BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------------------------
NGUYỄN THỊ BÍCH LỢI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ
MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ TRỒNG LÚA HAI VỤ SANG
TÔM LÚA TẠI HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------------------------
NGUYỄN THỊ BÍCH LỢI
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ
MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ TRỒNG LÚA HAI VỤ SANG
TÔM LÚA TẠI HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS.NGUYỄN HỮU DŨNG
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 3
1.5. KẾT CẤU LUẬN VĂN ................................................................................ 3
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ..................................................................... 5
2.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ............................................................ 5
2.1.1. Khái niệm nông hộ................................................................................... 5
2.1.2. Khái niệm về kinh tế hộ nông dân ........................................................... 6
2.1.3. Khái niệm hiệu quả kinh tế ...................................................................... 7
2.1.4. Khái niệm hiệu quả sản xuất.................................................................... 7
2.2. LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ HỌC SẢN XUẤT ........................................... 7
2.2.1. Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất .................................. 7
2.2.2.Hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất ......................................... 8
2.2.3. Hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí........................................... 9
2.2.4. Hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận ..................................... 11
2.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP .............................................................................................................. 12
2.3.1. Các yếu tố đầu vào ................................................................................. 12
2.3.1.1. Những nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên..................................... 12
2.3.1.2. Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội .......................... 13
2.3.1.3. Những nhân tố thuộc về điều kiện kỹ thuật ..................................... 14
2.3.2. Các yếu tố tác động đến năng suất sản xuất trong nông nghiệp ............ 15
2.4. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ..................................... 16
2.4.1. Nghiên cứu ngoài nước.......................................................................... 16
2.4.2. Nghiên cứu trong nước ......................................................................... 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................... 22
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................ 23
3.1. DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU ............................................................................ 23
3.1.1. Dữ liệu thứ cấp ...................................................................................... 23
3.1.2. Dữ liệu sơ cấp ........................................................................................ 23
5.2.3. Đối với hộ nông dân .............................................................................. 49
5.3. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO ....... 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC SỐ LIỆU
DANH MỤC VIẾT TẮT
BVTV:
Bảo vệ thực vật
CĐL:
Cánh đồng lớn
DT:
Doanh thu
ĐBSCL:
Đồng bằng sông Cửu Long
LN:
Lợi nhuận
NN&PTNT:
35
Bảng 4.4: So sánh đặc điểm của hai nhóm hộ
37
Bảng 4.5: Mô tả chi phí mô hình lúa hai vụ
39
Bảng 4.6: Mô tả chi phí mô hình tôm lúa
40
Bảng 4.7: Hiệu quả kinh tế mô hình lúa hai vụ
42
Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế mô hình tôm lúa
43
Bảng 4.9. So sánh hiệu quả kinh tế
45
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Phân loại đất
chủ hộ, dân tộc chủ hộ, tuổi chủ hộ, học vấn chủ hộ, tham gia hội nông dân, qui
mô hộ gia đình, thu nhập bình quân đầu người trong năm, chi tiêu bình quân đầu
người trong năm, diện tích sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, số lần tập huấn trong
năm. Thực hiện kiểm định trung bình các đặc điểm nêu trên, kết quả cho thấy
không có sự khác biệt giữa hai nhóm hộ với mức ý nghĩa 1%.
Mô tả các khoản chi phí sản xuất của hộ ở hai mô hình gồm chi phí giống,
chí phí phân bón, chi phí thuốc BVTV, chi phí bơm nước, chi phí lao động, chi
phí khác. Phân tích hiệu quả sản xuất của từng mô hình thông qua các chỉ tiêu
tổng chi phí sản xuất, năng suất, giá bán, doanh thu và lợi nhuận của từng vụ lúa
và vụ tôm của cả hai mô hình. So sánh hiệu quả sản xuất của hai mô hình thông
qua kiểm định trung bình các chỉ tiêu tổng chi phí, tổng doanh thu, lợi nhuận, tỷ
lệ LN/TCP, tỷ lệ LN/TDT. Kết quả kiểm định cho thấy, tổng chi phí sản xuất
của mô hình tôm lúa thấp hơn tổng chi phí mô hình lúa hai vụ, trong khi tổng
doanh thu, lợi nhuận, tỷ lệ LN/TCP, tỷ lệ LN/TDT của mô hình tôm lúa đều cao
hơn mô hình lúa hai vụ. Điều này cho biết, mô hình tôm lúa có hiệu quả kinh tế
cao hơn mô hình lúa hai vụ trên địa bàn huyện An Biên.
