(Luận văn thạc sĩ) Cấu trúc quần xã tuyến trùng sống tự do và sử dụng chúng như sinh vật chỉ thị môi trường tại rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

PHẠM THỊ MẬN

CẤU TRÚC QUẦN XÃ TUYẾN TRÙNG SỐNG TỰ DO
VÀ SỬ DỤNG CHÚNG NHƯ SINH VẬT CHỈ THỊ MÔI TRƯỜNG
TẠI RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà Nội, 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

PHẠM THỊ MẬN

CẤU TRÚC QUẦN XÃ TUYẾN TRÙNG SỐNG TỰ DO VÀ SỬ
DỤNG CHÚNG NHƯ SINH VẬT CHỈ THỊ MÔI TRƯỜNG TẠI
RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 8 42 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Nguyễn Đình Tứ
2. Th.S. Nguyễn Thị Xuân Phương

Hà Nội - 2018

Dù đã nỗ lực hết mình, nhưng do trình độ chuyên môn và kinh nghiệm còn
hạn chế nhiều mặt nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất
mong nhận được mọi ý kiến đóng góp và xin chân thành tiếp thu mọi ý kiến đóng
góp đó.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2018
Tác giả luận văn

Phạm Thị Mận


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU.................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN....................................................................................4
1.1. Tổng quan về rừng ngập mặn .....................................................................4
1.2. Tổng quan khu vực nghiên cứu ...................................................................5
1.2.1.

Vị trí địa lý .......................................................................................5

1.2.2.

Đặc điểm tự nhiên.............................................................................6

1.2.3.

Hệ thực vật và động vật của rừng ngập mặn Cần Giờ........................8


Phương pháp thống kê sinh học ...................................................... 17

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .......................................................... 19
3.1. Đặc điểm các yếu tố môi trường của các vùng thu mẫu tại rừng ngập mặn
Cần Giờ ............................................................................................................. 19
3.1.1.
Chỉ số thủy lý hóa tại các địa điểm thu mẫu tại rừng ngập mặn Cần
Giờ…….. ....................................................................................................... 19
3.1.2.
Đặc điểm cơ giới trầm tích tại các địa điểm thu mẫu tại rừng ngập
mặn Cần Giờ .................................................................................................. 21
3.2. Thành phần loài và độ đa dạng của quần xã tuyến trùng biển sống tự do tại
rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh .............................................. 22


3.2.1.
Mật độ cá thể của tuyến trùng biển sống tự do tại các địa điểm thu
mẫu của rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh ............................ 22
3.2.2.
Thành phần loài tuyến trùng biển sống tự do tại các địa điểm thu mẫu
của rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh .................................... 24
3.2.3.
Đa dạng sinh học của quần xã tuyến trùng biển sống tự do tại rừng
ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh .................................................. 34
3.3. Phân tích đường cong ABC và chỉ số W của quần xã tuyến trùng sống tự do
tại rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh ......................................... 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 48
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
PHỤ LỤC

vào mùa khô tại rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh ........................ 32
Hình 3.5b. Tỉ lệ phần trăm số lượng các cá thể tuyến trùng của các loài khác nhau
vào mùa mưa tại rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh ....................... 32
Hình 3.6. Các chỉ số đa dạng sinh học bao gồm chỉ số Margalef (d), chỉ số cân bằng
(J') và Shannon-Wiener (H') tại các vùng nghiên cứu của hai mùa ......................... 34
Hình 3.7. Đường cong k – dominance (đường cong chỉ số đa dạng) ....................... 37
Hình 3.8. Độ tương đồng về thành phần loài giữa ba vùng nghiên cứu của hai mùa
thu mẫu......................................................................................................................40
Hình 3.9. Độ tương đồng trong thành phần loài giữa ba vùng nghiên cứu của hai
mùa thu mẫu thể hiện bằng biểu đồ 2D-MDS..........................................................41
Hình 3.10. Đường cong ABC tại khu vực Nuôi trồng (A) vào mùa khô: lần lặp (1),
(2), (3) ................................................................................................................... 42
Hình 3.11. Đường cong ABC tại khu vực Nuôi trồng (C) vào mùa khô: lần lặp (1),
(2), (3) ................................................................................................................... 42
Hình 3.12. Đường cong ABC tại khu vực Nuôi trồng (I) vào mùa khô: lần lặp (1),
(2), (3) ................................................................................................................... 42


