1.
Tên sáng kiến: Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
2.
Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
3.
Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 15 tháng 9 năm 2014 đến ngày 6
tháng 5 năm 2017
4.
Tác giả:
Họ và tên: Đặng Thị Hoa
Năm sinh: 1990
Nơi thường trú: 143 Phan Đình Phùng, TP Nam Định.
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường Tiểu học Lộc An
Điện thoại: 01254133203
5.
Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường Tiểu học Lộc An
Địa chỉ: Xã Lộc An, thành phố Nam Định
hình thức tổ chức dạy học, đổi mới cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đổi
mới cách đánh giá trong dạy học về môn Tự nhiên và Xã hội.
Hiện nay, phong trào đổi mới mục tiêu nội dung, chương trình sách giáo
khoa đang được triển khai rộng khắp ở nước ta. Việc đổi mới nội dung kéo
theo sự thay đổi về mặt phương pháp và hình thức tổ chức dạy học và nó
được thể hiện trong hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học
sinh. Việc đổi mới áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào thực tiễn dạy
học là phát huy tính cực độc lập tự giác, sáng tạo của học sinh trong quá trình
học tập.
Từ thực tế giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội ở trường Tiểu học Lộc An, đáp
ứng yêu cầu đổi mới nội dung Sách giáo khoa và phương pháp, hình thức dạy
học để tìm ra những biện pháp tối ưu nhất góp phần nâng cao chất lượng giảng
dạy, tôi chọn và viết sáng kiến về “Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2”.
1.
MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
2.
Thực trạng dạy và học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 ở các trường
Tiểu học:
1.1. Nội dung chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2:
Tiếp nối chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, môn Tự nhiên và Xã hội
lớp 2 được xây dựng theo hướng tích hợp kiến thức của môn giáo dục sức khỏe.
Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 gồm 35 bài tương ứng với 35 tiết
trong đó có 31 bài học mới, 4 tiết ôn tập phân phối theo 3 chủ đề: Con người và
sức khỏe; Tự nhiên; Xã hội.
1.
Thuận lợi:
* Giáo viên:
•
Với chương trình Tự nhiên và Xã hội, giáo viên được hướng dẫn cách
xây dựng thiết kế bài học theo hướng mới có phân chia từng hoạt động cụ
thể, rõ ràng, có chỉ dẫn các phương pháp theo từng chủ đề.
•
Giáo viên được tham dự các chuyên đề dạy học mới của Phòng Giáo duc,
nhà trường tổ chức.
•
Nội dung môn học được xây dựng theo hướng tích hợp phù hợp với đặc
điểm của học sinh.
* Học sinh:
•
Học sinh luôn say mê học hỏi, tìm tòi để hiểu về thế giới Tự nhiên, Xã
hội và thế giới con người xung quanh các em với những câu hỏi: Tại sao
lại thế? Đó là ai? Như thế nào? Vì sao?
1.
Một số biện pháp thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn Tự
nhiên và Xã hội:
2.1. Tổ chức tốt các hoạt động dạy – học:
Để đưa học sinh trở thành chủ thể nhận thức, chủ động tích cực tiếp thu kiến
thức mới, giáo viên cần khéo léo tổ chức các hoạt động dẫn dắt học sinh chiếm
lĩnh kiến thức mới theo hướng hoạt động tích cực hoá. Muốn vậy người giáo
viên cần xác định đúng tầm quan trọng của môn học, ý nghĩa của môn học để
đảm bảo các yêu cầu:
– Dạy đủ số tiết, số bài quy định.
– Dạy đủ thời gian, đi đúng quy trình đã thống nhất của một tiết dạy khi thiết kế
bài học.
– Dạy đúng theo hướng đổi mới các phương pháp tổ chức, các hoạt động học
tập để học sinh tích cực tham gia xây dựng bài học.
Đồng thời: Khi tổ chức dạy học, giáo viên cũng cần chú ý đến nghệ thuật thu
hút học sinh, cần tạo ra những động cơ gần thúc đẩy các em học tập, như tuyên
dương, khen ngợi, ….
