Kinh nghiệm rèn kĩ năng sống cho HS bằng việc thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử trong dạy học khoa học lớp 4b trường TH lam sơn 1 - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

KINH NGHIỆM RÈN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP
4B TRƯỜNG TIỂU HỌC LAM SƠN 1 BẰNG VIỆC THIẾT
KẾ SÁNG TẠO BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ SINH ĐỘNG TRONG
DẠY HỌC KHOA HỌC LỚP 4

Người thực hiện: Đặng Thị Hạnh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Lam Sơn 1
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Khoa học

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................2
II. NỘI DUNG......................................................................................................3
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm...........................................................3
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm...........................3
3. Các giải pháp đã sử dụng để rèn kĩ năng sống cho học sinh bằng việc thiết kế
sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học lớp 4............4
3.1. Tìm hiểu khả năng giáo dục các kĩ năng sống phù hợp với độ tuổi học sinh
và môn học Khoa học lớp 4...................................................................................5

sống cho học sinh, Sở Giáo dục và đào tạo Thanh Hóa đã chỉ đạo cho các cơ sở
giáo dục tích cực đẩy mạnh các hoạt động giáo dục rèn kỹ năng sống cho học
sinh gắn liền với phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
thông qua các hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp một
cách thường xuyên, liên tục. Phòng Giáo dục và đào tạo Bỉm Sơn chỉ đạo các
trường học tích cực đưa nội dung giáo dục rèn kỹ năng sống cho học sinh thông
qua hình thức khai thác các nội dung giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng hòa nhập
cho các em trong các môn học bằng việc tích cực và sáng tạo trong đổi mới
phương pháp dạy học.
Năm học 2016-2017 cũng là năm học tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong
trào “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và Tin học trong dạy
học”. Đồng thời là năm học đẩy mạnh rèn kĩ năng sống cho học sinh. Hưởng
ứng phong trào thi đua đó, bản thân tôi và tập thể cán bộ, giáo viên trường Tiểu
học Lam Sơn 1 đã nhận thức được rằng: việc ứng dụng CNTT phục vụ cho việc
đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả giáo dục, phát triển năng lực
thực hành ứng dụng cho các em là một trong những hướng tích cực và hiệu quả
nhất. Nên tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi để ứng dụng CNTT trong công tác
giảng dạy. Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học? Làm thế nào để giúp
học sinh ngay từ cấp học đầu tiên - bậc Tiểu học, thông qua các hoạt động trong
giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo viên giáo dục cho các em những
kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho học
sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói
quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày.
Cũng như giúp các em tự tin, tích cực, chủ động và sáng tạo trong mỗi giờ học?
Đó là điều mà tôi luôn trăn trở. Nên tôi đã mạnh dạn nghiên cứu: “Kinh nghiệm
rèn kĩ năng sống cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 bằng việc
thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học lớp
4”. Qua đó góp một phần nhỏ vào thực hiện phong trào thi đua mà Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã và đang phát động.
2. Mục đích nghiên cứu

1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Như chúng ta đã biết, kể từ Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa
XI ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW (04/11/2013) về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong đó nêu
rõ giải pháp thực hiện “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt
động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy và học”.
Vì vậy chúng ta cần phải đồng thời quan tâm đặc biệt đến cả hai vấn đề,
đó là: ứng dụng CNTT đổi mới phương pháp dạy học bằng nhiều hình thức
nhằm giúp cho học sinh phát triển năng lực tư duy, óc sáng tạo, có ý chí tự lực
trong quá trình lĩnh hội kiến thức; đồng thời cũng cần phải phát triển kĩ năng
sống cho học sinh.
Trước hết, chúng ta cần hiểu khả năng giáo dục kĩ năng sống trong môn
Khoa học ở Tiểu học: môn Khoa học giúp học sinh tìm hiểu các kiến thức khoa
học đơn giản, cơ bản về con người và sức khoẻ, về tự nhiên, con người với thế
giới tự nhiên, chú trọng đến việc hình thành và phát triển kĩ năng như quan sát,
dự đoán, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, tìm kiếm thông tin, phân tích, so sánh để
giải đáp thắc mắc… đặc biệt chú trọng đến kĩ năng vận dụng kiến thức để ứng
xử thích hợp trong cuộc sống. Với những đặc điểm về đối tượng và phương
pháp nghiên cứu như vậy môn Khoa học ở Tiểu học có khả năng lớn trong giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh. Thực hiện tốt giáo dục KNS trong dạy học môn
Khoa học sẽ góp phần chuyển các kiến thức thành thái độ và hành vi tích cực,
phù hợp, giúp học sinh có thể xử trí có hiệu quả các tình huống thực tế trong
cuộc sống, giúp cho việc học tập môn Khoa học có ý nghĩa, mặt khác giúp các

