Các yếu tố ảnh hưởng lên chất lượng cuộc sống da liễu (DLQI) của bệnh nhân nám (MELASMA) tại bệnh viện da liễu đồng nai - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
______________

TẠ THỊ KIỀU OANH

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG LÊN
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DA LIỄU (DLQI)
CỦA BỆNH NHÂN NÁM (MELASMA)
TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
______________

TẠ THỊ KIỀU OANH

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG LÊN
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DA LIỄU (DLQI)
CỦA BỆNH NHÂN NÁM (MELASMA)
TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN (QTLVSK)
Mã số

: 8310105


Chỉ số mức độ nặng của bệnh

OLS

Hồi quy tuyến tính

TTO

Thỏa thuận thời gian - Time Trade-Off

WHO

Tổ chức Y tế thế giới

WTP

Mức sẵn lòng trả tiền-Willing to Pay


MỤC LỤC
LỜI CiAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮTii
MỤC LỤCiii
DANH MỤC BẢNGv
DANH MỤC HÌNHvi
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ........................................................... 1
1.1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu ...................................................................... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................ 3

3.4. Dữ liệu ................................................................................................................ 35
Tóm tắt chương.......................................................................................................... 37
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................................ 38
4.1. Đánh giá tình hình bệnh và điều trị bệnh nám da tại Bệnh viện Da liễu Đồng
Nai ............................................................................................................................. 38
4.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của bệnh nhân nám da đang điều trị tại Bệnh viện
Da liễu Đồng Nai ................................................................................................... 38
4.1.2. Phương pháp điều trị và phòng bệnh nám da tại Bệnh viện da liễu Đồng
Nai ......................................................................................................................... 39
4.1.3. Thực trạng bệnh và điều trị bệnh nám da tại bệnh viện Da liễu Đồng Nai . 41
4.2. Đánh giá mức độ nặng của bệnh nhân nám da đang điều trị tại Bệnh viện Da
liễu Đồng Nai............................................................................................................. 44
4.3. Đánh giá chất lượng cuộc sống da liễu của bệnh nhân nám da đang điều trị tại
Bệnh viện Da liễu Đồng Nai thông qua các chỉ số TTO và WTP ............................. 47
4.4. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng lên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nám da
tại Bệnh viện Da liễu Đồng Nai ................................................................................ 54
Tóm tắt chương.......................................................................................................... 58
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................ 59
5.1. Kết luận............................................................................................................... 59
5.2. Đề xuất ................................................................................................................ 61
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu mới ..................................................................... 62
Tóm tắt chương.......................................................................................................... 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO64
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3. 1: Các chỉ tiêu dung trong xây dựng chỉ số DLQI ........................................... 30
Bảng 3. 2: Danh sách các biến trong mô hình ............................................................... 34
Bảng 4. 1: Mô tả đặc điểm kinh tế - xã hội của bệnh nhân nám da đang điều trị tại



Tiêu đề:

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG LÊN CHẤT LƯỢNG
CUỘC SỐNG DA LIỄU (DLQI) CỦA BỆNH NHÂN NÁM
(MELASMA) TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU ĐỒNG NAI
Nội dung tóm tắt:
Nám da là một rối loạn tăng sắc tố phổ biến gây tổn thương nặng nề về mặt tinh
thần làm ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, đặc biệt là phụ
nữ. Do đó, việc nghiên cứu để hiểu rõ tình trạng bệnh và những yếu tố có ảnh hưởng
đến chất lượng cuộc sống của người bệnh để nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống họ
là một trong những ưu tiên cần xem xét trong hỗ trợ điều trị thành công bệnh nám, góp
phần làm giảm tỷ lệ nám da trong dân số và từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống một
cách toàn diện đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và cải thiện
chất lượng cuộc sống.
Nghiên cứu thực hiện đánh giá thời điểm khảo sát năm 2018 trên các đối tượng
là bệnh nhân bị nám da và đang điều trị tại Bệnh viện da liễu Đông Nai, bằng cách áp
dụng mô hình hồi quy đa biến OLS và tương quan Spearman trong kinh tế lượng để
đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến đặc điểm lâm sàng của bệnh nám da
đối với chất lượng cuộc sống của người bệnh thông qua hai phương thức đo lường chất
lượng cuộc sống dựa trên sở thích WTP và TTO.
Kết quả cho thấy, các yếu tố như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, mức độ nặng,
vị trí sang thương, thời gian bệnh, nguyên nhân gây bệnh…có gây ảnh hưởng đáng kể
lên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nám thông qua hai phép đo lường dựa trên sở
thích là TTO và WTP. Việc đo lường chất lượng cuộc sống qua chỉ số chất lượng cuộc
sống da liễu cho thấy những ảnh hưởng lên đời sống đặc biệt liên quan đến công việc,
nhu cầu làm đẹp, mối quan hệ xã hội và nhu cầu tình dục đều bị đánh giá mức ảnh
hưởng nghiêm trọng hơn so với các mặt khác trong cuộc sống.
Từ khóa: Chất lượng cuộc sống; Chất lượng cuộc sống da liễu; bệnh nám da; WTP;


