SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƢỜNG THPT HẬU LỘC 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC “DỰA TRÊN TÌM TÒI,
KHÁM PHÁ KHOA HỌC” NHẰM ĐỊNH HƢỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH QUA BÀI THỰC HÀNH
“PHÁT HIỆN DIỆP LỤC VÀ CAROTENOIT”, CHƢƠNG
TRÌNH SINH HỌC 11 – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.
Ngƣời thực hiện: Trần Thị Hƣờng
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Sinh học
THANH HOÁ NĂM 2019
MỤC LỤC
1. Mở đầu.............................................................................................................. 1
1.1. Lý do chọn đề tài:........................................................................................ 1
1.2. Mục đích nghiên cứu: ................................................................................. 3
1.3. Đối tượng nghiên cứu: ................................................................................ 3
1.4. Phương pháp nghiên cứu: ........................................................................... 3
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm: .................................................................. 4
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm: ................................................... 4
Các giai đoạn đặc trưng của dạy học khám phá: ............................................ 8
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: ................... 9
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:........................................ 10
sinh hoạt chuyên môn lấy học sinhh làm trung tâm.
- Triển khai xây dựng “Mô hình trường học đổi mới phương pháp dạy học và
kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh”.
- Triển khai sâu rộng cuộc thi dạy học tích hợp liên mô dành cho giáo viên
- Đông đảo giáo viên có nhận thức đúng đắn về đổi mới phương pháp dạy học.
Nhiều giáo viên đã xác định rõ sự cần thiết và có mong muốn thực hiện sự đổi
mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá.
- Một số giáo viên đã vận dụng được các phương pháp dạy học và kiểm tra đánh
giá tích cực trong dạy học, kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học, kiểm tra đánh giá
tích cực trong dạy học, kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ
thông tin – truyên thông trong tổ chức hoạt động dạy học được nâng cao, vận
dụng được quy trình kiểm tra đánh giá mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu đạt được, việc đổi mới phương
pháp dạy học kiểm tra đánh giá ở trường trung học phổ thông vẫn còn nhiều hạn
chế như
1
- Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học còn chưa mang lại hiệu quả cao.
Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều
giáo viên. Số giáo viên thường xuyên chủ động sáng tạo trong việc phối hợp các
phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính
tích cực, sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều.
- Hoạt động kiểm tra đánh giá chưa đảm bảo tính khách quan, chính xác, công
bằng. Việc kiểm tra chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức và đánh giá
qua điểm số đã dẫn đến tình trạng giáo viên và học sinh duy trỳ dạy học theo lối
“ đọc – chép” thuần túy, học sinh học tập thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng
kiến thức. Nhiều giáo viên còn chưa vận dụng đúng quy trình biên soạn đề kiểm
tra nên các bài kiểm tra còn nặng tính chủ quan của người dạy.
Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có thể chỉ ra
viên thường “ngại”. Vì vậy việc dạy học các bài thực hành còn mang tính chất
chiếu lệ, qua loa, không thực hiện được hoặc thực hiện không thành công.
Xuất phát từ kinh nghiệm thực tế giảng dạy nhiều năm qua tôi nhận thấy
các bài thực hành trong chương trình sinh học THPT chính là cơ sở thuận lợi để
triển khai hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung
tâm. Qua đó có thể định hướng phát huy tốt nhất các năng lực cần thiết cho học
sinh.
Năm học 2017 – 2018, trong kỳ thi giáo viên giỏi cấp Tỉnh, tôi đã mạnh
dạn sử dụng phương pháp dạy học khám phá để dạy bài thực thành: “ Phát hiện
diệp lục và carotenoit, chương trình sinh học 11 và được xếp loại giờ dạy giỏi.