Hình 3.13. Đường cong ABC tại khu vực Nuôi trồng (A) vào mùa mưa: lần lặp (1),
(2), (3) ................................................................................................................... 43
Hình 3.14. Đường cong ABC tại khu vực Nuôi trồng (C) vào mùa mưa: lần lặp (1),
(2), (3) ................................................................................................................... 43
Hình 3.15. Đường cong ABC tại khu vực Công nghiệp (I) vào mùa mưa: lần lặp (1),
(2), (3) ................................................................................................................... 43


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASPT
BMWP
FAA

để phát triển nuôi trồng thủy hải sản và duy trì cuộc sống ổn định, lâu dài của những
người dân sống bằng nghề nuôi trồng, khai thác thủy hải sản. Ngoài những giá trị về
kinh tế, rừng ngập mặn còn giữ một vai trò quan trọng là nơi lắng tụ nguồn phù sa, tạo
điều kiện cho hệ thực vật, động vật phát triển, cũng là nơi trú ngụ cho nhiều loài sinh
vật trên cạn và các loài thủy sinh vật, đặc biệt là các loài sinh vật đáy [68]. Rừng ngập
mặn cung cấp nguồn vật chất hữu cơ dồi dào cho các sinh vật này và các vật chất hữu
cơ của rừng ngập mặn cũng là mắt xích quan trọng trong các chuỗi thức ăn vùng ven
biển [47].
Tại các hệ sinh thái biển, tuyến trùng (Giun tròn – Nematoda) là một trong những
ngành động vật không xương sống cỡ trung bình có số lượng cá thể và số loài vượt
trội, có sinh khối lớn trong nhóm metazoan ở trầm tích đáy [23] [32] [50]. Chúng đóng
vai trò rất quan trọng trong cấu trúc và chức năng của các hệ sinh thái biển nhờ vào sự
đa dạng và mật độ cao của chúng tại nền đáy [38] [40]. Tuyến trùng cũng là một mắt
xích quan trọng trong các lưới thức ăn của các hệ sinh thái biển.
Nghiên cứu về sinh thái học của các quần xã tuyến trùng sống tự do tại các rừng
ngập mặn ven biển và cửa sông đã được tiến hành tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Tuyến trùng biển sống tự do có xu hướng phân bố tập trung với sự phong phú cao, đặc
tính này liên quan chặt chẽ đến sự không đồng nhất về cấu trúc, kiểu sinh cảnh và
nguồn thức ăn của rừng ngập mặn; chúng đóng vai trò liên kết giữa các vi sinh vật và
các lưới thức ăn ở vùng đáy [39] [73]. Sự khác biệt của các yếu tố vật lý tại rừng ngập
mặn như độ mặn, kiểu rễ cây, đặc điểm cấu trúc trầm tích hay là nguồn dinh dưỡng từ
các vật rụng của rừng ngập mặn (lá, cành, chồi, hoa, quả được các vi sinh vật phân hủy
thành mùn bã hữu cơ) là yếu tố quyết định ảnh hưởng lên sự khác biệt về đa dạng sinh
học và cấu trúc quần xã của tuyến trùng sống tự do tại vùng cửa sông, ven biển [20].

1


Tại Việt Nam, các nghiên cứu về sinh thái tuyến trùng biển sống tự do tại các
rừng ngập mặn đã được tiến hành trong nhiều năm gần đây, tập trung tại một số rừng

của các quần xã tuyến trùng sống tự do tại ba khu vực thuộc rừng ngập mặn Cần Giờ.

