SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT LÊ VIẾT TẠO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
BIỆN PHÁP, CÁCH THỨC GIÁO DỤC KĨ NĂNG
TỰ NHẬN THỨC CHO HỌC SINH LỚP 12 QUA DẠY HỌC
ĐỌC HIỂU CÁC VĂN BẢN VĂN CHƯƠNG
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lê
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN môn:
Ngữ văn
THANH HÓA, NĂM 2018
MỤC LỤC
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4.Phương pháp nghiên cứu
1.5. Những điểm mới của SKKN
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của SKKN
2.2.Thực trạng của vấn đề trước khi nghiên cứu SKKN
2.3. Biện pháp, cách thức giáo dục KN TNT cho HS lớp 12 qua dạy học
đọc hiểu các văn bản văn chương
Nội dung viết tắt
Đại học sư phạm
Quy ước viết tắt
ĐHSP
2. Nhà xuất bản
NXB
3. Kỹ năng
KN
4. Kỹ năng sống
KNS
5. Tự nhận thức
TNT
6. Học sinh
HS
7. Giáo viên
GV
cả trong KNS của người học. Hơn lúc nào hết, KNS là một đòi hỏi thiết yếu
trong xã hội hiện đại.
Kỹ năng tự nhận thức là một kỹ năng sống cơ bản, là khả năng con người có
thể ý thức rõ ràng về cảm xúc, tính cách, quan điểm, giá trị và động cơ, hiểu biết
và chấp nhận những tố chất vốn có để phát huy điểm mạnh, hạn chế những điểm
yếu nhằm tổ chức tốt cuộc sống và cải thiện mối quan hệ của mình với mọi người.
1.1.2. Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý, trình độ nhận thức của học sinh lớp 12
Học sinh lớp 12 là lứa tuổi sắp bước vào chặng đường mới, trở thành một
công dân tương lai. Đây có thể coi là bước ngoặt trong cuộc đời của các em. Do
đó nhận thức rõ về bản thân, môi trường, bối cảnh xã hội, từ đó đưa ra quyết
định hợp lý, đúng đắn cho cuộc sống tương lai là điều vô cùng quan trọng và cần
thiết với các em. Đặc biệt, với học sinh hiện nay, các em đang phải đương đầu
với rất nhiều nguy cơ, cám dỗ không lành mạnh của xã hội hiện đại nhưng lại
không có hoặc thiếu những kỹ năng để ứng phó với khó khăn và lựa chọn cách
sống lành mạnh, tích cực cho bản thân và xã hội.
1.1.3. Xuất phát từ đặc trưng, thế mạnh của các văn bản văn chương trong
chương trình Ngữ văn 12
Phần văn bản văn chương trong chương trình, SGK Ngữ văn lớp 12, đặc biệt
là phần văn xuôi phong phú, đa dạng về chủ đề, dồi dào, giàu có tiềm năng giáo
dục tạo điều kiện để phát triển kỹ năng sống trong đó có kỹ năng tự nhận thức
cho học sinh.
1.1.4. Xuất phát từ thực trạng kĩ năng tự nhận thức của HS và việc giáo dục
kĩ năng tự nhận thức cho HS lớp 12 thông qua dạy học Văn
Trong thực tế dạy học môn Ngữ văn, giáo viên mới chủ yếu cung cấp những
giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm mà chưa chú ý đúng mức, chưa phát
5
huy hết được hiệu quả của việc phát triển kỹ năng tự nhận thức cho học sinh
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1. Khái quát chung về KN TNT
* Các khái niệm cơ bản
+ Khái niệm kĩ năng sống:
6
Trong xã hội hiện nay khi mà công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, con
người bị cuốn vào vòng quay của cuộc sống số, theo đó, sự phát triển mạnh mẽ
về mọi mặt của đời sống xã hội đã tác động rất lớn tới đời sống của con người.
Để có thể giải quyết, thích ứng với những vấn đề nảy sinh, đối mặt, chế ngự nó
con người cần phải có phương pháp giải quyết hữu hiệu. Do đó, hơn lúc nào hết,
con người cần phải có kỹ năng sống (KNS) hay còn gọi là kĩ năng mềm.
Như vậy, có thể thấy kĩ năng sống bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần
thiết cho cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Hơn lúc nào hết để tồn tại, để thích
ứng với môi trường xung quanh con người cần có kĩ năng sống. Khả năng ứng
xử phù hợp và tích cực với bản thân, người khác, xã hội là bản chất của kĩ năng
sống. Và một trong những kĩ năng sống cơ bản và cần thiết của con người là kĩ
năng tự nhận thức.