Kết quả đã giúp tôi có thêm động lực để thay đổi phương pháp dạy học các bài
thực hành trong chương trinh sinh học 11, THPT. Vì vậy tôi chọn đề tài sáng
kiến kinh nghiệm “ Sử dụng phương pháp dạy học: dựa trên tìm tòi khám phá
khoa học, nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh thông qua bài thực
hành “ phát hiệp lục và carotenoit”, chương trình sinh học 11 – trung học
phổ thông.” với mong muốn được chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về đổi mới
phương pháp dạy học.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Thông qua đề tài “Sử dụng phương pháp dạy học: dựa trên tìm tòi khám phá
khoa học, nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh thông qua bài thực
hành “phát hiệp lục và carotenoit”, chương trình sinh học 11 – trung học
phổ thông.” tôi mong muốn:
- Chia sẻ kinh nghiệm dạy các bài thực hành “phát hiệp lục và carotenoit”
trong chương trình sinh học 11 với đồng nghiệp từ đó mong nhận được những
đóng góp tích cực từ phía đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.
- Đề tài như một tài liệu tham khảo giúp cho bản thân và đồng nghiệp dạy học
các bài thực hành trong chương trình sinh học 11( hiện hành) một cách hiệu quả
hơn.
- Thể hiện sự nỗ lực của bản thân trong việc đổi mới phương pháp dạy học và
- Nhân ái, khoan dung.
- Trung thực, tự trọng, chí công vô tư
- Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó.
- Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự
nhiên
- Thực hiện nghĩa vụ đạo đức tôn trọng, chấp hành kỉ luật pháp luật.
b.Về năng lực chung:
- Năng lực tự học.
+ Xác định nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định
hướng phấn đấu tiếp; mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tập trung
nâng cao hơn những khía cạnh còn yếu kém
+ Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập, hình thành cách học riêng của
bản thân
+ Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình
học tập, đúc kết kinh nghiệm của mình, có thể chia sẻ
- Năng lực giải quyết vấn đề:
+ Phân tích được tình huống học tập trong cuộc sống, phát hiện và nêu được tình
huống có vấn đề trong học tập, đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải
quyết vấn đề
+ Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề.
- Năng lực sáng tạo
+ Đặt câu hỏi có giá trị để làm rõ các tình huống và những ý tưởng trừu tượng;
xác định và làm rõ thông tin, y tưởng mới
4
+ Xem xét sự vật với những góc nhìn khác nhau, hình thành kết nối ý tưởng.
+ Lập luận về quá trình suy nghĩ, nhận ra yếu tố sáng tạo trong các quan điểm
trái chiều
+ Say mê, nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập.
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông:
+ Lựa chọn và sử dụng hiệu quả các thiết bị ICT để hoàn thành nhiệm vụ cụ thể;
hiểu được các thành phần của hệ thống mạng để kết nối, điều khiển và khai thác
các dịch vụ trên mạng
+ Xác định được thông tin cần thiết và xây dựng được tiêu chí lựa chọn; sử dụng
kỹ thuật tìm kiếm, tổ chức, lưu trữ để hỗ trợ nghiên cứu kiến thức mới; đánh giá
5
được mức độ tin cậy của các thông tin, dữ liệu đã tìm được, xử lí thông tin hỗ
trợ giải quyết vấn đề.
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ:
+ Nghe hiểu và chắt lọc được những thông tin bổ ích từ các bài đối thoại, truyện
kể, lời giải thích, cuộc thảo luận, nói với cấu trúc logic, biết cách lập luận chặt
chẽ và có dẫn chứng xác thực, thuyết trình được nội dung chủ đề thuộc chương
trình học tập.
+ Sử dụng hợp lí từ vựng và mẫu câu trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ, có
từ vựng dùng cho các kỹ năng đối thoại và độc thoại.
+ Đạt năng lực bậc 3 về 1 ngoại ngữ.
- Năng lực tính toán:
+ Vận dụng thành thạo các phép tính trong học tập và cuộc sống, sử dụng hiệu
quả các kiến thức, kỹ năng về đo lường, ước tính trong các tình huống ở nhà
trường cũng như trong cuộc sống.
+ Sử dụng hiệu quả các thuật ngữ, ký hiệu toán học, tính chất các số và tính chất
các hình học, sử dụng được thống kê toán để giải quyết vấn đề nảy sinh trong
bối cảnh thực, hình dung và vẽ được các hình dạng các đối tượng trong môi
trường xung quanh, hiểu tính chất cơ bản của chúng.
