Sử dụng một số trò chơi có hiệu quả trong dạy học địa lí lớp 5 trường tiểu học nga vịnh - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGA SƠN
---------------------******----------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI CÓ HIỆU QUẢ
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 5

Người thực hiện: Mai Thị Thủy
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nga Vịnh
Sáng kiến kinh nghiệm thuộc lĩnh vực: Địa Lí

THANH HÓA NĂM 2017
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Địa Lí là một môn học giúp học sinh có những hiểu biết về thiên nhiên, con người Việt


Nam và trên các châu lục. Học Địa Lí không chỉ biết mà phải hiểu, giúp học sinh

bước đầu giải thích được các hiện tượng địa lí xảy ra xung quanh. Từ đó, hình
thành ở các em vốn sống, vốn hiểu biết …để mở rộng tầm nhìn về thế giới xung
quanh.
Để thực hiện mục tiêu giáo dục của Bộ GD&ĐT đã đặt ra: “ Giáo dục cho
học sinh Tiểu học là phải giáo dục toàn diện, không coi trọng môn chính, môn
phụ” . Bởi vậy cùng với các môn học khác, phân môn Địa Lí đã góp phần không
nhỏ vào việc hình thành và phát triển toàn diện cho học sinh .
Để dạy tốt phân môn Địa Lí, người giáo viên cần biết phối kết hợp các
phương pháp dạy học như: Phương pháp quan sát, phương pháp nhóm, phương

3. Trang bị cho học sinh các kĩ năng cơ bản: Học để biết, Học để làm, Học
để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:

1. Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến môn Địa Lý và Sách tổ chức một số
trò chơi cho học sinh Tiểu học.
2. Nghiên cứu thực trạng việc học tập và vui chơi của học sinh trường Tiểu
học Nga Vịnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
3. Nghiên cứu, tham khảo trên mạng Internet.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:

1. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
1.1. Đọc các tài liệu có liên quan đến Môn Địa lý.
1.2. Tập huấn theo các chuyên đề do PGD và Trường tổ chức.
2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
2.1. Quan sát tình hình thực tế việc học tập và vui chơi tại nhà trường.
2.2. Dự giờ đồng nghiệp.
3. Phương pháp thực nghiệm:
3.1. Vận dụng những kinh nghiệm dạy tại lớp.
3.2. Rút kinh nghiệm tại trường.

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Trò chơi là gì?:Trò chơi được hiểu là những hoạt động làm thỏa mãn những nhu cầu của
con người, trước hết là vui chơi, giải trí.

3


Theo những quan điểm giáo dục, trò chơi vừa là phương tiện phát triển toàn diện nhân cách


Để giáo viên tổ chức trò chơi học tập cho học sinh đạt kết qủa tốt thì giáo
viên phải nghiên cứu, xây dựng đặt ra các yêu cụ thể phù hợp với từng lứa tuổi
học sinh và từng mục tiêu nội dung bài học . Từ đó, qua công việc giảng dạy
cũng như các hoạt động hàng ngày giáo viên phải theo dõi để phân định các
nhóm học sinh còn hạn chế. Trên cơ sở đó giáo viên cần có hoạch cụ thể:
1.Họcsinh thuộc tên các trò chơi đã học ở các lớp dưới, biết cách chơi, luật chơi

4


2.HS biết tổ chức được các trò chơi đơn giản ở mọi nơi, mọi lúc.
3.Thông qua đó bước đầu HS biết vận dụng được một số điều đã học vào nề nếp sinh hoạt và
học tập ở trường cũng như ở nhà.
2.2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
a. Về phía giáo viên.

Qua dự giờ phân môn Địa Lí của một số đồng chí giáo viên dạy khối 4 - 5
trong nhà trường ở các năm học nhận thấy một số tồn tại sau:
- Giáo viên còn ảnh hưởng của phương pháp dạy học cũ: nặng nề về thuyết trình
giảng giải, chưa lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp để làm phong phú
tiết dạy mà cơ bản chỉ sử dung phương pháp: Kể chuyện, hỏi đáp, giảng giải. …
mà chưa chú trọng đến việc tổ chức trò chơi cho học sinh.
- Lớp 4,5 lượng kiến thức tương đối nhiều, có khi giáo viên không đủ thời gian
để truyền tải kiến thức nên các trò chơi thường bị bỏ qua dẫn đến tiết học nặng
nề, căng thẳng.
- Đôi khi có tổ chức trò chơi cũng chỉ là hình thức. Chơi thông qua các hình thức
học tập nhằm tạo điều kiện để học sinh trình bày những suy nghĩ của mình.
- Sử dụng hình thức dạy học đơn điệu chủ yếu là dạy cả lớp. Trong tiết dạy hằng
ngày giáo viên ngại tổ chức trò chơi vì như vậy phải đầu tư thời gian, đồ dùng,