2


Sử dụng phần mềm PRIMER VI để tính toán chỉ số môi trường W và đường
cong ABC để đánh giá được chất lượng môi trường nền đáy tại khu vực nghiên cứu..
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học
Dựa trên cơ sở dữ liệu quần xã tuyến trùng ở rừng ngập mặn Cần Giờ, nghiên
cứu này sẽ cung cấp thông tin về đa dạng sinh học, mối quan hệ giữa tuyến trùng và
môi trường sống của chúng tại rừng ngập mặn. Thực hiện nghiên cứu với mục đích
khoa học, quản lý các nguồn tài nguyên, từ đó sẽ mang lại thông tin hữu ích về đa
dạng sinh học, sự phân bố của tuyến trùng sống tự do và góp phần xây dựng cơ sở dữ
liệu về đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin chất lượng môi trường nền đáy tại rừng
ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở dữ liệu về quần xã tuyến
trùng.
Ý nghĩa thực tiễn
Việc điều tra các quần xã tuyến trùng ở rừng ngập mặn Cần Giờ sẽ góp phần bổ
sung thêm các công trình nghiên cứu về tuyến sống tự do ở các vùng cửa sông phía
Nam Việt Nam vì đây là một nghiên cứu điển hình liên quan đến rừng ngập mặn ở
vùng nhiệt đới. Hơn nữa, kết quả của nghiên cứu này là cơ sở để xây dựng các công cụ
đánh giá chất lượng sinh thái trong khuôn khổ của Chương trình giám sát sức khoẻ
sinh thái và đây cũng là nền móng cho phương pháp đo lường sức khoẻ môi trường,
phát hiện các tác động môi trường trong tương lai. Bằng cách này, nó sẽ góp phần
hoạch định cho các chiến lược bảo tồn, bảo vệ các hệ sinh thái, từ đó hướng đến phát
triển bền vững nguồn tài nguyên.

3

dạng sinh học cho biển. Sinh vật sống trong rừng ngập mặn không những có số lượng
loài đông mà bản thân mỗi loài còn có những đặc tính thay đổi dễ thích nghi với những
môi trường sống khác nhau. Bởi vậy rừng ngập mặn là nơi lưu trữ nguồn gen giàu có
và có giá trị không chỉ cho các hệ sinh thái trên cạn mà cho cả vùng biển ven bờ.
Tại Việt Nam, RNM chủ yếu tập trung ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long,
thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Quảng Ninh và các tỉnh ven biển châu thổ sông Hồng.
Trong đó rừng ngập mặn phân bố và phát triển tốt ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt ở bán
đảo Cà Mau và khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ. Ở các tỉnh phía Bắc cây rừng ngập
4


mặn tuy thấp và nhỏ nhưng có giá trị phòng chống thiên tai rất lớn, đặc biệt tỷ trọng
rừng tự nhiên ngập mặn khá cao. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013)
diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam đã suy giảm đáng kể. Trong vòng 57 năm (từ
năm 1943 đến 2000), diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam đã giảm khoảng 219 nghìn
ha, giảm 54% so với tổng diện tích rừng ngập mặn năm 1943. Đến năm 2013, rừng
ngập mặn nước ta chỉ còn khoảng 169 nghìn ha. Theo Phan Nguyên Hồng và cộng sự
(1999) [16], rừng ngập mặn Việt Nam được chia ra thành 4 khu vực và 12 tiểu khu.
Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn, bao gồm: tiểu khu 1 từ
Móng Cái đến Cửa Ông; tiểu khu 2 từ Cửa Ông đến Cửa Lục (dài khoảng 40km); tiểu
khu 3 từ Cửa Lục đến mũi Đồ Sơn (dài khoảng 55km). Khu vực II: Ven biển đồng
bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường, gồm có: tiểu khu 1 từ mũi Đồ Sơn
đến cửa sông Văn Úc; tiểu khu 2 từ cửa sông Văn Úc đến cửa Lạch Trường, nằm trong
khu vực bồi tụ của hệ thống sông Hồng. Khu vực III: Ven biển Trung bộ, từ mũi Lạch
Trường đến mũi Vũng Tàu, có 3 tiểu khu: tiểu khu 1 từ lạch Trường đến mũi Ròn, tiểu
khu 2 từ mũi Ròn đến mũi đèo Hải Vân, tiểu khu 3 từ mũi đèo Hải Vân đến mũi Vũng
Tàu. Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải, Hà Tiên, chia
thành 4 tiểu khu: tiểu khu 1 từ mũi Vũng Tàu đến cửa sông Soài Rạp (ven biển Đông
Nam Bộ), tiểu khu 2 từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thanh (ven biển đồng
bằng sông Cửu Long), tiểu khu 3 từ cửa sông Mỹ Thanh đến cửa song Bảy Háp (Tây

độ ngập triều, độ mặn, phèn, tính chất lý - hóa cũng khác nhau, cho nên việc phân bố
các loại cây trồng cũng theo những quy luật sinh thái chặt chẽ.
1.2.2.1.