+ Mô hình hóa toán học được một số vấn đề thường gặp; vận dụng được các bài
toán tối ưu trong học tập và trong cuộc sống
+ Sử dụng hiệu quả máy tính cầm tay với các chức năng tính toán tương đối
dạy học hiện tại. Việc dạy học thay vì chỉ dừng ở hướng tới mục tiêu dạy học
hình thành kiến thức, kĩ năng và thái độ tích cực ở học sinh thì còn hướng tới
mục tiêu xa hơn, đó là phát triển khả năng thực hiện các hành động có ý nghĩa
đối với người học. Nói một cách khác, việc dạy học định hướng năng lực về bản
chất không thay thế mà chỉ mở rộng hoạt động dạy học hướng nội dung bằng
cách tạo một môi trường, bối cảnh cụ thể để học sinh được thực hiện các hoạt
động vận dụng kiến thức, sử dụng kĩ năng và thể hiện thái độ của mình. Như vậy
việc dạy học định hướng năng lực được thể hiện ở các trong các thành tố quá
trình dạy học như sau:
- Về mục tiêu dạy học: Mục tiêu kiến thức: ngoài các mục tiêu về nhận biết, tái
hiện kiến thức cần có những mục tiêu về vận dụng kiến thức trong các tình
huống, các nhiệm vụ gắn với thực tế. Với các mục tiêu về kĩ năng cần có thêm
những mục tiêu rèn luyện các kĩ năng thực hiện hoạt động đa dạng.
- Về phương pháp dạy học: Ngoài cách dạy học thuyết trình cung cấp kiến thức
cần tổ chức hoạt động dạy học thông qua trải nghiệm, giải quyết những nhiệm
vụ thực tiễn.
Như vậy thông thường, qua một hoạt động học tập, học sinh sẽ được hình
thành và phát triển không phải một loại năng lực mà là được hình thành đồng
thời nhiều năng lực hoặc nhiều năng lực thành tố mà ta không cần (và cũng
không thể) tách biệt từng thành tố trong quá trình dạy học.
- Về nội dung dạy học: Cần xây dựng các hoạt động, chủ đề, nhiệm vụ đa dạng
gắn với thực tiễn.
- Về kiểm tra, đánh giá: Về bản chất, đánh giá năng lực cũng phải thông qua
đánh giá khả năng vận dụng kiến thức và kĩ năng thực hiện nhiệm vụ của học
sinh.
Như vậy, để hình thành và phát triển năng lực cho HS, cần sử dụng kết hợp
nhiều phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khác nhau, đặc biệt cần tổ chức
các hoạt động học tập gắn liền với thực tiễn để kích thích và hoạt động hóa
người học. Một số phương pháp có nhiều ưu thế trong việc hình thành và phát
triển năng lực học sinh trong dạy học Sinh học như: Dạy học dự án; Phương
để hình thành kiến thức mới; đồng thời, học sinh cũng có cơ hội để phát triển tư
duy phê phán, tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm, năng lực giải
quyết vấn đề và rất nhiều các kĩ năng khác cần thiết cho một cuộc sống độc lập
sau này. Như vậy, DHKP tạo nhiều cơ hội để phát triển năng lực ở học sinh.
Các giai đoạn đặc trưng của dạy học khám phá:
Tùy theo từng tác giả hay từng lĩnh vực khoa học mà người ta phân chia
quá trình khám phá thành số lượng các giai đoạn khác nhau, nhưng theo cách
phân chia nào, thì vẫn bao hàm những hoạt động cơ bản của việc tìm tòi, khám
phá khoa học. Trong lĩnh vực vật lí và trong dạy học vật lí, hoạt động dạy học
khám phá được phân chia thành một số giai đoạn đặc trưng sau đây:
Giai đoạn 1: Đặt ra các câu hỏi khoa học:
Trong nghiên cứu khoa học, đứng trước quá trình, hiện tượng cần nghiên
cứu, các nhà khoa học thường đặt ra hai loại câu hỏi chủ yếu. Loại câu hỏi thứ
nhất thường được mở đầu bằng từ “tại sao”, ví dụ: Tại sao vào mùa lạnh, khi hà
hơi vào tấm kính để ngoài trời lại làm kính “mờ” đi? Tại sao giọt nước mưa lại
rơi từ trên trời xuống dưới? Loại câu hỏi thứ hai thường hỏi về cách thức hình
thành những sự kiện nào đó, thường sử dụng từ “như thế nào”, ví dụ: Làm như
thế nào để tạo ra dòng điện mà không cần nguồn điện như pin, ác qui? Làm thế
nào để vận tải điện năng đi xa mà giảm tổn thất điện năng? Nghiên cứu khoa học
nói chung, dạy học khám phá nói riêng bao giờ cũng bắt đầu bằng câu hỏi khoa
học.