Học sinh phải thấy được chính các em là người tìm ra kiến thức và có hứng thú
xây dựng bài học.
•
Lựa chọn các phương pháp phù hợp với bài học:
Giáo viên cần nắm vững và sử dụng thành thạo các phương pháp dạy học theo
hướng đổi mới kế thừa được những ưu điểm của những phương pháp truyền
thống, sử dụng đa dạng các hình thức học tập như thảo luận nhóm, đàm thoại,
trực quan, luyện tập thực hành, trò chơi…để tiết dạy diễn ra một cách nhẹ nhàng
tự nhiên và có hiệu quả.
đối tượng quan sát cần xác định việc quan sát phải đạt những mục đích nào?
Ví dụ:
Bài 26: Một số loài cây sống dưới nước
Nếu như đối tượng quan sát là các loài cây thật thì giáo viên yêu cầu học sinh
sử dụng các giác quan khác nhau để quan sát màu sắc, hình dạng, kích thước,
mùi vị, so sánh chúng với nhau.
Trong trường hợp chỉ có tranh vẽ các loại cây sống dưới nước thì giáo viên có
thể yêu cầu học sinh nhận xét về màu sắc, hình dạng, kích thước, dựa vào kinh
nghiệm của mình để nhận xét mùi vị của cây.
* Tổ chức và hướng dẫn quan sát:
– Có thể tổ chức cho học sinh quan sát cá nhân, theo nhóm hoặc toàn lớp là tuỳ
thuộc vào số đồ dùng dạy học có được. Các nhóm có thể cùng quan sát một đối
tượng để giải quyết chung một nhiệm vụ học tập hoặc mỗi nhóm có thể có một
đối tượng quan sát riêng, giải quyết nhiệm vụ riêng.
Nếu đối tượng quan sát là vật thật (động, thực vật tươi sống, các dạng vật liệu
thường dùng), giáo viên cần khuyến khích học sinh sử dụng các giác quan khác
nhau vào quá trình quan sát nhằm thu được biểu tượng đầy đủ, chính xác, sinh
động về đối tượng. Trong trường hợp đối tượng quan sát là tranh ảnh, mô hình),
giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng thị giác để quan sát các đối tượng
một cách có mục đích, có kế hoạch.
– Cần hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng theo một trình tự nhất định: từ
tổng thể đến các chi tiết, bộ phận, từ bên ngoài vào bên trong.
– Cần hướng dẫn học sinh so sánh, liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác đã
biết để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng.
* Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả quan sát: Kết thúc quan sát từng cá
nhân hoặc đại diện các nhóm báo cáo kết quả quan sát, cả lớp lắng nghe, bổ
sung
ý
nhận biết được các cây, ích lợi của các cây. Ở bài này đối tượng quan sát tốt
nhất là các loại cây sống trên cạn thật.
Giáo viên yêu cầu học sinh nêu tên các cây sống trên cạn mà em biết. Sau đó,
mỗi em sẽ tự nêu câu hỏi về những điều mình muốn biết về các loài cây sống
trên cạn:
+ Các loài cây sống trên cạn là những cây nào?
+ Thân cây và cành lá có điểm gì đặc biệt?
+ Cây có hoa không?
+ Rễ cây có nhìn thấy không? Đối với cây mọc trên cạn, rễ cây có vai trò gì?
+ Cây có ích lợi gì?
– Tổ chức cho học sinh quan sát kết hợp thảo luận nhóm: Giáo viên chia học
sinh
thành từng nhóm, phát phiếu giao việc và phân công khu vực quan sát cây cho
các nhóm. Trong phiếu giao việc giáo viên xác định rõ mục đích quan sát,
hướng dẫn học sinh quan sát một cách tổng thể về cây, thảo luận về đặc điểm
của các loại cây, điền kết quả vào phiếu quan sát.
PHIẾU QUAN SÁT
Em hãy quan sát các cây và hoàn thành bảng sau:
Số thứ tự
1
2
3
4
Tên cây
Đặc điểm của cây
Ích lợi
học sinh dễ hiểu, dễ nhớ.