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Nám da là một rối loạn tăng sắc tố phổ biến biểu hiện như các vệt tăng sắc tố
đối xứng trên mặt với diễn tiến mạn tính, phần đông trường hợp ít gây ra đau đớn về
mặt thể xác và không gây tử vong, nhưng bệnh lại gây tổn thương nặng nề về mặt tinh
thần làm ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, đặc biệt là phụ
nữ. Nám da cũng có thể xảy ra ở nam giới, mặc dù ít phổ biến hơn (Bagherani và cộng
sự, 2015). Theo thống kê của Bộ y tế năm 2018 cho thấy phần đông phụ nữ Việt Nam
đều gặp phải tình trạng nám da trên mặt, tỷ lệ này chiếm khoảng 40% dân số nữ trong
những năm trước 2010, nhưng trong những năm gần đây, tỷ lệ này ngày càng tăng cao
lên đến 60-75% tổng dân số nữ cả nước (Bộ Y tế, 2018). Theo thống kê ở bệnh viện
Da liễu Đồng Nai năm 2001, số bệnh nhân nám da đến khám chiếm tỉ lệ 3.45%, đứng
hàng thứ tư sau chàm, mụn trứng cá, mề đay (Bệnh viện Da liễu Đồng Nai, 2018).
Có thể thấy, cùng với diễn tiến biến đổi khí hậu, hiệu ứng nhà kính, thủng tầng
khí quyển và tính chất nghề nghiệp trong đời sống hiện đại đã khiến con người ngày
càng phải tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời – một trong những nguyên nhân chính
gây nám da mà chủ yếu là trên khuôn mặt của người phụ nữ. Thêm vào đó, sự bùng nổ
về dân số dẫn đến tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cũng tăng theo. Theo Rathore và
cộng sự (2011) sự thay đổi nội tiết tố trong thời kỳ sinh sản cũng là nguyên nhân gây
bệnh, tỷ lệ hiện nhiễm trong thai kỳ là khoảng 50-70%. Như vậy, trong điều kiện sống
hiện đại, ngày càng có nhiều nguyên nhân trực tiếp và dễ dàng gây ra tình trạng nám
trên da. Sự tổn thương nặng nề về mặt tinh thần là yếu tố rất quan trọng gây đảo lộn
làm giảm thấp chất lượng sống của người bệnh thông qua ảnh hưởng đến công việc,
các hoạt động giải trí, văn hóa, thể thao và các mối quan hệ trong xã hội.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra hậu quả xấu của tình trạng nám gây ra khiến cho người
bệnh mất tự tin vào diện mạo, làm ảnh hưởng đến công việc của họ, có thể dẫn đến
tình trạng trầm cảm, tự ti, tiếp đến dẫn tới kém giao thiệp trong cuộc sống. Làm giảm
đi vốn xã hội của người bệnh và dẫn tới giảm thu nhập, khiến cuộc sống của nhiều
người bệnh rơi vào bế tắc (Leeyaphan và cộng sự, 2011; Handel và cộng sự, 2014). Rõ

chất lượng cuộc sống, mức sẵn lòng chi trả của bệnh nhân cũng như khảo sát những
yếu tố góp phần làm cho chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy giảm nặng nề hơn
để giúp cải thiện phần nào tình trạng sức khoẻ, xoá bỏ những mặc cảm và nâng cao
chất lượng cuộc sống của người bệnh trong tương lai.


