SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TRƯỜNG THI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG
GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI HỌC MÔN NGỮ VĂN TẠI
TRƯỜNG THPT
Người thực hiện: Trịnh Thị Ánh Tuyết
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ Văn
THANH HÓA, NĂM 2019
MỤC LỤC
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp giáo dục theo định hướng tiếp cận năng lực đang là
xu thế của các nước phát triển nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất
lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông, kết hợp dạy chữ với dạy người và định
hướng nghề nghiệp phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh. Trong xu
hướng đó việc dạy văn trong nhà trường phổ thông đang là một thử thách lớn
với giáo viên hiện nay. Dạy như thế nào cho hay, hiệu quả cao, tạo sự hứng thú,
say mê cho học sinh quả thực là cả một vấn đề lớn. Việc học sinh không thích
thú với môn văn cũng có nhiều lí do, tuy nhiên có một nguyên nhân khá quan
trọng đó là: Thầy cô giáo chưa thực sự tạo ra sự cuốn hút học sinh bằng bài
giảng của mình. Thầy cô chưa thực sự có nhưng bước ngoặt đột phá trong việc
đổi mới phương pháp, vẫn nặng về phương pháp truyền thống thế nên việc dạy
tác phẩm văn
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của phương pháp đóng vai trong việc giảng dạy một
số bài học môn Ngữ văn tại trường THPT
Học tập để tham gia là một kỹ năng quan trọng đối với học sinh để học
trong thế giới đa phương hiện nay. Phương pháp đóng vai góp phần nâng cao sự
hiểu biết nhiều hơn và cho phép học sinh phát triển kỹ năng để tham gia vào các
cuộc thảo luận trong môi trường có kiểm soát của lớp học. Theo học giả
Brierley, Devonshire và Hillman, kỹ thuật đóng vai phát triển các chức năng
kiến thức như: "một sự kết hợp của kiến thức mệnh đề (hiểu biết về - nền tảng
kiến thức học thuật), kiến thức về thủ tục (biết làm thế nào - có các kỹ năng)
và kiến thức có điều kiện (biết được tình huống để sử dụng các kỹ năng)"
Phương pháp đóng vai: tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày
những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một vai giả định. Từ đó giúp học sinh
3
suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của
người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát từ vai
của mình. Đây là hình thức dạy học thu hấp dẫn, thu hút học sinh. Thay vì tiếp
nhận kiến thức một cách khô khan theo lối dạy học truyền thống, với hình thức
sân khấu hóa, các em được trải nghiệm thực tế, được hóa thân vào nhân vật lịch
sử, có cảm xúc và tự cảm nhận về nhân vật, từ đó hiểu và thêm yêu quê hương
đất nước qua từng bài học.
2.2. Thực trạng dạy học môn Ngữ văn hiện nay
Nói đến phương pháp dạy học ngữ văn ở nhà trường phổ thông hiện nay
không thể không nhắc tới các hiện tượng rất phổ biến trong các giờ học văn
khiến học sinh cảm thấy mất hứng thú, một trong những vấn đề đó là:
Dạy học đọc chép trong môn văn trước đây và môn ngữ văn rất phổ biến
ở các trường phổ thông hiện nay. Đọc chép trong giờ chính khóa và trong các lò
cái chưa biết. Nói tóm lại là chưa biết cách tự học.
Học tập thiếu sự hợp tác giữa trò và thầy, giữa trò với trò: Mỗi cá nhân
trong quá trình học tập đều có hạn chế, bởi mỗi người thường chỉ chú ý vào một
số điểm, bỏ qua hoặc không đánh giá hết ý nghĩa của các kiến thức khác. Trong
điều kiện đó, nếu biết cách hợp tác trong học tập, giữa thầy giáo và HS, HS với
HS có thể nhắc nhở nhau, bổ sung cho nhau, làm cho kiến thức được toàn diện
và sâu sắc.
Học thiếu hứng thú, đam mê: Kết quả củ việc học thụ động là học tập
thiếu cảm hứng, thiếu lửa, thiếu niềm ham mê, mà thiếu những động cơ nội tại
ấy việc học tập thường là ít có kết quả.