8
Giai đoạn 2: Đưa ra giả thuyết/ dự đoán khoa học làm cơ sở cho việc trả lời câu
hỏi khoa học.
Các nhà khoa học thu thập các bằng chứng như những dữ liệu khoa học
thông qua cách ghi lại những quan sát và các dữ liệu đo lường. Trong quá trình
học tập, HS phân tích các dữ liệu này để đưa ra giả thuyết làm cơ sở cho việc trả
lời câu hỏi khoa học, giải thích các quá trình, hiện tượng khoa học đã quan sát
đặc trưng của DHKP; nhưng trong bài học khác, chỉ một vài giai đoạn đặc trưng
được thể hiện rõ.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
- Trước đây, khi chưa có phòng thực hành bộ môn các tiết thực hành nói chung
ở trường trung học phổ thông Hậu Lộc 4 thường gặp khó khăn do thiếu phòng
thực hành bộ môn, thiếu trang thiết bị, thiếu hóa chất
9
- Sau khi phòng thực hành hóa sinh được xây dựng, tuy đã có nơi để tổ chức các
buổi học thực hành song do hóa chất trang thiết bị không được đầu tư kịp thời
cộng với tâm lí “ngại” của giáo viên và học sinh nên việc tổ chức các buổi thực
hành còn mang tính hình thức, khó thành công, không hiệu quả.
- Phương pháp dạy vẫn nặng tính lí thuyết, truyền thống, chưa phát huy được hết
tính sáng tạo và năng lực của học sinh.
- Lớp học còn khá đông học sinh, việc phân chia nhóm thực hành, việc quan sát,
chỉ đạo của giáo viên gặp khó khăn.
- Nhiều học sinh có thói quen ỉ lại, dựa dẫm vào bạn khác chưa tự giác tích cực.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
- Để khắc phục tình trạng thiếu trang thiết bị, hóa chất, thông qua nhân viên phụ
trách thí nghiệm, tổ chuyên môn tôi đã đề xuất Ban giám hiệu nhà trường cấp
kinh phí mua bổ sung cốc thủy tinh, ống nghiệm, cồn, và các dụng cụ hóa chất
cần thiết cho các bài thực hành trong chương trình sinh học 10, 11, 12.
- Để tiết dạy được thành công, giáo viên cùng phụ tá thí nghiệm phải chuẩn bị
đầy đủ dụng cụ hóa chất, làm trước thí nghiệm cho đến khi thành công nhằm
lường trước những nguyên nhân dẫn đến thất bại mà học sinh có thể gặp phải để
có thể hướng dẫn học thực hiện đúng.
- Được sự giúp đỡ của tổ chuyên môn, tôi đã xây dựng giáo án bài dạy thực
hành: “ Phát hiện diệp lục và carotenoit” theo phương pháp: Dạy học khám phá.
Nội dung giáo án như sau:
Thông qua việc hoạt động nhóm, trình bày báo cáo thí nghiệm, phản biện thí
nghiệm, học sinh có thể hình thành các năng lực chung như sau:
- Năng lực tự học
- Năng lực giải quyết vấn đề.
- Năng lực sáng tạo
- Năng lực tự quản lý.
- Năng lực giao tiếp.
- Năng lực hợp tác.
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ.
4.2. Các năng lực riêng:
Qua nhiệm vụ chuẩn bị mẫu vật, nghiên cứu bài trước ở nhà, tiến hành thí
nghiệm, giải thích các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm giúp học sinh hình
thành các năng lực chuyên biệt sau:
- Tri thức về sinh học: kiến thức về quang hợp nói riêng và sinh lý thực vật nói
chung.