3
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nám da đến khám và điều trị
tại bệnh viện Da liễu Đồng Nai từ 01/09/2017 đến 30/04/2018.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu chung, những mục tiêu cụ thể hơn gồm:
Mục tiêu 1: Đánh giá mức độ nặng của bệnh nám da của các bệnh nhân đang
điều trị tại Bệnh viện Da liễu Đồng Nai.
Mục tiêu 2: Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nám da đang điều trị
tại Bệnh viện Da liễu Đồng Nai thông qua các chỉ số về thời gian điều trị (TTO) và
mức sẵn lòng trả (WTP).
Mục tiêu 3: Phân tích các nhân tố tác động đến chất lượng cuộc sống của bệnh
nhân nám da điều trị tại Bệnh viện Da liễu Đồng Nai.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để cụ thể hóa các mục tiêu, đề tài tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
Thứ nhất: Mức độ nặng của bệnh nám da của các bệnh nhân đang điều trị tại
Bệnh viện Da liễu Đồng Nai như thế nào?
Thứ hai: Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nám da đang điều trị tại Bệnh
viện Da liễu Đồng Nai thông qua các chỉ số TTO và WTP như thế nào?
Thứ ba: Những nhân tố nào tác động đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
nám da điều trị tại Bệnh viện Da liễu Đồng Nai?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

giữa chỉ số chất lượng cuộc sống da liễu DLQI và chỉ số mức độ nặng của vùng nám
da MASI và các chỉ số liên quan đến WTP và TTO. Còn phương pháp nghiên cứu định
tính sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu để giải thích rõ hơn kết quả nghiên cứu định
lượng và đưa ra một số kiến nghị nhằm cải thiện chất lượng điều trị bệnh nám của
bệnh viện.


5
1.6. Bố cục của luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1: Mở đầu. Chương này giới thiệu sự cần thiết nghiên cứu; mục tiêu,
đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 2 trình bày lý
thuyết về bệnh nám da, thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia
đình; các phương pháp đánh giá tình trạng da liễu và các chỉ số đánh giá tài chính;
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này gồm khung nghiên cứu, mô
hình nghiên cứu; tổng quan mô hình chạy dữ liệu; các chỉ tiêu đo lường các khái niệm
nghiên cứu; bảng câu hỏi, thiết kế nghiên cứu, mô tả dữ liệu, kỹ thuật phân tích dữ
liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 4 giới thiệu phạm vi
nghiên cứu; đánh giá mức động nặng của bệnh nám da; đánh giá chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân nám da và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân nám da thông qua các phép đo mức sẵn lòng chi trả (WTP) và thời gian
bỏ ra (TTO) của bệnh nhân nám cho việc điều trị theo phác đồ tại bệnh viện, thảo luận
kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị. Chương này trình bày tóm tắt kết quả
nghiên cứu; đề xuất các kế hoạch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ của khoa Da liễu
cho việc điều trị bệnh nám hoàn thiện hơn, chuyên nghiệp hơn, nâng cao nhận thức
của bệnh nhân trong việc phòng tránh cũng như bảo vệ da trước khi bị nám.


và các hệ thống giá trị mà họ đang sống và liên quan đến các mục đích, nguyện vọng,
tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ (WHO, 1997).
Mặc dù, có nhiều quan điểm khác nhau để định nghĩa về chất lượng cuộc sống,
nhưng sử dụng định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới là một mô tả tốt nhất về chất
lượng cuộc sống trong y học, được phần lớn các nhà khoa học sức khỏe hay xã hội học
áp dụng. Việc áp dụng định nghĩa này thường được áp dụng để đo lường và đánh giá
chất lượng cuộc sống của người bệnh, ít nhất 3 chiều trong định nghĩa đã được sử
dụng để mô tả và đo lường chất lượng cuộc sống của người bệnh gồm: chức năng thể
chất, trạng thái tinh thần và khả năng tham gia vào các tương xã hội thông thường
(Post, 2014).