Chính vì những nguyên nhân trên mà những giá trị tốt đẹp của văn học
đã không được truyền tải hết đến học sinh và tác động đến việc hoàn thiện tâm
hồn của các em.
Như vậy, xét tổng thể, hiện trạng học môn Văn ở nhà trường hiện nay rất
đáng lo ngại và đang mất dần đi giá trị to lớn của môn văn. Phương pháp dạy
học theo lối cung cấp kiến thức áp đặt, HS phải học thuộc kiến giải của thầy.
Đây cũng là phương pháp phản sư phạm, bởi vì bản chất học tập không phải là
tiếp nhận những gì được đưa trực tiếp từ ngoài vào, mà là sự kiến tạo tri thức
mới dựa trên cơ sở nhào nặn các dữ liệu mới và kinh nghiệm đã được tích luỹ.
Học tập thực chất không phải là học thuộc mà là tự biến đổi tri thức của mình
trên cơ sở các tác động của bên ngoài và của hoạt động của người học. Do đó
việc áp đặt kiến thức chỉ có tác dụng tạm thời, học xong là quên ngay, không để
lại dấu ấn trong tâm khảm người học, không trở thành kiến thức hữu cơ của một
bộ óc biết suy nghĩ và phát triển. Chúng ta chưa xem học sinh là chủ thể của
hoạt động học văn, chưa trao cho các em tính chủ động trong học tập. Coi học
sinh là chủ thể của hoạt động học tập của mình thì học sinh phải là người chủ thể
trong các hoạt động học tập, là người chủ động kiến tạo các kiến thức của
mình mà giáo viên chỉ là người tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh.
Giáo án của giáo viên phải là kế hoạch hoạt động của học sinh để tự kiến tạo
kiến thức, chứ không phải là giáo án để giáo viên giảng và bình ở trên lớp.
giá trị sống có ý nghĩa.
- Học sinh được quyền nêu cảm xúc, bày tỏ thái độ, quan điểm riêng của
bản thân từ góc nhìn của người trẻ ở thời hiện đại.
- Học sinh có cơ hội khai phá và phát huy những năng khiếu mà có thể
bản thân chưa hiểu hết: viết kịch bản, đạo diễn, diễn xuất, thiết kế trang phục,
đạo cụ; góp phần hình thành một số năng lực cho học sinh: hợp tác, sáng tạo,
cảm thụ thẩm mĩ, sử dụng tiếng Việt… Khi cùng nhau luyện tập, biểu diễn là
kiến thức trong nội dung bài học và cả những kiến thức ngoài bài học đã ăn sâu
vào tiềm thức của học sinh. Đó không chỉ là quá trình trau dồi kiến thức mà còn
viết nên những kỷ niệm đẹp của tuổi học trò, là rèn kỹ năng làm việc nhóm rất
hiệu quả cho mỗi học sinh.
- Tạo không khí sôi nổi, sự hứng thú trong các tiết học.
- Đây là phương pháp có thể vận dụng các hình thức đa dạng gồm: múa,
hát, kịch, diễn xướng, hài kịch,...miễn sao nói lên được các nội dung liên quan
đến di sản mà nhóm mình tìm hiểu.
- Trong tiết học được sân khấu hóa, vai trò của giáo viên sẽ là ban giám
khảo, nhận xét đánh giá kết quả tìm hiểu và nghiên cứu của các em, động viên
khuyến khích tinh thần tự học sáng tạo của các em, đồng thời giáo viên có thể bổ
sung thêm các kiến thức và chỉnh sửa các phần còn thiếu sót, giúp các em thu
nạp tối đa phần kiến thức cần thiết.
6
- Đóng vai tạo ra một môi trường kích thích, mô phỏng thực tế cho phép
học sinh tăng cường sự hiểu biết về tình huống hoặc sự kiện đã được tái hiện của
họ. Học sinh có được một cái nhìn sâu hơn vào khái niệm then chốt bằng việc
diễn xuất các vấn đề thảo luận ở lớp học.