Đặc tính thủy văn

Rừng ngập mặn Cần Giờ được bao bọc bởi các sông lớn với bờ biển dài 14km
và hệ thống sông rạch chằng chịt, mật độ sông rạch khoảng 7 - 10 km/km2. Tổng diện
tích mặt nước của huyện vào khoảng 21.000ha chiếm gần 30% lãnh thổ. Rừng ngập
mặn Cần Giờ nằm trong vùng có chế độ bán nhật triều không đều (hai lần nước lớn và
hai lần nước ròng trong ngày). Biên độ trong thời kỳ triều cường từ 3 – 4m, trong kỳ
triều kém từ 1,5 – 2m. Hai đỉnh triều thường bằng nhau nhưng hai chân triều lệch
nhau. Biên độ triều có xu hướng giảm dần từ phía Nam tiếp giáp với Biển Đông. Biên
độ triều cực đại trong rừng ngập mặn từ 4,0 – 4,2m, trong đó biên độ từ 3,6 – 4,1m ở
vùng phía Nam và từ 2,8 – 3,3m ở vùng phía Bắc Cần Giờ. Cao độ của các loại địa
hình theo các mức ngập có thể chia thành 5 dạng sau: 1) Ngập hai lần trong ngày (0.0
– 0.2m); 2) Ngập một lần trong ngày (0.2 – 0.5m); 3) Ngập theo chu kỳ tháng (0.5 –
1.0m); 4) Ngập theo chu kỳ năm (1.0 – 1.5m); 5) Ngập theo chu kỳ nhiều năm (
>1.5m). Hệ thống sông ngòi ở huyện Cần Giờ chằng chịt, nguồn nước từ biển đưa vào
bởi hai cửa chính hình phễu là vịnh Đông Trang và vịnh Gành Rai, nguồn nước từ
sông đổ ra là nơi hội lưu của sông Sài Gòn và sông Đồng Nai ra biển bằng hai tuyến
chính là sông Long Tàu và Soài Rạp, ngoài ra còn có sông Thị Vải, Gò Gia và các
sông phụ lưu. Các bãi bồi được bồi tụ dọc theo sông Nhà Bè, Ngã Bảy, sông Dừa tạo
thành vòng cung bao bọc vùng đầm lầy. Trầm tích chủ yếu là bùn mịn. Độ mặn: Nước
mặn theo dòng triều ngược lên thượng lưu trong thời kỳ triều lên hòa lẫn với nước
ngọt từ nguồn đổ về thành nước lợ, sau đó tiêu đi trong thời gian triều hết. Do đó càng
vào sâu trong đất liền độ mặn càng giảm.
6



ngập mặn thường xuyên có diện tích 27.280ha, phân bố tập trung ở lòng chảo giữa
huyện Cần Giờ. Đất sét và thịt chiếm từ 85% - 95%. Đất đang hình thành chưa ổn
định, nhão toàn phẫu diện, giàu mùn, đất mặn nhiều.
+ Vùng đất mặn phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn nông, nhiều bã hữu cơ. Ngập
mặn theo con nước có diện tích là 4.780ha, phân bố chủ yếu vùng lòng chảo đầm lầy
ngập mặn, có độ cao khoảng 1 m. Đất sét và thịt chiếm 94% - 95%, tầng mặt đất chặt
cứng.

7


+ Đất mặn phèn tiềm tàng, tầng sinh phèn sâu, nhiều cát, đất ngập mặn theo con
nước, phân bố ở các giồng cát của xã Long Hoà, cát chiếm ưu thế từ 65% - 80%. Đất
nghèo mùn, đất nhiễm mặn nhiều. Các đầm, hồ nuôi tôm đều không thành công.
- Đất than bùn, phèn tiềm tàng có diện tích 210 ha phân bố ở An Nghĩa, tiểu khu
5, tiểu khu 9, cù lao Phú Lợi, bên bờ vịnh Gành Rái, Thiềng Liềng, Ngã Bảy [2] [44].
1.2.3. Hệ thực vật và động vật của rừng ngập mặn Cần Giờ
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975) hệ sinh thái rừng ngập
mặn Cần Giờ hầu như hoàn toàn bị hủy diệt do chất độc khai quang và bom đạn trong
chiến tranh, các loài thực vật và động vật vốn rất đa dạng, phong phú hầu như không
còn. Theo số liệu còn lưu giữ, rừng ngập mặn Cần Giờ đã hứng chịu một số lượng
thuốc khai hoang rất lớn, gồm: 665.666 gallons chất độc màu da cam, 3.353,85 gallons
chất độc màu trắng và 49.200 gallons chất độc màu xanh [73]. Năm 1978, một chương
trình tái trồng rừng ngập mặn Cần Giờ đã được Nhà nước đầu tư và triển khai trên quy
mô lớn. Sau hơn hai thập kỷ, các nỗ lực tái trồng rừng đã mang lại những thành tựu
lớn, phục hồi cơ bản môi trường sinh thái.
Rừng ngập mặn Cần Giờ có điều kiện môi trường rất đặc biệt, là hệ sinh thái
trung gian giữa hệ sinh thái thủy vực với hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái nước ngọt
và hệ sinh thái nước mặn. Rừng Cần Giờ nhận một lượng lớn phù sa từ sông Đồng
Nai, cùng với ảnh hưởng của biển kế cận và các đợt thủy triều mà hệ thực vật nơi đây