Câu 4: Nêu đặc điểm chính của địa hình nước ta.(4điểm)
*Kết quả :
Kếtquả
HTT
HT
CHT
SL
%
SL
%
SL
%
Số bài
25
3
12
10
40
12
48
Qua bảng khảo sát trên cho thấy chất lượng phân môn Địa Lí số học sinh
chưa hoàn thành nhiều. Vậy làm thế nào để tăng hứng thú cho HS và nâng cao
chất lượng học tâp, bản thân tôi đã trăn trở, lựa chọn một số trò chơi học tập sau
và đưa vào giảng dạy.
2.3. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

Đối với học sinh Tiểu học trò chơi có rất nhiều ý nghĩa và ứng dụng . Nó "kích
thích sự hứng thú trong quá trình nhận thức" trò chơi trong học tập nếu được chuẩn bị
một cách chu đáo, sẽ có tác dụng mở rộng, đào sâu kiến thức trong mỗi bài, mỗi
chương của SGK. Hơn thế nữa nếu được sử dụng một cách hệ thống phong phú và

- Các yếu tố tự nhiên nổi bật của một số châu lục: Khí hậu, địa hình,..
- Dân cư.
- Về hoạt động kinh tế của một số châu lục và một số nước có nền kinh tế phát
triển trên thế giới: Liên Bang Nga, Pháp,...
3.1: Các đại dương trên thế giới.
-Vị trí và một số đặc điểm nổi bật của các đại dương.
2. Lựa chọn một số trò chơi phù hợp với kiểu bài,dạng bài:
2.1. Trò chơi: Tự xây dựng lược đồ Việt Nam:

a) Phạm vi:
- Đối với loại trò chơi này thường được sử dụng chủ yếu trong phần địa lí Việt
Nam nhằm củng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng sau phần hình thành kiến thức
mới, thường tổ chức vào cuối tiết học. Cụ thể đó là:
+ Bài 1: Việt Nam- Đất nước chúng ta.
+ Bài 2: Khoáng sản.
+ Bài 4: Sông ngòi.
+ Bài 13: Công nghiệp ( tiếp theo)
b) Ý nghĩa:
- Giúp học sinh có thể tự rèn luyện kỹ năng đọc bản đồ ở các mức độ khác nhau.
- Tạo không khí học tập, từ đó giúp học sinh có thêm tình yêu đối với môn học,
với quê hương, đất nước.
c) Chuẩn bị:
- Đối với giáo viên: Việc chuẩn bị nội dung các trò chơi phải phù hợp với từng
bài, bao gồm:
+ Các dụng cụ để vẽ, dán: Bút, phấn mầu, các ký hiệu chung về tự nhiên, công
nghiệp, nông- lâm- ngư nghiệp… Theo quy ước như SGK địa lí (có thể yêu cầu
học sinh chuẩn bị trước).
7



+ Chia lớp 2 nhóm (mỗi nhóm 6 học sinh)
(Mỗi học sinh chuẩn bị một đến hai loại kí hiệu khoáng sản)
+ Treo 2 lược đồ trống lên bảng
+ Yêu cầu cùng một lúc cả 2 nhóm dùng kí hiệu đã chuẩn bị sẵn hình thành 2
lược đồ khoáng sản trên bảng.
+ Hai tổ HS còn lại vừa cổ vũ vừa làm trọng tài.
- Học sinh:
+ Lần lượt lên gián các khoáng sản mình đã chuẩn bị (HS gián tiếp sức trong tổ)
+ Sau khi hoàn thành, 2 tổ HS còn lại cùng với GV kiểm tra, nhận xét cách trình
bày và độ chính xác của mỗi lược đồ.
- Giáo viên:
+ Chuẩn hóa, nhắc nhở các em phải xây dựng bảng chú giải cho lược đồ.
+ Cho điểm từng lược đồ đối với mỗi nhóm.
+ Tuyên dương nhóm thắng cuộc, Động viên nhóm thua lần sau cố gắng.
5/ Kết quả:
8