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Sau những năm đổi mới tình hình nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước
ta nói chung và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng đã đạt được
nhiều thành tựu đáng kể, nhiều mô hình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp
đã góp phần làm tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích, tăng thu nhập và
lãi cho người nông dân, giảm bớt lao động nông nghiệp chuyển sang dịch vụ
tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn.
đánh giá được những ưu điểm, những tồn tại và hạn chế của quá trình chuyển
đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm lúa ởhuyện An Biên giai đoạn vừa qua một cách
khách quan, khoa học và làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp phù hợp, hướng
nghề nuôi tôm của huyện An Biên và của tỉnh Kiên Giang phát triển ổn định,
bền vững.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được hiệu quả kinh tế chuyểnđổi mô hình từ trồng lúa hai vụ
sang tôm - lúa tại huyện An Biên, thông qua đó làm cơ sở cho xây dựng các
chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế nông hộ tại huyện An
Biên.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Đánh giá thực trạng mô hình chuyển đổi từ lúa hai vụ sang tôm - lúa
huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình trồng lúa hai vụ và mô hình tôm lúa tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Đề xuất được các chính sách nhằm phát triển các mô hình sản xuất bền
vững phù hợp với điều kiện sản xuất tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
3
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Thực trạng mô hình chuyển đổi từ lúa hai vụ sang tôm - lúa huyện An
Biên, tỉnh Kiên Giang như thế nào?
Có sự khác biệt hiệu quả kinh tế giữa mô hình trồng lúa hai vụ và mô hình
tôm - lúa tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang hay không?
Các chính sách nào nhằm phát triển các mô hình sản xuất bền vững phù
hợp với điều kiện sản xuất tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang?
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
5
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
2.1.1. Khái niệm nông hộ
Trên thế giới nhiều khái niệm về hộ nông dân:
Theo Ellis (1988), trích từ Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung
(2015) định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế
sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia
đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc
trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với
mức độ không hoàn hảo cao".
Nhà nông học Nga - Chayanov (1925) cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị
sản xuất rất ổn định, là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông
nghiệp". Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách
nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển (trích bởi
Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung, 2015).
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà
khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là
hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn". Đào Thế Tuấn (1997)
cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa
rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông
thôn”.
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001), trong phân tích điều tra
nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc
50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động
trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng,
bảo vệ thực vật,...) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông
sản xuất với chi phí thấp nhất; (3) sản xuất để đáp ứng nhu cầu con người.
2.2. LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ HỌC SẢN XUẤT
2.2.1. Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất
Trích theo nghiên cứu của Trần Thị Mộng Thúy (2015):
Lý thuyết kinh tế sản xuất bắt nguồn từ người nông dân là một cá nhân
quyết định các vấn đề như: sử dụng bao nhiêu lao động cho một vụ sản xuất, có
nên sử dụng vật tư nông nghiệp cho sản xuất hay không, nên trồng loại cây nào
8
v.v… Lý thuyết này nhấn mạnh vào quan điểm là những người nông dân có thể
thay đổi mức độ và chủng loại của các vật tư và sản phẩm nông nghiệp.
Người ta thừa nhận ba mối quan hệ giữa nguồn lực và sản phẩm nông
nghiệp đó là:
(1) Mức độ thay đổi của sản lượng phù hợp với mức độ thay đổi của
nguồn lực sử dụng trong sản xuất. Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ yếu tố sản phẩm hay là mối quan hệ giữa nguồn lực - sản lượng (input và output).
(2) Thay đổi sự kết hợp của hai hay nhiều loại nguồn lực khác nhau để sản
xuất ra một sản lượng nhất định (như sự kết hợp giữa đất đai và lao động theo
các cơ cấu khác nhau để tạo ra một sản lượng lúa như nhau).