24 học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 tôi phụ trách, kết quả thu được
như sau:
Kĩ năng sống tốt
Tổng HS
24

SL
4

%
16,7

Kĩ năng sống khá
tốt
SL
11

%
45,8

Kĩ năng sống chưa
tốt
SL
9

%
37,5

Từ kết quả thực trạng trên cho thấy năng lực ứng dụng kiến thức khoa học
vào cuộc sống của học sinh lớp tôi còn nhiều hạn chế. Các em chưa có những kĩ

Việc giáo dục KNS trong môn Khoa học lớp 4 giúp hình thành và phát
triển cho học sinh các KNS sau:
+ Kĩ năng nhận thức: Khả năng tự nhận thức về bản thân, xác định được
các điểm mạnh, điểm yếu của bản thân; nhận thức được vai trò, vị trí của bản
thân trong gia đình, nhà trường và xã hội; Tự trọng; suy nghĩ tích cực, tự tin, làm
chủ bản thân để có quyết định, hành vi thích nghi, phù hợp ứng phó trước tình
huống khó khăn trong cuộc sống.
+ Kĩ năng giao tiếp và hợp tác: lắng nghe và phản hồi tích cực; trình bày
suy nghĩ của bản thân; cảm thông chia sẻ; Xử lí cảm xúc và ứng xử phù hợp
trong một tình huống có liên quan đến sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng
đồng; Cùng nhau hợp tác bảo vệ môi trường xung quanh.
+ Kĩ năng tư duy bình luận: Phản ánh và trình bày, bày tỏ ý kiến của bản
thân về các tác nhân của tự nhiên, xã hội có hại với sức khoẻ; vận dụng những
kiến thức khoa học về con người, về tự nhiên để so sánh, phân tích nhận diện
những dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật hiện tượng đơn giản trong tự
nhiên; Phân tích và phán đoán những tình huống có nguy cơ với bản thân, tự
nhiên.
+ Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề: Khả năng quan sát, tìm
kiếm các thông tin, phân tích và đánh giá các lựa chọn, từ đó phán đoán các
nguy cơ, tư duy sáng tạo để ứng xử thích hợp trong một số tình huống có liên
quan đến sức khoẻ của bản thân, gia đình và môi trường xung quanh.
+ Kĩ năng làm chủ bản thân: Khả năng tự phục vụ; đặt mục tiêu; lập kế
hoạch cho bản thân; đảm nhận trách nhiệm, tự giác thực hiện các quy tắc vệ
sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng, tích cực thời gian bảo vệ môi
trường xung quanh, kiểm soát cảm xúc, ứng phó phù hợp; tự bảo vệ bản thân
trước các tác nhân từ môi trường.
Khả năng giáo dục KNS trong môn Khoa học lớp 4 không chỉ thể hiện ở
nội dung môn học ở từng bài học cụ thể mà còn được thể hiện ở phương pháp
dạy học đặc trưng, đổi mới của môn học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động
và sáng tạo của người học. Đặc biệt để giáo dục và phát triển KNS cho học sinh