8
2.1.2. Đánh giá chất lượng cuộc sống
Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân rất cần thiết, không chỉ phản ánh
tác động của bệnh đến cuộc sống của bệnh nhân mà còn giúp đánh giá hiệu quả của
một can thiệp một cách rõ ràng. Vì vậy, đánh giá chất lượng cuộc sống cần được coi là
đánh giá đầu ra quan trọng trong các thử nghiệm đối với việc điều trị bệnh.
Hầu hết các nghiên cứu đều áp định nghĩa về chất lượng cuộc sống của WHO
vào đo lường đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh, rằng chất lượng cuộc
sống liên quan đến sức khỏe nói chung được coi là cấu trúc nhiều chiều bao gồm sức
khỏe thể lực, sức khỏe tâm trí, chức năng xã hội và toàn trạng nói chung (WHO,
1997). Một trong số đó là quan niệm của Lawton là có ảnh hưởng nhiều nhất. Ông đã
đưa ra khung khái niệm về chất lượng cuộc sống ở người cao tuổi bao gồm bốn lĩnh
vực quan trọng: năng lực nhận thức, thể trạng tâm trí, môi trường khách quan, nhận
thức về chất lượng cuộc sống (Lawton, 1991). Theo cách tương tự Karnofsky &
Burchenal (1949) đã phác thảo việc đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung
thư qua những khía cạnh như tình trạng bệnh, thời gian thuyên giảm bệnh, kéo dài
cuộc sống, thái độ chủ quan, tâm trạng của người bệnh, cảm giác hạnh phúc chung…,
đây cũng chính là các tiêu chí được cân nhắc trong việc xây dựng đánh giá chất lượng

chỉ số đánh giá chất lượng cuộc sống trong y khoa (HRQOL) để đánh giá chất lượng
cuộc sống của người bệnh. Theo Dijkers (2005), HRQOL là một phần mang của QOL,
phần này mang tính khách quan và đề cập đến các thành phần của QOL tập trung vào
hoặc bị ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp bởi sức khỏe, bệnh tật, rối loạn, và chấn
thương (dấu hiệu, triệu chứng, tác dụng phụ của điều trị, hoạt động thể chất, nhận
thức, cảm xúc và xã hội, v.v.). Và như vậy HRQOL bị đánh giá là vậy trùng lặp với
khái niệm về tình trạng sức khỏe (Post, 2014).
Dù vậy, kể từ năm 1987, các thuật ngữ về sức khỏe, cảm nhận về sức khỏe, tình
trạng sức khỏe của người bệnh được nhiều nhà nghiên cứu và bác sĩ lâm sàng sử dụng
trong việc đánh giá sức khỏe của người bệnh qua các chỉ số đánh giá chất lượng cuộc
sống y khoa của họ. Hai bộ chỉ số phổ biến nhất thường được sử dụng là HRQOL và
QOL (Post, 2014). Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này chưa có nghiên cứu nào
đánh giá toàn diện về sự phù hợp khi áp dụng các bộ tiêu chí QOL và HRQOL và đánh
giá chất lượng cuộc sống của người bệnh. Mãi đến năm 2005, Dijkers mới đưa ra một
mô hình tổng thể đánh giá toàn diện về QOL và các khía cạnh của nó. Dijkers (2005)
cho rằng sự khác biệt của QOL nằm ở việc thực hiện giữa 3 nhóm chính: QOL là hạnh
phúc chủ quan (SWB), QOL là thành tích đạt được và QOL là tiện ích.