(3) Sản lượng hoặc sản phẩm khác nhau có thể thu được từ một tập hợp
các nguồn tài nguyên (như các mức sản lượng sắn hoặc đậu khác nhau có thể thu
được trên cùng một đơn vị diện tích). Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ sản
phẩm - sản phẩm.
Học thuyết cơ bản của nền sản xuất nông dân bao gồm hàng loạt các mục
đích có thể đạt được và một số hạn chế như không đề cập đến phương tiện tiêu
dùng của gia đình nông dân. Tìm hiểu một mục đích duy nhất có thể đạt được tối
đa hóa lợi nhuận trong thời gian ngắn hạn. Chỉ có nông dân là người duy nhất
được phép ra quyết định trong nền sản xuất của nông dân. Những giả định khác
bao gồm sự cạnh tranh trên các thị trường về sản phẩm, vật tư nông nghiệp và
Trích theo nghiên cứu của Trần Thị Mộng Thúy (2015):
Mức độ hiệu quả nhất của một biến chi phí đầu tư phụ thuộc vào mối
quan hệ giữa giá cả của các loại nguồn lực đó và giá sản phẩm. Mức độ kinh tế
tối ưu của việc chi phí nguồn lực đạt được khi giá trị sản phẩm biên tế của
nguồn lực bằng giá của nguồn lực đó.
Mức tối ưu của một nguồn lực đơn có thể được biểu thị bằng một vài
phương pháp khác nhau:
PX = giá của từng đơn vị nguồn lực X (tức là MFC)
PY = giá của từng đơn vị sản lượng Y
MVP: giá trị biên tế của sản phẩm
MPP: sản phẩm hiện vật tới hạn
Vậy MVPx = MPPX * PY có nghĩa là giá trị sản phẩm biên tế của nguồn
lực bằng sản phẩm tới hạn nhân với giá sản phẩm. Vì vậy, có 3 cách để xác định
điểm tối ưu:
- Điểm tối ưu kinh tế sẽ đạt được khi mức tiền lãi tăng thêm bằng chi phí
tăng thêm MVPX = PX. Nếu MVPX > PX thì nông dân sử dụng quá ít nguồn lực
và nếu Nếu MVPX < PX thì lại chứng tỏ nông dân sử dụng quá nhiều nguồn lực.
10
- Điểm tối ưu cũng có thể biểu thị bằng MVPX /PX = 1 là tỷ lệ của giá trị
biên tế của sản phẩm đối với giá vật tư bằng 1. Các dạng biểu thị điều kiện tối
ưu này thường được dùng trong các tạp chí liên quan tới nghiên cứu về hiệu quả
kinh tế của người nông dân và vấn đề nêu lên là tỷ lệ này có thể là một con số
khác 1 được không và nếu vậy thì theo hướng nào. Trả lời cho vấn đề này là nếu
tỷ lệ đó lớn hơn 1 tức là MVPX /PX > 1 thì không đạt tối ưu người nông dân sử
dụng quá ít nguồn lực còn nếu MVPX /PX < 1 cũng không được vì tỷ lệ này biểu
thị người nông dân dùng quá nhiều nguồn lực.
- Vì MVPPX = MPX * PY nên điều kiện tối ưu cũng có thể được biểu thị
Nói cách khác, tối ưu, chi phí ít nhất, sự kết hợp của các nguồn lực xảy ra
khi các tỷ lệ của sản phẩm tới hạn đối với chi phí của từng đơn vị nguồn lực đều
giống nhau đối với tất cả các loại nguồn lực. Điều này cũng có nghĩa là khi nói
rằng MPP trên một đô la chi phí bằng tổng tất cả các nguồn lực, và nếu có sự
thay đổi trong công nghệ sản xuất (thay đổi vị trí và hình dạng các đường đồng
mức sản lượng) hoặc nếu có sự thay đổi tỷ lệ giá của các yếu tố thì sự kết hợp
chi phí ít nhất của các nguồn lực cũng thay đổi.