bảng viết, lời giải thích, lời liên kết, chuyển ý hay những câu hỏi nhỏ. Vì không
phải những gì diễn ra trong giờ học đều được đưa vào “bài giảng điện tử”. Có
những bài giảng cần thiết kế sáng tạo mô phỏng các clip động liên quan đến một
hoạt động của bài để khắc sâu kiến thức và kĩ năng cần hình thành cho học sinh
Khi sử dụng bài giảng điện tử thì hình thức tổ chức dạy học truyền thống
đã được thay đổi. Các phương tiện dạy học hiện đại hơn, các thiết bị ngoại vi
cũng đòi hỏi nhiều hơn và đặc biệt là giáo viên phải đầu tư rất nhiều công sức để
soạn các bài giảng điện tử. Tuy nhiên các bài giảng điện tử sau khi đã đáp ứng
được yêu cầu và đưa vào sử dụng thì dễ dàng bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện và
đặc biệt thuận lợi trong việc chuyển giao, phổ biến đến cho học sinh và đồng
nghiệp.
3.3. Một số thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử nhằm phát triển và rèn kĩ năng
sống cho học sinh khi học môn Khoa học
3.3.1. Thiết kế sáng tạo sinh động một số hiện tượng tự nhiên trong bài giảng
điện tử


Hiện tượng tự nhiên là những hiện tượng diễn ra trong thế giới tự nhiên
như gió, mưa, sấm chớp, mây, bão, lũ, động đất, sóng thần,… Song sự hình
thành và phát triển của những hiện tượng tự nhiên này luôn là những bí ẩn thú vị
mà con người mong muốn khám phá và chế ngự nó. Ở chương trình môn khoa
học lớp 4, để giúp học sinh hiểu biết được bản chất của một số hiện tượng tự
nhiên như: mây được hình thành như thế nào? Nước mưa từ đâu ra? Vòng tuần
hoàn của nước trong tự nhiên diễn ra như thế nào?,... cũng không mấy đơn giản.
Vậy làm thế nào để việc dạy học các kiến thức khoa học này đạt hiệu quả cao và
hình thành kĩ năng ứng dụng trong cuộc sống con người, tôi đã thiết kế và thực
hiện một số bài giảng điện tử trong dạy học môn Khoa học lớp 4 như sau:
Mô phỏng qua bài 23 “Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên” Khoa
học 4 - (trang 48-49)
Qua việc tổ chức cho học sinh quan sát và đọc kĩ thông tin các hình 1-2

dự đoán thời tiết sẽ như thế nào với mỗi ảnh bầu trời sau?, ví dụ:

Chùm ảnh học sinh quan sát bầu trời để dự đoán thời tiết
Sau khi cho học sinh chia sẻ dự đoán trong nhóm, tôi thấy các em có khả
năng nhìn mây trên bầu trời để dự đoán thời tiết rất tốt. Cụ thể: Ảnh 1: Thời tiết
mát mẻ, dễ chịu ; Ảnh 2: Thời tiết sương mù; Ảnh 3: Gió bão; Ảnh 4: Thời tiết
sẽ nắng; Ảnh 5: Trời sẽ có mưa to, gió lớn. Điều đặc biệt hơn là sau bài học, các
em đã có năng lực tự phục vụ bản thân, thể hiện là các em chủ động trong việc