10
- Đánh giá chất lượng cuộc sống theo bệnh đặc thù
Đánh giá chất lượng cuộc sống theo bệnh đặc thù tập trung chủ yếu vào các mặt
chính liên quan đến bệnh đặc thù vì thế có thể đánh giá chính xác hơn tác động của
bệnh tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân cũng như phản ánh rõ hơn hiệu quả can
thiệp. Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu, đánh giá chất lượng cuộc sống của người
bệnh nám da, do vậy phần tiếp theo sẽ tiến hành phân tích, tổng quan các nghiên cứu
đánh giá chất lượng cuộc sống theo đặc thù bệnh nám da.
Rõ ràng, những người có thời gian rảnh rỗi nhiều hoặc tính chất công việc cần
yếu tố thẩm mỹ cao thường có ý thức chữa trị tốt hơn những người không đi làm. Hơn
nữa các thói quen sinh hoạt hằng ngày cũng như thói quen sử dụng thuốc có thể ảnh

cận khác nhau trong việc đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh qua nhiều chỉ
số khác như dựa trên các đo lường về sở thích như mức sẵn lòng trả -WTP và thời gian
đánh đổi -TTO như của Lundberg và cộng sự 1999.
Cụ thể, một số phương pháp đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nám
da phổ biến được sử dụng như bộ chỉ số
SF-36 lúc đầu do Ware & Sherbourne (1992) đề xuất. Gồm tám thang đo: hoạt
động thể chất (PF), thể chất vai trò (RP), đau cơ thể (HA), sức khỏe nói chung (GH),
sức sống (VT), chức năng xã hội (SF), vai trò tình cảm (RE), và sức khỏe tâm thần
(MH). Phân tích thành phần cho thấy có hai khái niệm riêng biệt được đo bằng SF-36
(Lins, 2016): một chiều liên quan đến vật lý, thể chẩt, được biểu thị bằng Tóm tắt
thành phần vật lý (PCS) và chiều kích tinh thần, được biểu thị bằng Tóm tắt thành
phần tinh thần (MCS).
DLQI là công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống da liễu nói chung được phát
triển bởi Finlay & Khan (1994). DLQI là một biện pháp đơn giản bệnh nhân hoàn
thành chính xác và nhanh chóng không có sự giám sát, nó có tiềm năng để giúp đỡ
trực tiếp được cho bác sĩ lâm sàng. DLQI cung cấp một thước đo kết quả có định
hướng và liên quan đến bệnh nhân trong đánh giá các liệu pháp mới và so sánh khác
nhau cách thức chăm sóc sức khỏe. DLQI cũng cung cấp một cách để được việc so
sánh tác động của các bệnh da khác nhau và so sánh tác động của các bệnh ngoài da
với các bệnh ảnh hưởng đến các cơ quan khác. Thông tin này có thể quan trọng để
thông báo ra quyết định liên quan đến phân bổ nguồn lực trong hệ thống chăm sóc y tế
và cho các mục đích chính trị trong việc nhấn mạnh tầm quan trọng của bệnh da.
Trong tư vấn lâm sàng trực tiếp cho phép bệnh nhân thể hiện các vấn đề trong cuộc
sống của họ gây ra bởi bệnh ngoài da của họ có thể tăng cường chất lượng chăm sóc
cung cấp.


12
SKINDEX do Chren và cộng sự (1996) phát triển gồm 61 tiêu chí được dùng
trong việc đánh giá chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân đang điều trị các bệnh về