1.2.4. Diện tích tự nhiên và dân số
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Cần Giờ là trên 704,22 km2 chiếm gần 1/3
diện tích toàn thành phố, trong đó rừng và đất rừng chiếm 54%. Dân số trên toàn
huyện 70,499 người với mật độ 100 người/ km2 được chia làm 6 xã và một thị trấn
gồm: Bình Khánh, An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp, Lý Nhơn, Long Hòa, Thạch An và
Thị trấn Cần Thạnh.
1.2.5. Đặc điểm kinh tế
Các nghề chủ yếu hiện nay của huyện Cần Giờ là đánh bắt, chế biến thủy sản,
nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp dịch vụ hậu cần biển.
+ Ngư nghiệp: Đây là ngành chiếm vị trí đặc biệt quan trọng của huyện, bao gồm
đánh bắt thủy hải sản và nuôi trồng thủy sản. Đối với nghề đánh bắt thủy hải sản bao
gồm đánh bắt nội địa và đánh bắt xa bờ. Đánh bắt nội địa bao gồm các nghề: Đáy, cào
te và nghề lưới. Đánh bắt xa bờ chiếm 70-80% sản lượng thủy sản của huyện. Hiện
nay huyện có 104 tàu công suất gấp 2 lần so với năm 1992, trang thiết bị khá hiện đại.
Nghề nuôi nhuyễn thể được ổn định và phát triển, diện tích và sản lượng liên tục tăng.
Nghề nuôi tôm sú đang được ưu tiên và phát triển mạnh, đã và đang đem lại hiệu quả
kinh tế cao cho huyện trong những năm gần đây.
+ Sản xuất nông nghiệp: Là ngành sản xuất quan trọng ở 4 xã phía Bắc huyện
(An Thới Đông, Bình Khánh, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp). Với 3 loại cây trồng chủ yếu
là: Cây lúa, cây cói và cây ăn trái. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm gần 4%.
Hiện nay, huyện đang áp dụng giống lúa mới năng suất cao, đồng thời hình thành một
số trang trại vừa và nhỏ phù hợp với điều kiện sản xuất của huyện.
+ Nghề muối đã mở rộng diện tích trên 1300ha. Sản lượng tăng gấp 2 lần so với
năm 1995.
9


+ Lâm nghiệp: Rừng ngập mặn là đặc trưng của Cần Giờ, với diện tích chiếm
17% toàn thành phố và 45% diện tích của huyện. Rừng ngập mặn đang trở thành khu
du lịch sinh thái hấp dẫn và được tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp

(Theo Platt & Warwick,
1988).
A. con đực: 1. lông đầu; 2.
khoang miệng; 3. amphid; 4.
lỗ bài tiết; 5. vòng thần kinh;
6. thực quản; 7. diều sau thực
quản; 8. cardia; 9. tuyến bên
bụng; 10. lông somatic; 11.
tinh hoàn trước; 12. ruột; 13.
cấu tạo vùng bên; 14. vòng
cutin; 15. tinh hoàn sau; 16.
ống dẫn tinh; 17. các nhú sinh
học; 18. gai sinh dục; 19. trợ
gai sinh dục; 20. lỗ huyệt; 21.
đuôi; 22. lông mút đuôi;
23(a). tuyến đuôi; 23. lỗ đổ.
B. con cái; C. lát cắt vùng
thực quản; D. lát cắt tại ruột.