chuẩn bị cho mình trang phục, mũ nón, áo mưa trước khi đi học hay sắp xếp
công việc trong gia đình cho phù hợp với thời tiết. Ngoài ra, để giúp học sinh
hiểu thêm được vẻ đẹp kì lạ và cũng rất huyền bí của thiên nhiên, tôi đã tạo thêm
những slises hình ảnh mây sinh động cho các em quan sát như: ảnh mây có hình
dáng giống con người, giống đĩa bay,…
Thông qua việc mô phỏng sinh động những kiến thức khoa học về sự hình
thành mây, mưa trong tự nhiên để trình chiếu cho học sinh quan sát, mô tả lại
những kiến thức khoa học ứng dụng đó trong tiết học, tôi thấy học sinh không
chỉ nắm rõ bản chất và thuộc tính của mây, mưa, vòng tuần hoàn nước trong tự
nhiên mà các em còn có khả năng phán đoán thời tiết và nâng cao năng lực tự
phục vụ bản thân, gia đình trong cuộc sống thường nhật. Hơn nữa, các em còn
rất thích thú học tập, thích khám phá và giải thích các hiện tượng tự nhiên.
3.3.2. Thiết kế sáng tạo mô phỏng sinh động một số thí nghiệm khoa học ứng
dụng trong thực tiễn cuộc sống cho học sinh lớp 4.
Trong chương trình khoa học lớp 4, có những kiến thức khoa học khi
cung cấp cho học sinh chúng ta cần giúp các em trải nghiệm, khám phá những
kiến thức khoa học ấy bằng việc thực hành làm những thí nghiệm. Song, có một
số thí nghiệm khi tiến hành thực hiện lại gặp khó khăn do đồ dùng thí nghiệm
thiếu thốn hay việc thực hiện phức tạp, tính an toàn thấp. Chính vì vậy mà việc
tạo ra những hình ảnh động hay những clips khoa học nhằm mô phỏng lại quá

phèn, đá vôi của một số người dân ở địa phương cho các em quan sát, cụ thể:

Chùm ảnh người dân địa phương xử lí lọc nước nhiễm phèn, đá vôi
Có thể nói, khi áp dụng cách dạy này trong môn khoa học lớp 4 đã phát
huy năng lực ứng dụng khoa học của học sinh, huy động được cộng đồng cùng
tham gia tích cực vào công tác giáo dục đồng thời động viên, khích lệ học sinh


có thêm niềm đam mê học tập môn học, hình thành sở thích nghiên cứu khoa
học từ nhỏ. Cụ thể, các em đã thành lập “Nhóm bạn yêu thích khoa học”, ban
đầu chỉ có số ít học sinh trong lớp tham gia, sau đó đã có thêm nhiều học sinh
không chỉ ở lớp mà còn ở các khối lớp khác cùng tham gia, đổi tên là “Câu lạc
bộ bạn yêu khoa học”. Hàng tuần, trong giờ sinh hoạt ngoại khóa, các em dành
thời gian cùng nhau trao đổi, làm một số thí nghiệm hay ghi một số câu hỏi đố
vui liên quan đến môn học lên bảng Đội, kết hợp với cô Tổng phụ trách và các
cô giáo chủ nhiệm hướng dẫn đã mang lại hiệu quả rất tốt. Ví dụ như: làm thí
nghiệm lọc nước sạch từ nước có cặn bẩn; làm bè cây xanh làm sạch nguồn
nước ao, hồ;…
3.3.3. Thiết kế sáng tạo mô phỏng sinh động kiến thức về vật chất và năng
lượng trong bài giảng điện tử môn Khoa học lớp 4
Chủ đề Vật chất và năng lượng trong môn khoa học lớp 4 là chủ đề cung
cấp những kiến thức về các điều kiện vật chất và năng lượng phục vụ con người
và sản xuất. Trong tự nhiên, nguồn nước sạch đang ngày càng bị ô nhiễm, ngày
càng hạn hẹp do ý thức người dân trong sử dụng quá lãng phí nguồn nước sạch
này. Vì vậy làm thế nào để hình thành ý thức tiết kiệm nước của học sinh, nâng
cao trách nhiệm trong việc nhắc nhở mọi người xung quanh cùng tham gia công
việc tiết kiệm nước sạch hàng ngày, hàng giờ một cách trực quan và tạo hiệu quả
nhanh nhất, đó là điều mà tôi quan tâm trong dạy học môn khoa học 4.
Khi dạy bài 29 “Tiết kiệm nước” - SGK Khoa học 4 - trang 60-61, để giúp
cho học sinh có những suy ngẫm về thực tế nguồn nước và cách sử dụng nước trong