- Các em khắc sâu vị trí của các loại khoáng sản nước ta cũng như tên của các
loại khoáng sản tiêu biểu. Nhớ được địa danh có các loại khoáng sản đó.
- Tạo không khí học tập sôi nổi và thi đua trong lớp.
- Rèn luyện kỹ năng đọc và làm việc với lược đồ.
- Quá trình chuẩn bị ở nhà giúp các em có thể tự tìm hiểu các kiến thức và nội
dung bài mới một cách tích cực.
2.2. Trò chơi " ô chữ kì diệu"

a) Phạm vi:
- Đối với trò chơi " ô chữ kì diệu" thường được sử dụng nhằm củng cố kiến
thức, luyện tập kĩ năng sau phần hình thành kiến thức mới hoặc củng cố lại các
kiến thức đã học trong các bài ôn tập như bài: Bài 7, bài 16, bài 22, bài 29.

Hàng ngang 6: (Có 7 chữ cái). Các dân tộc ít người sống chủ yếu ở đâu?
Hàng ngang 7:(Có 8 chữ cái).Ở Nga Sơn (Thanh Hóa nổi tiếng với nghề thủ
công nào?
Hàng ngang 8: (Có 8 chữ cái). Việt Nam nằm trong đới khí hậu nào?
Hàng ngang 9: (Có 9 chữ cái). Cà phê được trồng nhiều ở đâu?
Hàng ngang 10: (Có 5 chữ cái). Đây là thành phố có sân bay quốc tế Nội Bài.
Hàng ngang 11: (Có 2 chữ cái). Đây là đường quốc lộ dài nhất nước ta.
Hàng ngang 12: (Có 4 chữ cái). Đây là tài nguyên của biển có màu trắng và vị
mặn.
4- Cách tiến hành: - Giáo viên có thể chia lớp thành 2 đội chơi, mỗi đội cử ra 6
học sinh trực tiếp chơi, các em còn lại làm nhiệm vụ cổ vũ, hỗ trợ.
- 6 HS của 2 đội chơi ngồi trên 2 bàn đặt sẵn quả chuông để chuẩn bị trả lời.
- Hai đội bắt thăm để giành quyền chọn ô trước.
- Khi đội chơi bắt đầu, đội được quyền chọn ô số và người giáo viên sẽ đọc câu
gợi ý trả lời của ô chữ đó. Tuy nhiên quyền đoán ô chữ sẽ dành cho đội nào giơ
tay sớm nhất. Nếu người chơi của đội đó đoán đúng ô chữ thì được 10 điểm, nếu
nếu nói sai hoặc chậm thì đội thứ hai được trả lời, nếu đúng thì cũng được 10
điểm, trong cả hai trường hợp trên thì đội thứ hai được quyền chọn ô tiếp theo.
- Sau khi đoán được ô chữ hàng ngang các đội đưa ngay ra đáp án của ô chữ
hàng dọc. Đội nào đoán được ô chữ hàng dọc sẽ được 50 điểm.
- Trò chơi kết thúc khi tất cả các ô số đều được chọn. Đội nào nhiều điểm hơn
thì đội đó thắng cuộc.
* Giáo viên đánh giá:
+ Nhận xét quá trình chơi, nhắc nhở các em phải nhớ, khắc sâu kiến thức.
+ Tuyên dương, thưởng cho đội thắng cuộc, Động viên nhóm thua lần sau cố
gắng.