Các nghiên cứu sinh thái học của quần xã tuyến trùng sống tự do tại sông, cửa
sông và các vùng ven biển trước đây chủ yếu được thực hiện tại các vùng ôn đới và cận
nhiệt đới [18] [21] [23] [39] [40] [83]. Nhưng trong những năm gần đây, các nghiên cứu
về sinh thái học tuyến trùng tại các vùng nhiệt đới cũng đã tăng lên đáng kể [26] [51]
[71] [81].
Với các ưu điểm đặc trưng về mặt sinh thái của tuyến trùng (độ phong phú và đa
dạng cao, khả năng xâm chiếm môi trường, sự đa dạng về các nhóm dinh dưỡng cũng
như sự khác biệt trong tính nhạy cảm và khả năng chống chịu môi trường của các
nhóm tuyến trùng khác nhau), tuyến trùng cũng được xem như nhóm động vật đáy
không xương sống cỡ trung bình chỉ thị cho sự thay đổi của môi trường và được sử
dụng để giám sát ô nhiễm nguồn nước hoặc xác định quá trình suy thoái của các hệ

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quần xã tuyến trùng sống tự do trong hệ sinh thái rừng
ngập mặn Cần Giờ.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu - thời gian nghiên cứu
Mẫu tuyến trùng được thu trong hai mùa: mùa khô và mùa mưa. Mỗi mùa thu
một đợt, mỗi đợt thu tại ba khu vực của rừng ngập mặn Cần Giờ, bao gồm: khu vực
vùng lõi (C), khu vực nuôi trồng thủy sản (A), khu vực có sự hoạt động của các nhà
máy công nghiệp (I).
- Khu vực vùng lõi (C) được đặc trưng bởi các tác động tự nhiên, ít chịu sự tác
động của con người.
- Khu vực nuôi trồng thủy sản (A) nơi mà chịu sự tác động trực tiếp của con
người và là nơi chứa các chất thải từ các trang trại nuôi trồng thủy hải sản của địa
phương.
- Khu vực có sự hoạt động của các nhà máy công nghiệp (I) nằm dọc sông Thị
Vải như nhà máy bột ngọt Vedan.
Đợt 1: tháng 4 năm 2016: đại diện mùa khô
Đợt 2: tháng 9 năm 2016: đại diện mùa mưa
Bảng 2.1. Địa điểm và tọa độ các điểm thu mẫu tại rừng ngập mặn Cần Giờ,
thành phố Hồ Chí Minh
STT

Tên địa điểm

Kí hiệu

Vĩ độ Bắc

Kinh độ Đông

1



Hình 2.1: Sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ
Chí Minh
(Nguồn bản đồ: Google Earth)

2.2.

Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
Mẫu nghiên cứu được thu tại ba địa điểm của rừng ngập mặn Cần Giờ khi triều
rút.
Trước khi thu mẫu, các chỉ số thủy lý, thủy hóa tại điểm thu mẫu được đo bằng
máy TOA. Các chỉ tiêu cần đo bao gồm độ mặn, pH. Khi thu mẫu cần tránh làm xáo
trộn môi trường thu. Các thông số môi trường sẽ được ghi chép ngay tại địa điểm thu
mẫu.
2.2.1.1.

Thu mẫu phân tích cơ giới trầm tích

Các mẫu phân tích cơ giới trầm tích được thu bằng việc sử dụng các ống nhựa
dài 10cm, đường kính 3,5cm. Các ống nhựa này được cắm ngập trong bùn, sau đó toàn

14


bộ ống nhựa chứa trầm tích bên trong được cho vào túi ni-lon có dán nhãn. Tại mỗi vị
trí thu mẫu được lựa chọn, tiến hành thu 3 lần lặp.
2.2.1.2.

2.2.2.2.

Tách lọc mẫu tuyến trùng từ trầm tích

Thêm nước vào mẫu đến đủ 1 lít trong một xô nhựa, khuấy đều, cho qua rây có
lỗ 1mm tách loại bớt đá, cuội và các mảnh vật liệu to. Những gì không qua được rây
nằm lại trên rây được rửa sạch và bỏ đi, phần qua rây 1mm được cho thêm nước tới
khi đầy khoảng 5 lít. Dùng tay khuấy nhẹ theo chiều kim đồng hồ, để lắng trong 10
15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status