thức về nhu cầu nước, ánh sáng, không khí, chất khoáng của động thực vật trong
việc chăm sóc cây trồng, vật nuôi. Vì vậy, tôi đã thiết kế và thực hiện một số bài
giảng điện tử mô phỏng sinh động các kiến thức đó, cụ thể là:
a) Mô phỏng qua bài 60 “Nhu cầu về không khí của thực vật?” (SGK Khoa học
lớp 4 – trang 120-121.
Quá trình trao đổi khí của thực vật trong quang hợp có vai trò quan trọng
đối với đời sống của mọi sinh vật trên trái đất, trong đó có con người. Nó đảm
bảo sự cân bằng ô-xi và khí các-bô-níc thuận lợi cho các hoạt động sống của mọi
sinh vật. Để giúp học sinh hiểu rõ quá trình trao đổi khí trong quang hợp của
thực vật, sau khi cho các em thảo luận trong nhóm, tôi tạo hiệu ứng sinh động
mô phỏng lại quá trình này trình chiếu cho học sinh quan sát và giúp các em
khắc sâu, nắm vững quá trình trao đổi khí của thực vật.
Hình 1

Hình 2

Các-bô-níc

Ô-xi
Các-bô-níc

Ô-xi

Sơ đồ
sự vật.
trao đổi khí trong hô hấp của thực vật.
Sơ đồ sự trao đổi khí trong quang hợp của
thực




Hộp 1

Sống bình thường

Hộp 3

Sống không khỏe

Sẽ chết trước tiên

Hộp 4

Hộp 5


Hiệu ứng động thể hiện kết quả thí nghiệm chứng tỏ động vật cần gì để sống?
Qua được quan sát các hiệu ứng sinh động kết hợp với sự tư duy phong
phú của mình, tôi thấy các em rất hứng thú và tập trung cao vào bài học, nhanh
chóng nắm bắt được nội dung yêu cầu của hoạt động, các kĩ năng hợp tác của
học sinh cũng được nâng cao.
Để giúp học sinh có thêm khả năng ứng dụng kiến thức đã học vào thực
tiễn cuộc sống bản thân, phần liên hệ thực tế tôi đã yêu cầu các nhóm thảo luận,
chia sẻ những kinh nghiệm khi chăm sóc vật nuôi ở nhà của gia đình mình. Kết
quả cho thấy các em hoạt động nhóm rất tích cực và chia sẽ cách nuôi vật nuôi
rất hay như: em Chiến (chia sẻ về cách nuôi chim bồ câu: Bố mình làm chuồng
bằng nan tre. Chuồng nuôi luôn có ánh sáng mặt trời, khô ráo, thoáng mát,
sạch sẽ, tránh gió lùa. Chuồng được chia thành các ô nhỏ cho mỗi cặp chim.
Phía trước ô khoét lỗ to bằng miệng bát cơm để chim có thể ra vào. Máng ăn và
máng uống cho chim nên đảm bảo vệ sinh. Thức ăn cho chim có thể dùng ngô,

sinh tiếp thu bài nhanh, kiến thức được khắc sâu, mở rộng; Các em thực sự tự
giác, tích cực và sáng tạo trong mỗi giờ học và các giờ ngoại khóa, trong việc
hợp tác cùng nhau làm các thí nghiệm ứng dụng; Các kĩ năng như: hoạt động
nhóm, giao tiếp, làm chủ bản thân, tự phục vụ, đặt câu hỏi và giải quyết vấn đề,
…ở học sinh ngày một nâng cao. Ngoài ra, các em còn biết cách chăm sóc bản
thân, thu vén gia đình, tiết kiệm nước trong sinh hoạt,…hay có ý thức và yêu
thích chăm sóc cây trồng, vật nuôi trong nhà, thích tạo môi trường sống xanhsạch-đẹp. Đặc biệt, các em đã yêu thích môn học, thích được khám phá kiến
thức khoa học tự nhiên bổ ích. Do đó chất lượng dạy học môn học được nâng
lên một cách rõ rệt, đồng thời kĩ năng sống của các em tốt lên rất nhiều.
Từ kết quả trên cho thấy việc thiết kế sáng tạo bài giảng điện tử sinh động
mô phỏng kiến thức khoa học lớp 4 nhằm rèn kĩ năng sống cho học sinh mà tôi
đã tiến hành thực sự đem lại hiệu quả như mong đợi, góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 tôi
phụ trách. Điều đó được thể hiện ở bảng thống kê sau:
Tổng số
HS
24