10



- Học sinh: Chuẩn bị về kiến thức, phạm vi kiến thức giáo viên cho học sinh biết
trước.
d) Tổ chức:
- GV tổ chức thành 2 đến 3 lượt chơi, mỗi lượt khoảng 4 em.
- Giáo viên đưa ra luật chơi.
- Chơi thử.
-Tuyên dương, khen thưởng sau mỗi lượt chơi.
e) Ví dụ: Bài 21: Các nước láng giềng của Việt Nam.( trang 107)
1- Mục đích: Giúp học sinh nắm được một số địa danh nổi tiếng ở các nước:
Lào; Cam-pu-chia.
2- Thời gian chơi: 5 phút
3- Chuẩn bị:Hình ảnh, một vài nét nổi bật về một số địa danh nổi tiếng ở các
nước: Lào; Cam-pu-chia.
4- Cách tiến hành
- Giáo viên chia bảng thành 4 phần, sau đó đưa ra một địa danh chính và yêu cầu
các em tìm các địa danh nhỏ nằm trong địa danh đó, tên của các địa danh được
học sinh dùng phấn ghi lên bảng (mỗi lần khoảng 4 em).
- Trước khi chơi giáo viên có thể đưa ra một số luật chơi như:
+ Không viết tắt tên địa danh.
+ Không được viết sai tên địa danh quá một chữ.
+ Thời gian chơi đúng quy định.
5- Kết quả: Sau trò chơi này học sinh nắm rất chắc các địa danh không những
12


về tên các địa danh mà còn nắm được một số đặc điểm nổi bật của các địa danh
đó giúp các em tính tò mò để tìm hiểu thêm các địa danh khác.
2.4. Trò chơi đi du lịch qua bản đồ.

a) Phạm vi:

học sinh ghi chép lại nhật kí chuyến đi.
13


Thời gian du lịch không quá 5 phút.
Ví dụ sau đây là nội dung mà một học sinh trong nhóm đã ghi lại được:
"Chúng tôi đang đi đến vùng Nam Cực - nơi được coi là cực lạnh của trái đất.
Trước mắt chúng tôi hiện ra một màu trắng mênh mông của thế giới băng tuyết.
Không có một ngọn cỏ có thể sinh sống được ở châu lục này. Nhưng động vật vẫn
tồn tại, chúng khá thú vị với lớp lông và mỡ dày, nhiều con có lông trắng, chắc là
để dễ dàng trong việc chạy trốn kẻ thù… đi mãi chúng tôi được biết ở dưới chân có
một mỏ than lớn chưa được khai thác… Sao thế nhỉ? Ở đây lại có than và chúng tôi
chợt nhớ lại lời cô giáo giảng… Tôi cảm thấy lạnh vô cùng, gió ở đây mạnh lắm
như muốn quất thẳng vào mặt người vậy…"
(Bài ghi chép của em Mai Thị Phương Hoa - lớp 5B)
5- Kết quả: : Sau khi chơi xong trò chơi này học sinh rất thích thú. Không những
giúp học sinh khắc sâu kiến thức đã học mà còn tạo cho học sinh tính tò mò,
thích khám phá những cái mới, cái hay cái đẹp ở rất xa chúng ta mà chúng ta
không có điều kiện đặt chân đến.
2.5. Trò chơi: Đoán địa danh qua một số hình ảnh:

a) Phạm vi:
- Sử dụng trò chơi này trong các tiết ôn tập hoặc thực hành nhằm củng cố kiến
thứcđã học.
b) Ý nghĩa:
- Rèn khả năng suy luận, phán đoán.
- Tạo không khí học tập sôi nổi và khả năng tự tìm tòi.
c) Chuẩn bị:
- Giáo viên: các câu hỏi và hình ảnh trên giáo án điện tử (màn hình)
- Học sinh: Kiến thức đã học.


Tranh 3.

15


Tranh 4.

16


Tranh 5.

Tranh 6.
5- Kết quả:
Được
chơi
trò chơi này
học sinh rất
thích thú bởi
vì các em
được
biết
được các địa
danh ở rất xa
các em, khắc
sâu cho các em các đặc điểm nổi bật về các địa danh đó. Để hằng ngày qua sách
báo, qua màn ảnh nhỏ, …. sẽ lưu lại trong trí nhớ các em các địa danh nổi tiếng
trên thế giới để các em có những mơ ước trong tương lai không xa, các em sẽ là
những khách du lịch hay những hướng dẫn viên du lịch thăm quan những địa