2.2.4. Hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận
Trích theo nghiên cứu của Trần Thị Mộng Thúy (2015):
Giả thuyết người nông dân hiệu quả thường gắn với với việc nông hộ đẩy
mạnh tối đa hóa lợi nhuận. Hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận là hai mặt của một
vấn đề: ở cấp một đơn vị sản xuất cá thể, người ta không thể chỉ có cái này mà
không có cái kia. Một định nghĩa chính xác về hiệu quả kinh tế cũng cần phải kể
đến một thị trường cạnh tranh, vì vậy cũng không có một đơn vị (hoặc một
ngành sản xuất) cá thể nào có thể đạt được hiệu quả nếu như những người sản
xuất phải đương đầu với các giá cả khác nhau hoặc nếu một số tác nhân kinh tế
này có thể làm ảnh hưởng giá cả và thu nhập của các tác nhân kinh tế khác.
Giả thuyết tối đa hóa lợi nhuận không yêu cầu phải có lợi nhuận bằng một
khoản tiền. Điều mà giả thuyết yêu cầu là phải điều chỉnh đầu vào hoặc đầu ra
của sản xuất sao cho các nông hộ đạt một khoản thu nhập ròng cao hơn dù bằng
tiền mặt hay bằng hiện vật và điều này được áp dụng như nhau đối với các hộ
gia đình nghèo cũng như khá giả. Đối với việc điều tra thực tế thì nguồn lực và
12
sản phẩm phải được ấn định theo giá thị trường và các giá ấn định này là đặc
trưng cho các điều kiện của thị trường cạnh tranh.
Theo quan điểm tân cổ điển đúng đắn, thậm chí nếu bản chất của nền kinh
tế nông dân hạn chế việc đạt hiệu quả thì điều đó không có nghĩa là trong điều
hết vào các quá trình sản xuất của xã hội nhưng tùy thuộc vào từng ngành cụ thể
mà vai trò của đất đai có sự khác nhau. Nếu trong công nghiệp, thương mại, giao
thông, đất đai là sơ sở, nền móng để xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng lưới
đường giao thông…thì ngược lại trong nông nghiệp, đất đai tham gia với tư cách
là yếu tố tích cực của sản xuất và là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế
được.
Điểm cơ bản cần đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn của đất đai là
phải gắn với từng loại cây trồng cụ thể. Rất có thể một đặc điểm nào đó của đất
đai là khó khăn cho loại cây trồng này nhưng lại là thuận lợi cho loại cây trồng
khác. Đồng thời cũng cần xem xét trong từng thời vụ cụ thể trong năm về ảnh
hưởng của đất đai đối với sản xuất một loại cây trồng cụ thể.
Khí hậu: nhiệt độ bình quân hàng năm, hàng tháng; nhiệt độ cao nhất,
thấp nhất hàng năm, hàng tháng; lượng mưa hàng năm, hàng tháng, lượng mưa
bình quân cao nhất, thấp nhất trong thời kỳ quan trắc; thời gian chiếu sáng,
cường độ chiếu sáng; chế độ gió; những hiện tượng đặc biệt của khí hậu như
sương muối, mưa đá, tuyết rơi, sương mù v.v…đều phải được phân tích, đánh
giá về mức độ ảnh hưởng của từng loại cây trồng cụ thể.
Nguồn nước: trong lĩnh vực nông nghiệp, nước tưới được xem là yếu tố
quan trọng. Việc tưới đúng phương pháp, kỹ thuật có tác dụng nâng cao năng
suất cây trồng (Lê Ngọc Báu, 1999). Để xây dựng một chế độ nước tưới hợp lý
cần tính toán đến yêu cầu sinh lý của cây, điều kiện khí hậu thời tiết, lượng mưa
từng vùng, đặc điểm của đất v.v…
2.3.1.2. Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội
Dân cư, lao động ảnh hưởng đến cơ cấu, sự phân bố cây trồng, vật nuôi
(là lực lượng lao động, tiêu thụ, quan trọng để phát triển nông nghiệp).
Sở hữu ruộng đất: Ảnh hưởng đến đường lối phát triển, các hình thức tổ
chức lãnh thổ nông nghiệp.
14