Ví dụ:
+ Có những loại đường giao thông nào? Có những phương tiện nào đi trên các
loại đường giao thông đó? (bài 19: Đường giao thông)
– Đàm thoại tìm tòi: giáo viên dùng hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để dẫn
dắt học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện
tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết.
Ví dụ:
+ Tại sao ta có thể xác định phương hướng bằng Mặt Trời? (bài 32: Mặt Trời và
phương hướng)
+ Tại sao Mặt Trăng lại chiếu sáng được cho Trái Đất vào ban đêm? (bài 33:
Mặt Trăng và các vì sao)
1.
Tác dụng:
– Kích thích tính tích cực, hứng thú, độc lập sáng tạo của học sinh trong học
tập;
bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời nói và làm cho không khí lớp
học sôi nổi.
– Giúp HS thu nhận kiến thức và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Để tăng thêm hiệu quả của việc sử dụng phương pháp hỏi đáp, giáo viên cần tổ
chức đối thoại theo nhiều chiều: giáo viên → học sinh ; học sinh → học sinh và
học sinh → giáo viên.
1.
Cách tiến hành
hỏi cho nhau và trả lời):
– Nêu vai trò của răng, lưỡi và nước bọt khi ta ăn?
– Vào đến dạ dày thức ăn được biến đổi thành gì?
– Vào đến ruột non thức ăn tiếp tục được biến đổi thành gì?
– Phần chất bổ có trong thức ăn được đưa đi đâu? Để làm gì?
– Phần chất bã có trong thức ăn được đưa đi đâu?
– Ruột già có vai trò gì trong quá trình tiêu hóa?
– Tại sao chúng ta cần ăn chậm nhai kĩ?
Trên cơ sở câu trả lời của học sinh, giáo viên kết luận.
2.2.3. Phương pháp điều tra:
1.
Khái niệm:
Phương pháp điều tra là cách tổ chức và hướng dẫn học sinh tìm hiểu một vấn
đề. Dựa trên các thông đã tin thu thập được, giáo viên hướng dẫn học sinh phân
tích, so sánh, khái quát để rút ra kết luận, hoặc nêu ra các giải pháp, kiến nghị.
1.
Tác dụng:
– Dẫn dắt học sinh tham gia vào một hình thức học tập độc lập, sáng tạo, nhằm
chuẩn bị cho các em năng lực nghiên cứu sau này.
– Hình thành những kĩ năng thu thập thông tin, truyền đạt thông tin, đồng thời,
giúp học sinh có kĩ năng làm việc theo kế hoạch, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau.
1.
Cách tiến hành:
Đường phố (hoặc đường làng)
– Vỉa hè (hoặc
mép đường)
– Lòng đường
Mức độ an toàn
Thấp
Cao
Đến tiết học, giáo viên yêu cầu học sinh báo cáo kết quả. Dựa vào kết quả điều
tra, các em sẽ có nhận xét về mức độ vệ sinh, an toàn của cuộc sống xung quanh
em. Từ đó, học sinh có ý thức giữ gìn vệ sinh chung nhằm giữ gìn, cải thiện môi
trường xung quanh.
2.2.4. Phương pháp thực hành:
1.
Khái niệm:
Phương pháp thực hành được sử dụng phổ biến trong dạy học các môn về tự
nhiên và Xã hội, nhất là các bài có nội dung về giáo dục sức khoẻ.
b.
Tác
dụng
của
phương
pháp
thực
hành:
– Củng cố những kiến thức mà học sinh đã lĩnh hội.
sinh nhà
ở,
vệ
sinh
môi
trường
ở
địa
phương.
– Có thể tổ chức cho học sinh thực hành theo cá nhân, theo nhóm, cả lớp
d. Ví dụ về sử dụng phương pháp thực hành
Bài 18: Thực hành: Giữ trường học sạch, đẹp
*
Mục
tiêu
– Giúp học sinh nhận biết được thế nào là lớp học sạch đẹp.
– Biết tác dụng của việc giữ cho trường học sạch đẹp đối với sức khỏe và học
tập.
– Làm một số công việc để giữ trường học sạch đẹp
–
Có
ý
thức
giữ
gìn
trường
học
sạch
đẹp.