Sau trả lời của học sinh thứ 4 lại vòng lại học sinh 1, cứ như vậy vòng lại
cho đến khi còn lại một học sinh thắng cuộc.(trò chơi này có thể chơi được 10
học sinh)
Trước khi chơi, giáo viên có thể đưa ra một số quy định:
+ Không trả lời lập lại ý trả lời của các lần trước.
+ Nếu quá 10 giây (tương ứng đếm từ 1 - 10) học sinh không đưa
được ra câu trả lời sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.
* Trong dạy học không có phương pháp dạy học nào là vạn năng, trò chơi học
tập cũng chỉ là một trong những phương pháp dạy học...Tuy có những ưu điểm
nhất định như đã nói ở trên nhưng cũng không nên lạm dụng mà người giáo
viên phải biết vận dụng linh hoạt, biết phối hợp nhịp nhàng với các phương pháp
dạy học khác.Trò chơi học tập thường được sử dụng cuối bài học nhằm củng cố,
khắc sâu kiến thức, tạo không khí thoải mái sau mỗi giờ học căng thẳng. Tuy
nhiên cũng có khi sử dụng trò chơi học tập để học sinh tìm tòi, khám phá kiến
thức mới. Dù sử dụng với mục đích gì cũng chỉ nên sử dụng ở một khâu, một
hoạt động nào đó của bài học. Lạm dụng trò chơi học tập lớp học sẽ ồn ào, hình
thành ở học sinh thói quen học - chơi…Vậy nên, trong cùng một giờ học, tùy
theo từng loại bài, nội dung bài học mà giáo viên nên vận dụng các phương pháp
và hình thức dạy học cho phù hợp: Phương pháp làm việc với bản đồ, kể
chuyện, hỏi đáp, quan sát, học theo nhóm, cá nhân, đồng loạt, ngoài lớp học.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN:

Ngay từ đầu năm học 2016-2017, tôi đã áp dụng : “Các trò chơi học tập” nêu
trên vào việc giảng dạy phân môn Địa Lí 5 kết quả là:
Giáo viên:
- Nhờ việc biết đưa các trò chời vào trong công tác giảng dạy, nên các giờ dạy
Địa Lí đã trở nên sôi nổi, tạo được hững thú cho HS, các em hăng hái xây dựng
bài, tìm tòi và phát hiện kiến thức, điều đó làm cho chất lượng giờ dạy được
18

Câu 4: Vì sao Châu Phi có khí hậu nóng và khô bực nhất thế giới? (4điểm)
Kết quả khảo sát :
Kếtquả
HTT
HT
CHT
SL
%
SL
%
SL
%
Số bài
25
15
60
10
40
0
0
Nhìn vào bảng số liệu trên chứng tỏ rằng, chất lượng giảng dạy phân môn
Địa Lí của lớp tôi giảng dạy đã có chuyển biển tốt so với chất lượng đầu năm
học, là do tôi đã biết vận dụng hợp lý các trò chơi học tập trong giảng dạy phân
môn Địa Lí, đồng thời tôi cũng đã biết vận dụng và phối hợp nhịp nhàng với các
phương pháp và hình thức dạy học khác.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1/ Kết luận:

19


- Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân. Tôi rất mong được sự đóng góp
ý kiến của ban giám hiệu, Tổ chuyên môn, và của các đồng nghiệp để có được
các phương pháp dạy phân môn Địa Lí 5 ngày càng hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Nga Sơn , ngày 14 /4/ 2017
20


Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi viết
không lấy nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT

Mai Thị Thủy

MỤC LỤC

Trang

21


1.MỞ ĐẦU

1

1.1. Lí do chọn đề tài.


2.4. Hiệu quả.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.

18
20

1. Kết luận.

20

2. Kiến nghị.

20

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Giáo trình phương pháp dạy học môn Địa lí.

(Đại học Quốc gia - Trường Đại học sư phạm Hà Nội)
2.

Đổi mới việc dạy môn Địa lí ở tiểu học.

3.

Sách bồi dưỡng thường xuyên (Bộ giáo dục và đaò tạo)

4.



Cấp đánh giá
xếp loại
( Phòng, sở,
tỉnh)
Một số biện pháp rèn kỹ
Phòng
năng thực hành các phép tính
GD&ĐT
về phân số cho học sinh lớp
4.
Nâng cao chất lượng dạy văn
Phòng
miêu tả cho học sinh lớp 4.
GD&ĐT

Kết quả đánh
giá xếp loại
( A, B, hoặc C)
C

Năm học
đánh giá xếp
loại
2007- 2008

C
2009- 2010

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status