- Kỹ thuật đóng vai trò cho phép học sinh áp dụng các khái niệm và các
vấn đề đã được giới thiệu thông qua các bài giảng và bài đọc vào một tình huống
phản ánh thực tế. Khi học sinh được hoạt động trực tiếp trong suốt hoạt động
được mục tiêu học tập; chưa đủ để bộc lộ các ưu, nhược điểm. Cũng không nên
quá dài vì sẽ loãng, thiếu tập trung. Lưu ý: cần dự kiến thời gian thảo luận ngay
7
sau buổi đóng vai. Thời gian thảo luận phải đủ để mọi người phát biểu, có thể
nêu lên được đầy đủ các nhận xét, rút kinh nghiệm, đánh giá...
- Để xác định thời gian đóng vai, có thể tham khảo ý kiến những người sẽ
thực hiện vai đóng (họ sẽ đề xuất sau khi đã trao đổi, hội ý với nhau về dự kiến
nội dung dựa theo nhiệm vụ được giao).
Bước 4: Thực hiện đóng vai
a. Chuẩn bị, tạo không khí thuận lợi
- Kê xếp lại bàn ghế cho thích hợp . Bàn ghế ngồi của vai đóng được kê ở
giữa để mọi người quan sát thuận tiện.
- Bàn ghế của người quan sát (cử tọa) kê chung quanh sao cho thích hợp
với nhiệm vụ được giao (thí dụ: nhóm theo dõi vai "chính", vai "phụ" ngồi đối
diện với các vai đóng để quan sát được tốt).
- Giáo viên cũng có một chỗ ngồi thích hợp để theo dõi được diễn biến
chung, không làm ảnh hưởng đến các vai đóng.
- Tạo không khí thoải mái
- Trật tự, tập trung
b. Thực hiện đóng vai
- Vai đóng không cần thực hiện các kỹ xảo biểu diễn như trong đóng kịch,
dễ gây mất tập trung, chú ý vào lời thoại, hành động.
- Cần bám sát mục tiêu học tập, nhiệm vụ được giao trong đóng vai, có ý
thức cộng tác, hỗ trợ cho đóng vai.
Bước 5: Thảo luận sau đóng vai
Thảo luận sau đóng vai là rất quan trọng, đó là nội dung cơ bản của giảng
dạy bằng phương pháp đóng vai.
- Thực hiện thảo luận ngay sau khi đóng vai để người học còn lưu giữ
Bước 4
Bước 5
Mục tiêu
Xác định
chủ đề
Lập kế
hoạch về
việc đóng
vai
Xác định
thời gian
đóng vai
Thực hiện
đóng vai
Nhận xét
chung về
buổi đóng
vai
Nội dung
Cảm nhận về kiểu người kì quái, lập dị.
- Nhóm 1: Đóng vai tóm tắt tác phâm
“Người trong bao” ( 4 học sinh)
- Nhóm 2: Hóa trang thành Bê – li – cốp
( 4 bạn)
- Học sinh ở lớp: người quan sát
- Nhóm 1: Thời gian chủ động
- Nhóm 2: 5-7 phút
Hay như việc Varenco vừa đi vừa
đọc sách
Varenco nắm cổ áo hắn và đe dọa
10
Bê – li – cốp ngã sõng xoài ra cầu
thang
Đúng lúc đó Varenca về, cô cười
“Ha ha ha” vang khắp nhà
Beelicop lo sợ mọi người sẽ biết
chuyện mình bị ngã, hắn rầu rĩ trốn
trong phòng.