*
1.
Khái niệm
Phương pháp thảo luận là cách tổ chức đối thoại giữa học sinh và giáo viên,
giữa học sinh và học sinh, nhằm huy động trí tuệ của tập thể để giải quyết một
vấn đề do môn học đặt ra, hoặc một vấn đề do thực tế cuộc sống đòi hỏi, để tìm
hiểu, đưa ra những giải pháp, những kiến nghị, những quan niệm mới…Trong
quá trình dạy học, giáo viên thường sử dụng cả 2 hình thức thảo luận sau:
+ Thảo luận theo nhóm
+ Thảo luận cả lớp
1.
Tác dụng
– Học sinh được tập dượt tham gia tìm hiểu, hoặc giải quyết một vấn đề do tình
huống học tập hoặc do thực tế đặt ra.
– Học sinh được học hỏi bạn, biến kiến thức của bạn thành kiến thức của mình.
Thông qua thảo luận các em nâng cao năng lực cá nhân (nói, giao tiếp, tranh
luận…)
– Sử dụng trí tuệ tập thể theo phương châm: hợp tác để đạt được kết quả cao.
– Quá trình thảo luận dưới sự hướng dẫn của giáo viên còn tạo ra mối quan hệ
hai chiều giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh giúp giáo viên
nắm được hiệu quả giáo dục về mặt nhận thức, thái độ, quan điểm hành vi của
học sinh.
1.
Cách tiến hành
– Giáo viên chia học sinh thành từng nhóm (nhóm 4 học sinh), phát phiếu
thảo luận cho từng nhóm. Nội dung phiếu thảo luận như sau:
Em hãy quan sát các hình trang 46, 47 trong SGK rồi ghi vào bảng sau:
Đặc điểm
Phong cảnh
Hoạt động giao thông
Nghề nghiệp của người dân
– Các nhóm ổn định tổ chức, tiến hành thảo luận để tìm ra những đặc trưng của
cuộc sống ở thành thị.
Giáo viên theo dõi hoạt động của các nhóm, giúp đỡ những nhóm gặp khó khăn,
hướng việc thảo luận của các em vào những vấn đề trọng tâm, cơ bản.
– Đại diện các nhóm báo cáo kết quả làm việc của nhóm mình, các nhóm khác
bổ sung ý kiến.
– Giáo viên kết luận:
Những bức tranh diễn tả cảnh sống ở thành phố. Ở đây tập trung nhiều cơ
quan như ủy ban nhân dân quận, công an quận, nhà sách, siêu thị,…Nhà ở tập
trung san sát; đường phố có nhiều người và xe cộ đi lại. Người dân ở đây làm
những công việc như bán hàng, lái xe, công nhân,…
Tiếp đó, giáo viên cho học sinh liên hệ mình sống ở nông thôn hay thành thị.
– Để củng cố bài học giáo viên có thể thi kể về địa phương em.
2.2.6. Phương pháp đóng vai:
1.
Khái niệm:
Phương pháp đóng vai là cách tổ chức học sinh tham gia giải quyết một tình
huống của nội dung học tập gắn liền với thực tế cuộc sống bằng cách diễn xuất
một cách ngẫu hứng mà không cần kịch bản hoặc luyện tập trước .
– Nên chuẩn bị một số điều kiện về cơ sở vật chất phù hợp cho vở diễn để trò
chơi đóng vai thêm hứng thú, hấp dẫn đối với học sinh.
1.
Ví dụ minh họa:
Bài 14: Phòng tránh ngộ độc khi ở nhà
Tổ chức đóng vai theo tình huống: “Em của bạn tình cở uống phải một thứ độc
hại ở trong nhà. Bạn đang chơi ngoài sân thì nhìn thấy em khóc, kêu đau bụng
và rất sợ hãi đi về phía mình. Em sẽ làm gì nếu gặp tình huống đó?
Giáo viên theo dõi học sinh đóng vai, hướng dẫn học sinh nhận xét đánh giá
cách ứng xử của bạn để đưa ra cách làm đúng (hỏi nhanh xem em đã uống gì,
kêu cứu và nhở người lớn hoặc gọi cấp cứu, đưa ngay em và vỏ chai đến cán bộ
y tế.