- Năng lực nghiên cứu: Hiểu biết và sử dụng được các phương pháp nghiên cứu
khoa học, áp dụng các phương pháp thực nghiệm giải quyết các vấn đề khoa
học, cụ thể là:
+ Thiết kế được thí nghiệm để kiểm chứng giả thuyết.
+ Biết cách quan sát, ghi chép, thu thập số liệu, kết quả nghiên cứu
+ Rút ra được kết luận.
II. PHƢƠNG PHÁP
Trong bài có sự kết hợp của nhiều phương pháp dạy học tích trong đó chủ yếu là
- Phương pháp dạy học tìm tòi – khám phá khoa học
- Phương pháp thực hành thí nghiệm
II. CHUẨN BỊ:
1. Chuẩn bị của giáo viên:
1.1. Dụng cụ:
- Cốc thủy tinh loại có mỏ
- Ống đong bằng nhựa hoặc thủy tinh loại 20 – 50 ml, có chia độ.
+ Tại sao củ nghệ có màu vàng, cà chua có màu đỏ?
+ Vai trò của cồn đối với thí nghiệm của bài hôm nay?
Bƣớc 2: Đƣa ra giả thuyết/ dự đoán khoa học làm cơ sở cho việc trả lời câu
hỏi khoa học
- Học sinh: dựa vào những kiến thức lí thuyết đã học đưa ra giả thuyết trả lời
các câu hỏi:
+ Lá xanh có chứa nhiều diệp lục nên có màu xanh
+ Lá vàng, củ nghệ, cà chua chứa nhiều diệp lục và carotenoit.
+ Cồn giúp hòa tan diệp lục và carotenoit
(Học sinh có thể trả lời khác)
Bƣớc 3: Tiến hành các thí nghiệm để kiểm chứng giả thuyết
- Giáo viên: hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm để chứng minh giả thiết
đưa ra là đúng hay sai
- Giáo viên giới thiệu mục tiêu bài học, dụng cụ, hóa chất, mẫu vật cần chuẩn bị.
- Giáo viên nêu những lưu ý về an toàn khi thực hành thí nghiệm:
12
+ Không tự tiện mở tủ, hộp đựng hóa chất trong phòng thí nghiệm.
+ Không mang các chất dễ gây cháy nổ vào phòng.
+ Đeo găng tay, khẩu trang y tế trong khi làm thí nghiệm.
+ Không để hóa chất dây vào mắt, da, niêm mạc...
- Giáo viên nêu quy trình thí nghiệm và làm mẫu.
(Hình ảnh: Giáo viên hướng dẫn thí nghiệm cho học sinh lớp 11A3
tại phòng thí nghiệm trường THPT Hậu Lộc 4)
1. Thí nghiệm chiết rút diệp lục:
- Lấy 2 cốc thủy tinh , cắt (hoặc thái) vào mỗi cốc khoảng 30 -50 lát cắt
mỏng ngang lá xanh tại nơi không có gân chính.
- Học sinh: Ghi kết quả thực hành theo bảng sau và tự rút ra kết luận:
Cơ quan của cây Dung môi chiết rút
Màu sắc dịch chiết
Lá
Xanh
Nước ( Đối chứng)
Xanh lục
Đỏ, da cam, vàng, vàng
lục
Vàng
Cồn ( Thí nghiệm)
Quả
Gấc
Nước ( Đối chứng)
Cà
Cồn ( Thí nghiệm)
chua
Củ
Cà rốt Nước ( Đối chứng)
Nghệ
Cồn ( Thí nghiệm)
Bƣớc 5: Báo cáo, bảo vệ kết quả thực hành.
- Các nhóm cử đại diện trình bày trước lớp, giải thích kết quả, rút ra kết luận.
- Học sinh cả lớp nhận xét, góp ý, đưa ra câu hỏi nếu có thắc mắc.
- Giáo viên nhận xét chung, tổng kết, đánh giá, cho điểm.
- Học sinh thu dọn, vệ sinh phòng thí nghiệm trước khi hết giờ.