Kĩ năng sống tốt
SL
15

%
62,5

Kĩ năng sống khá tốt
SL
9

%

giờ học sinh động, hấp dẫn và đạt hiệu quả thì mỗi giáo viên phải biết lựa chọn,
thiết kế và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức
dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin một cách khéo léo, khoa học và hợp lí để
giúp học sinh thấy rõ được ý nghĩa và vai trò của môn học, qua đó rèn kĩ năng
sống ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày. Đó chính là chúng ta đã cùng nhau
góp phần làm cho các phong trào thi đua đạt nhiều kết quả tốt đẹp.
2. Kiến nghị
Để rèn kĩ năng sống cho học sinh bằng việc thiết kế sáng tạo bài giảng
điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học lớp 4 được đồng bộ hoá ở các
nhà trường, tôi xin đề xuất một số vấn đề sau:
- Mỗi giáo viên cần linh hoạt trong đổi mới phương pháp dạy học để giáo
dục ý thức và trách nhiệm cho học sinh. Đi đôi với giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh. Vì hiệu quả giáo dục thông qua môn học muốn bền vững thì phải hình
thành cho các em sự tự giác, những thói quen tốt, những kỹ năng sống liên quan
đến kiến thức học tập.
- Các cơ quan ban ngành, nhà trường và phụ huynh học sinh cần tạo điều
kiện giúp đỡ để nâng cao về cơ sở vật chất như: máy tính, máy chiếu,
máy photocopy, máy scan, máy ảnh, ….để nhiều giáo viên có thể ứng dụng
CNTT trong dạy học, góp phần đẩy mạnh công tác xã hội hoá trong thực hiện
phong trào.
- Công tác thi đua khen thưởng cần được đẩy mạnh mới khuyến khích
giáo viên tích cực sáng tạo để ứng dụng CNTT trong giáo dục.
Trên đây là một số giải pháp mà tôi đã thực hiện “Kinh nghiệm rèn kĩ
năng sống cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Lam Sơn 1 bằng việc thiết kế


sáng tạo bài giảng điện tử sinh động trong dạy học môn Khoa học lớp 4”.
Trong quá trình tiến hành thực hiện, do điều kiện thời gian có hạn, điều kiện cơ
sở vật chất còn thiếu thốn, tôi đã không thể minh hoạ được qua nhiều bài học.
Các giải pháp được rút ra trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm chắc chắn

Khoa học 4
Sách giáo viên Khoa học 4
Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 4- tập 2
Module TH 39
Module TH 40
Module TH 41
Giáo dục kĩ năng sống trong các môn học ở Tiểu
học – Lớp 4- Dành cho giáo viên
Internet

TÁC GIẢ
Bộ GD&ĐT
Bộ GD&ĐT
Bộ GD&ĐT
Lưu Thu Thuỷ
Lưu Thu Thuỷ
Trần Thị Tố Oanh
Bộ GD&ĐT


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Đặng Thị Hạnh
Chức vụ và đơn vị công tác: giáo viên trường Tiểu học Lam Sơn 1, Bỉm Sơn.

TT

1.

2007-2008

B

2009-2010

Phòng GDĐT Nga Sơn

C

2010-2011

Phòng GDĐT Nga Sơn

B

2011-2012

Phòng GDĐT Nga Sơn

B

2012-2013

Phòng GDĐT Nga Sơn

B

2013-2014


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status