2.2.7. Phương pháp trò chơi:
1.
a. Khái niệm:
Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của học
sinh.
1.
Tác dụng của trò chơi học tập:
– Làm thay đổi hình thức học tập;
– Làm cho không khí học tập trong lớp học được thoải mái và dễ chịu hơn;
– Làm cho quá trình học tập trở thành một hình thức vui chơi hấp dẫn;
– Cho học sinh chơi thử (nếu cần).
– Chơi thật.
– Nhận xét kết quả của trò chơi (có thể “thưởng” hoặc “phạt” người thắng hoặc
người thua), nhận xét thái độ của người tham dự và rút kinh nghiệm.
– Kết thúc: GV hỏi xem học sinh đã học được gì qua trò chơi hoặc giáo viên
tổng kết lại những gì cần học qua trò chơi này.
1.
Ví dụ minh họa:
Bài 32: Mặt Trời và phương hướng
Để củng cố cách tìm phương hướng Mặt Trời, giáo viên tổ chức cho học sinh
chơi trò chơi: “Mặt Trời ”
– Yêu cầu HS quan sát hình 3 trang 66 SGK và dựa vào hình vẽ để nói về các
bước xác định phương hướng Mặt Trời theo nhóm.
– Đại diện các nhóm trình bày kết quả của mình. Giáo viên nhắc lại nguyên tắc
xác định phương hướng bằng Mặt Trời.
– Chơi trò chơi: mỗi nhóm 7 người (một bạn là người đứng làm trục, 1 bạn đóng
vai Mặt Trời, 4 bạn đóng vai 4 phương, 1 bạn làm quản trò)
Khi người quản trờ nói: “Ò ó o … mặt trời mọc”, bạn HS làm Mặt Trời sẽ chạy
ra đứng vào một chỗ nào đó, bạn làm trục sẽ chạy theo và đứng dang tay như
hình vẽ, các bạn còn lại sẽ đứng vào vị trí các phương.
Bạn nào đứng sai vị trí là thua. Giáo viên tuyên dương nhóm làm đúng.
Học sinh tham gia chơi trò chơi “Tìm phương hướng Mặt Trời”
2.2.8. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” :
1.
Khái quát về phương pháp “Bàn tay nặn bột”
– Liệt kê các bài học có thể áp dụng Phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột”.
– Giáo viên cần chuẩn bị trước các thí nghiệm dự kiến để có kết quả như mong
muốn.
– Vận dụng tối đa những nguyên vật liệu sẵn có, dễ kiếm.
– Sử dụng công nghệ thông tin cho bài dạy áp dụng phương pháp bàn tay nặn
bột đúng lúc, đúng chỗ, hợp lí.
– Với một số thí nghiệm đơn giản, giáo viên có thể giao việc cho học sinh bằng
những phiếu giao việc, tự học sinh chuẩn bị các vật liệu cho nhóm của mình.
1.
Ví dụ minh họa:
Bài 33: Mặt Trăng và các vì sao
* Đưa ra tình huống xuất phát và nêu vấn đề:
•
Các em biết gì về Mặt Trăng trong tự nhiên?
* Làm bộc lộ biểu tượng ban đầu của học sinh:
•
Yêu cầu học sinh hãy tưởng tượng về Mặt Trăng sau đó, vẽ, viết vào vở
thí nghiệm.
Vở thí nghiệm của học sinh
•
Muốn biết sự tưởng tượng của các bạn có giống với Mặt Trăng thật không
mình kiểm tra bằng cách nào? (Xem SGK, xem tivi, xem trên máy tính,
xem trong sách, báo, tìm trong thư viện,…). Thống nhất cách quan sát
hình vẽ và nghiên cứu tài liệu.
* Thực hiện phương án tìm tòi:
•
Trước khi quan sát, yêu cầu học sinh cùng viết dự đoán vào vở thí nghiệm
với các mục như sau:
Câu hỏi
Dự đoán
– Mặt Trăng có hình gì?- Mặt Trăng
ở xa hay gần Trái Đất– Mặt Trăng
có phát ra ánh sáng không?– Mặt
Trăng có sưởi ấm chúng ta không?