Đúng 2 tháng sau hắn chết. Ban đầu
mọi người nhẹ nhõm nhưng sau đó
mọi chuyện lại trở về như cũ.
a. Hóa trang tại lớp
Học sinh chuẩn bị hóa trang
11
vai
- Khối 11 : Diễn xướng 1 trong các thể loại
ca dao – dân ca, sử thi, hoặc sân khấu dân gian
như chèo, tuồng…
12
Bước 3
Xác
định
thời
gian
đóng vai
Bước 4
Thực hiện
đóng vai
Thảo
luận
sau đóng vai
Bước 5
- Khối 12 : Đóng vai 1 cảnh tiêu biểu trong
vở chèo “Quan âm thị kính”
- Thời gian tập: 10 ngày
- Khối 10: 25 phút
- Khối 11: 5 phút
dụng ở một số bài học như:
- Vào vai một nhân vật kể lại câu chuyện đã học: Vào vai nhân vật Mị
Châu kể lại Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, vao vai nhân
vật Tấm kể lại truyện cổ tích Tấm Cám…
- Chuyển thể một văn bản thành một kịch bản sân khấu: Chuyển thể kịch
bản Vợ nhặt (Kim Lân), Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)…
thành kịch bản sân khấu và cho học sinh thảo luận về một số vấn đề trọng tâm
được đặt ra. Từ đó học sinh hình thành được các kiến thức, kĩ năng và năng lực
quan trọng qua bài học.
14
- Xử lý một tình huống giao tiếp giả định: Nội dung này thường được áp
dụng trong phân môn Tiếng Việt, tạo một cuộc giao tiếp khi học bài Đặc điểm
ngôn ngữ nói và viết, Ngữ cảnh, Thực hành về hàm ý…Ví dụ khi học bài Thực
hành về hàm ý, học sinh có thể hoạt động theo nhóm hoặc cặp đôi tạo nên những
tình huống có sử dụng ham ý. Học sinh được dành thời gian chuẩn bị nhưng
không được biết trước kịch bản, lời thoại. Sau đó, đại diện một vài nhóm lên
trình bày. Các học sinh còn lại xác định hàm ý của cuộc hội thoại, đánh giá mức
độ thú vị, hấp dẫn, chính xác.
- Trình bày một vấn đề, một ý kiến từ các góc nhìn khác nhau: Đây là cơ
hội học sinh được bày tỏ quan điểm riêng của bản thân một cách sáng tạo thông
qua các vai diễn khi nhập vai các phiên tòa giả định trong các văn bản Truyện
An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng
Đài, thay lời Thúy Vân tâm sự với Thúy Kiều khi học đoạn trích Trao duyên…
tưởng tượng ra một cái kết khác cho truyện Chí Phèo hay Tấm Cám…Học sinh
có thể vào vai phóng viên, luật sư, thẩm phán, bị cáo…để nêu lên quan điểm
riêng về vấn đề đặt ra trong bài học.
Sau quá trình vận dụng phương pháp đóng vai, giáo viên tiến hành khảo sát
học sinh tại một số lớp 10K1, 10A2 và 11B1 (76 học sinh) với nội dung các câu
Học tập là quá trình mà nhờ đó kiến thức được tạo ra thông qua sự biến
đổi của kinh nghiệm. Kinh nghiệm sẽ được tích lũy qua quá trình học sinh vận
dụng phương pháp sân khấu hóa và đóng vai, phương pháp này đã tạo ra một
môi trường kích thích, mô phỏng thực tế cho phép học sinh tăng cường sự hiểu
biết về tình huống được tái hiện. Học sinh có được cái nhìn sâu hơn vào khái
niệm, nội dung bài học then chốt bằng việc diễn xuất. Ngoài ra, phương pháp
sân khấu hóa và đóng vai khiến cho tác phẩm thật sự gần gũi với học sinh, tác
phẩm hay nhân vật văn học không con là những con chữ trên trang giấy mà
đứng dậy bước ra ngoài với những thông điệp, tư tưởng sống động như hơi thở,
như cuộc đời. Qua quá trình áp dụng phương pháp tại trường THPT Trường Thi
tôi thu được kết quả như sau:
- Học sinh hào hứng, tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo phương pháp
đóng vai
- Học sinh cảm nhận về tác phẩm toàn diện, sâu sắc, mới mẻ hơn về nội
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh hóa, ngày tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết, không sao chép nội
dung của người khác
NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN
dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm.
Tài liệu tham khảo
1. TS Lê Văn Hảo, Sổ tay phương pháp giảng dạy và đánh giá, nxb
Giáo dục, 2011
16