suốt thời gian qua đã có những chính sách”xã
hội nhằm hƣớng tới đền đáp công lao cho những thƣơng, bệnh binh. Trong đó
có chính sách trợ cấp hàng tháng.
Theo Nghị định số 99/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2018 của Chính
phủ quy định mức trợ cấp hàng tháng đối với thương bệnh binh như sau:
14


Đối với thương binh
Thƣơng binh và“ngƣời đƣợc hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh (gọi
chung là thƣơng binh) sẽ đƣợc hƣởng mức trợ cấp từ 1.021.000 đồng đến
4.858.000 đồng tùy theo tỉ lệ suy giảm khả năng lao động”từ 21% đến 100%.
Thƣơng binh loại B“sẽ đƣợc hƣởng mức trợ cấp từ 843.000 đồng đến
4.019.000 đồng tùy theo tỉ lệ suy giảm khả năng lao động”từ 21% đến 100%.
Thƣơng binh, thƣơng binh loại B“bị suy giảm khả năng lao động từ
81% trở lên đƣợc hƣởng phụ cấp 760.000 đồng; thƣơng binh, thƣơng binh
loại B suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên có vết thƣơng đặc biệt nặng
hƣởng phụ cấp”1.558.000 đồng.
Ngƣời phục vụ thƣơng binh, thƣơng binh loại B suy giảm khả năng lao
động từ 81% trở“lên đƣợc hƣởng mức trợ cấp 1.515.000 đồng; ngƣời phục vụ
thƣơng binh, thƣơng binh loại B suy giảm khả năng lao động 81% trở lên có
vết thƣơng đặc biệt nặng đƣợc hƣởng mức trợ cấp”1.946.000 đồng.
Đối với bệnh binh
Bệnh binh“đƣợc hƣởng mức trợ cấp từ 1.581.000 đồng đến 3.859.000

năng lao động từ 81% trở lên đƣợc nhà nƣớc mua Bảo hiểm y tế”. Điều này
thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc không chỉ với bản thân đối tƣợng
thƣơng binh, bệnh binh mà cả tới thân nhân của họ nữa.
Chính sách miễn, giảm thuế trong sử dụng đất nông nghiệp và đất phi
nông nghiệp
Theo quy định của Nghị định 74 – CP ban hành ngày 25/10/1993 đã
quy định chi tiết việc thi hành Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp thì trong đó:
“Thƣơng binh hạng 1/4, 2/4 và bệnh binh hạng 1/3, 2/3 sẽ hoàn toàn đƣợc
miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, đất ở. Đối với các đối tƣợng còn lại sẽ
đƣợc giảm 50% số thuế sử dụng đất nông nghiệp và đất ở”.
Về việc miễn, giảm thuế trong sử dụng đất nông nghiệp cho thƣơng
bệnh binh đã đƣợc quy định cụ thể tại các khoản 3;6 Điều 16 Nghị định 74 –
CP ban hành ngày 25/10/1993 trong đó quy định chi tiết thi hành Luật thuế sử
dụng đất nông nghiệp nhƣ sau: “Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cho
thƣơng binh hạng 1/4 và 2/4; bệnh binh hạng 1/3 và 2/3 và giảm tối đa không
quá 50% số thuế ghi thu cho hộ gia đình thƣơng binh, bệnh binh ngoài đối
tƣợng quy định tại khoản 3 điều này mà đời sống có khó khăn”.
Căn cứ theo Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 48/2010/QH12
ban hành ngày 17/06/2010 thì tại khoản 5 điều 9 chƣơng III của luật có quy

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status