•
Cách tiến hành
Kết luận
Các em sẽ hoạt động trong nhóm. Hãy cùng quan sát 3 bức tranh sau và
tài liệu, xem video. Sau đó các nhóm sẽ thảo luận để tìm câu trả lời cho
câu hỏi và điền thông tin vào mục còn lại trong vở thí nghiệm.
* Kết luận kiến thức:
•
– Cần nghiên cứu, sử dụng thành thạo các loại đồ dùng.
– Lựa chọn đúng thời điểm phù hợp để đưa ra đồ dùng.
– Cần huy động tối đa những đồ dùng học tập học sinh có thể chuẩn bị được để
phục vụ cho các hoạt động tập thể, tranh ảnh, vật thật.
Đối với học sinh cần phải chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng học tập đã được giáo
viên giao, tham gia xây dựng bài học một cách hiệu quả.
Ví dụ: Bài 22: Cuộc sống xung quanh
Mô hình cuộc sống xung quanh nơi em ở kích thích trí tò mò, ham hiểu biết
2.4. Phối hợp Tự nhiên và Xã hội với các môn học khác:
Trong trường Tiểu học các môn học có tác dụng bổ trợ lẫn nhau, môn nọ là nền
tảng để học tốt môn kia. Vì vậy môn Tự nhiên và Xã hội là tư liệu phục vụ cho
bài học, chúng là thực tế Tự nhiên và Xã hội, con người quanh các em. Vì vậy
trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải tích hợp kiến thức của các môn
học có liên quan như : Tiếng Việt, Đạo đức… để giúp học sinh có thêm kiến
thức thu nhập thực tế vận dụng vào bài học.
Ví dụ: Chủ điểm: “Sông biển”, “cây cối”, “muông thú” ở các bài học trong SGK
Tiếng Việt 2 có mối liên hệ mật thiết với chủ đề Tự nhiên trong môn Tự nhiên
và Xã hội.
– Ở chủ điểm “Sông biển”
Tập đọc “Tôm Càng và Cá con”, học sinh được biết cuộc sống thú vị ở dưới
nước của các loài tôm cá: Tôm Càng – Cá con và đặc biệt biết có loài cá ăn thịt:
Con cá dữ.
Luyện từ và câu Tuần 26: Xếp tên các loài cá trong tranh vào hai nhóm:
+ Cá nước mặn (cá biển)
+ Cá nước ngọt (cá ở sông, hồ, ao)
Kể tên các con vật sống dưới nước như: Sứa, ba ba,tôm…
Khi học Tự nhiên và Xã hội chủ đề tự nhiên bài 29: Một số con vật sống dưới
nước, học sinh có thể liên hệ ngay đến các con vật sống dưới nước, hoặc biết rõ
Môn Tự nhiên và Xã hội không còn là môn học phụ mà thực sự đã trở
thành một môn học có tác dụng giáo dục quan trọng, góp phần rất hiệu
quả vào việc nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
•
Giáo viên đã tích cực bồi dưỡng vững vàng hơn về chuyên môn, nắm
chắc quy trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy.
•
Học sinh học tập tích cực, hứng thú chủ động trong việc lĩnh hội tri thức,
không khí lớp học sôi nổi hào hứng, học sinh hứng thú với môn Tự nhiên
và Xã hội.
2.
2. Bài học kinh nghiệm:
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học hướng tới phát huy tính tích cực
của học sinh, tôi đã rút ra những bài học sau:
– Giáo viên cần nắm vững kiến thức trong toàn cấp học với môn Tự nhiên và
Xã hội cũng như các môn học khác.
– Các phương pháp dạy học rất đa dạng bao gồm cả phương pháp truyền thống
và phương pháp mới. Mỗi phương pháp có ưu, nhược điểm riêng nên giáo viên
cần sử dụng phối hợp các phương pháp sao cho phù hợp với nội dung bài, đặc
điểm học sinh.
– Giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học theo cá nhân,