(Hình ảnh: Học sinh lớp 11A3 trình bày, giải thích và bảo vệ kết quả thí nghiệm)
14
6
Tích cực tự học tự khám phá
7
8
Tích cực tham gia hợp tác nhóm
Sản phẩm có tính khoa học
9
Sản phẩm thực sự có tác dụng, ý nghĩa đối với
thực tiễn đời sống
10
Trình bày rõ ràng, logic, hấp dẫn và trả lời được
các vấn đề cần tìm hiểu của dự án
Điểm
Ghi chú
1 2 3 4 5
Dựa vào kết quả
báo cáo thực hành
cảu nhóm
Dựa vào phân
công nhiệm vụ
của mỗi nhóm
Dựa vào sản
sinh.
- Sáng kiến kinh nghiệm này là tài liệu tham khảo hữu ích đối với đồng nghiệp.
- Đối với học sinh, việc được chủ động tìm tòi khám phá đã khơi gợi ở các em
sự tò mò phấn khích, sự say mê nghiên cứu, có trách nhiệm với công việc được
giao, có ham muốn bảo vệ công trình nghiên cứu.... Chính vì vậy các em luôn
chờ đón tiết học một cách háo hức, tò mò. Tron quá trình triển khai giờ học tôi
nhận thấy hầu như không có học sinh nào đứng ngoài các hoạt động nhóm. Giáo
viên không phải “ nhọc công” nhắc nhở đôn đốc các em. Tiết học luôn trong
không khí sôi nổi. Sau tiết học, các em đều nắm chắc kiến thức lí thuyết, có thể
vận dụng giải thích được các hiện tường trong tự nhiên liên quan. Ngoài ra một
số em còn có thể tự tìm tòi thử nghiệm thí nghiệm tách chiết diệp lục và
carotenoit bằng phương pháp sắc ký.
Kết quả đánh giá học sinh sau buổi học được thống kê như sau:
Xuất sắc
(50 điểm)
Các lớp
thực
nghiệm
Các lớp
đối chứng
11A1 (Sĩ
số 40 em)
11A7 Sĩ
số 42)
11A2(Sĩ
số 40 em)
11A3(Sĩ
số 40 em)
35%
50%
0%
0%
0%
20%
30%
45%
5%
3%
20%
20%
50%
7%
- Năm học 2017 – 2018, tiết dạy thực hành “ Phát hiện diệp lục và carotenoit”
theo phương pháp dạy học khám phá của tôi vinh dự được xếp loại giỏi trong kỳ
thiết.
- Rất mong các cấp lãnh đạo quan tâm đầu tư bổ sung trang thiết bị, hóa chất
mới hàng năm cho phòng thực hành môn sinh nói riêng và các bộ môn khác nói
chung để các tiết thực hành có thể thực hiện được và thực hiện thành công.
Tránh tình trạng có phòng thực hành, có trang thiết bị nhưng hỏng hóc, mốc,
không sử dụng được.
- Cần tuyển giáo viên phụ tá thí nghiệm hỗ trợ giáo viên trong các tiết thực hành.
- Chương trình giáo dục nhà trường cần tăng cường thêm các tiết học thực hành
thí nghiệm, các tiết thực hành phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa
phương và nhà trường.
- Chắc chắn sáng kiến kinh nghiệm còn nhiều thiếu sót và hạn chế vì vậy tôi
mong nhận được sự nhận xét, đóng góp ý kiến từ các chuyên viên Sở giáo dục;
từ các đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường để sáng kiến được hoàn thiện hơn.
Rất mong sự ủng hộ, động viên từ các cấp lãnh đạo, đồng nghiệp để tôi có thể
phát triển mở rộng đề tài trong những năm học tiếp theo, góp phần nhỏ bé vào
công cuộc đổi mới toàn diện của ngành Giáo dục tỉnh nhà nói riêng và của toàn
ngành Giáo dục Việt Nam nói chung.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
17
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 05 năm 2019.
Xác nhận của thủ trưởng
đơn vị:
Tôi xin cam đoan sáng kiến này là do tôi viết, không
sao chép nội dung của người khác.
Người viết
Trần Thị Hường