tăng sắc tố đối xứng trên mặt hoặc bất kỳ vùng da nào của cơ thể, tuy nhiên vị trí hay
gặp là vùng hở, đặc biệt là mặt, cổ, … ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ và tâm lý của
người bệnh. Nó thường ảnh hưởng đến phụ nữ trong độ tuổi sinh sản với loại da
Fitzpatrick IV-VI, mặc dù tình trạng này cũng có thể xảy ra ở nam giới. Phơi nhiễm di
truyền, tiếp xúc với tia cực tím (UV), các yếu tố nội tiết tố như hormone giới tính nữ
và bệnh tuyến giáp, mang thai và các loại thuốc như phenytoin là các yếu tố nguy cơ
đã biết.
Trong thời gian gần đây, đã có những nghiên cứu làm sáng tỏ các yếu tố khác
có thể liên quan đến bệnh sinh của nám. Chúng bao gồm các yếu tố tăng trưởng mạch
máu khác nhau, các yếu tố di truyền, và vai trò của H19, tổng hợp nitric oxide
synthase (iNOS), và các gen điều biến đường dẫn WNT. Xác định các yếu tố này có
thể tạo thuận lợi cho việc phát triển các lựa chọn điều trị mới hơn cho nám.
Biểu hiện lâm sàng
- Sạm da do di truyền, bẩm sinh
Hội chứng LEOPARD nốt ruồi, bất thường về điện tim, hai mắt cách xa nhau,
hẹp động mạch phổi, bất thường bộ phận sinh dục, phát triển chậm và điếc.
Hội chứng PEUTZ-JEGHERS nốt ruồi ở môi dưới, các màng sắc tố xuất hiện
từ khi sinh ra, hoặc lúc còn nhỏ, các tổn thương trên da có thể dần biến mất nhưng các
tổn thương trong miệng thì không.
Tàn nhang: là các đốm màu nâu hoặc cà phê sữa, kích thước thường nhỏ hơn
0,5cm. Tổn thương thường xuất hiện ở vùng bộc lộ với ánh sáng mặt trời và thường là
xuất hiện trước 3 tuổi. Khi đến tuổi dậy thì bệnh càng nặng và càng về mùa xuân hè
sạm da tăng lên, mùa thu đông có giảm đi.
Một số bệnh khác như:


14
+ Hội chứng CALM là những mảng màu cà phê sữa, nhợt đồng đều, rải rác, chu
vi rõ ràng, kích thước từ 2-20cm, xuất hiện rất sớm sau khi sinh ra, có xu hướng biến
mất khi trẻ lớn lên.

vai trò là chất cảm quang là tăng sắc tố da ở vùng bộc lộ ánh sáng.
- Do các yếu tố khác
Do dinh dưỡng mà nguyên nhân hàng đầu phải kể đến là thiếu vitamin A, B12,
vitamin PP gặp chủ yếu ở vùng hở.
Yếu tố vật lý: rám nắng ở vùng có bộc lộ với ánh sáng mặt trời.
+ Tăng sắc tố sau viêm: có thể khu trú ở thượng bì, cũng có khi ở cả trung bì do
đại thực bào ăn sắc tố sau đó khu trú ở trung bì, vùng tăng sắc tố này có thể xảy ra sau
một viêm cấp hay mạn hay sau một đợt viêm nhiễm nấm hay lang beng.
+ Tăng sắc tố trong các khối u lành tính và ác tính
+ Tăng sắc tố trong bệnh hệ thống, bệnh lao, sốt rét, xơ cứng bì, …
Biểu hiện cận lâm sàng
- Xác định nám da khu trú ở thượng bì, trung bì hay cả hai sử dụng đèn Wood
trong buồng tối chiếu vào tổn thương tăng sắc tố nếu:
Nếu sắc tố tăng đậm hơn so với nhìn mắt thường là tăng sắc tố thượng bì.
Nếu sắc tố mờ đi hay không nhìn thấy là tăng sắc tố ở trung bì
Khi chiếu đèn Wood vào tổn thương mà có chỗ tăng sắc tố, có chỗ mờ đi là
tăng sắc tố ở cả thượng bì và trung bì. Hay còn gọi là tăng sắc tố hỗn hợp.
- Mô bệnh học:
Biết tính lượng tăng sắc tố thượng bì, trung bì, hay hỗn hợp, cũng như tình
trạng sắc tố và các điểm đặc trưng mô bệnh học cho mỗi một loại bệnh tăng sắc tố.
- Các xét nghiệm khác để xác định nguyên nhân của tăng sắc tố
+ Bản đồ gen: phát hiện các đột biến gen gây bệnh
+ Xét nghiệm sinh hoá màu: phát hiện các rối loạn chuyển hoá, định lượng các
hormon.
+Siêu âm: phát hiện các bất thường nội tạng gây bệnh như teo tuyến thượng
thận, u tuyến giáp, …
+ Các xét nghiệm khác đặc hiệu cho từng bệnh.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status