+ Kĩ năng tự nhận thức:
Để làm rõ khái niệm kĩ năng tự nhận thức, trước hết cần xem xét khái niệm
tự nhận thức. Tựu chung, tự nhận thức là quá trình con người tiếp nhận và xử lí
thông tin về bản thân để điều chỉnh hành vi của mình nhằm đảm bảo sự thích
nghi và phát triển của bản thân.
Mỗi tác giả có một cách phát biểu khác nhau về nội hàm khái niệm KN
TNT. Tuy vậy ta có thể nhận thấy kĩ năng tự nhận thức là khả năng nhận biết
được cảm xúc, những điểm mạnh, điểm yếu, giá trị và năng lực của bản thân để
có thể xác định mục tiêu,điều chỉnh hành vi của mình một cách phù hợp nhằm
tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ.
Nhìn chung tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh
hoạt và nhạy bén hơn. Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưa
phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo
cảm tính. Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một cách tích
cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng. Việc
phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên.
* Đặc điểm về hoạt động học tập
Cũng như học sinh Trung học cơ sở hay Tiểu học thì hoạt động học tập vẫn là
hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với
tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em. Nhà trường cần có những hình thức
tổ chức đặc biệt đối với hoạt động của học sinh THPT nhất là học sinh cuối cấp
để tạo ra sự thay đổi căn bản về hoạt động tư duy, về tính chất lao động trí óc
của các em.
2.1.3. Một số văn bản văn chương trong chương trình Ngữ văn 12 và khả
năng giáo dục KN TNT cho HS lớp 12
Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp học sinh có
năng lực ngôn ngữ để học tập, khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và con
người. Với tính chất là môn học giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp học sinh
bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu
lành mạnh để hoàn thiện nhân cách. Vì thế, Ngữ văn là môn học có những khả
năng đặc biệt trong việc giáo dục các kĩ năng sống cho học sinh, nhất là giáo dục
kĩ năng tự nhận thức , đặc biệt là học sinh lớp 12, lứa tuổi bắt đầu làm quen với
cuộc sống độc lập- bước ngoặt lớn trong cuộc đời của các em.
8
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN
9
2.3. Biện pháp, cách thức giáo dục KN TNT cho HS lớp 12 qua dạy học
đọc hiểu các văn bản văn chương
2.3.1. Học sinh nhập vai, đóng vai, trải nghiệm cùng các nhân vật, tình
huống trong tác phẩm để nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của bản thân mình
Nhập vai, đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số
cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Khi nhập vai diễn xuất, học
sinh luôn có xúc cảm với vai của một nhân vật nào đó nên đây là phương pháp
dạy học đặc biệt gây hứng thú cho học sinh khi dạy tác phẩm truyện. Học sinh
được sống thử cuộc sống của nhân vật, tình huống của nhân vật để tìm ra cách
hành động, cư xử, giải quyết vấn đề nên tập dượt được kỹ năng giải quyết vấn
đề hoặc đánh giá được tích cách của các nhân vật.
Cách thức tiến hành: Trước hết giáo viên chọn tình huống, nhân vật tiêu
biểu, có khả năng giáo dục tự nhận thức cho học sinh. Sau đó giáo viên hướng
dẫn học sinh xây dựng, chuyển thể kịch bản. Sau khi giúp học sinh hoàn chỉnh
kịch bản, giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ, phân vai cho học sinh diễn kịch
và nhận xét, đánh giá. Ví dụ dạy“Vợ nhặt”, giáo viên cho học sinh đóng vai tái
hiện lại tình huống khi Tràng dẫn Thị về nhà. Hoặc GV có thể tổ chức cho HS
đóng vai diễn lại cảnh Tràng đẩy xe thóc, gặp Thị và mời Thị ăn bánh đúc. GV
cũng có thể cho HS chuyển thể cảnh trên khác một chút ở phần kết thúc. Nội
dung kịch bản có thể thay đổi như sau:
HS 1-Nhân vật Tràng (thủ thỉ):
- Này nói đùa chứ! Có về với tớ thì khuân hàng lên xe rồi cùng về!
HS 5- Nhân vật Thị (ngạc nhiên):
- Đằng ấy nói gì cơ?Tớ về nhà với đằng ấy hở? Sao lại thế được? Tớ có
biết nhà đằng ấy như thế nào đâu!
HS 1- Nhân vật Tràng(bộc bạch):
vào hoàn cảnh như Trương Ba- phải trú nhờ trong thân xác của người khác em
sẽ hành động như thế nào? Trong giờ học, HS sẽ có nhiều ý kiến, nhiều cách lí
giải khác nhau. Tuy nhiên, GV cũng nên hướng HS vào những nhận thức mang
tính chuẩn mực của các hệ giá trị của xã hội. Chính vì vậy, vở kịch không chỉ có
ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người mà thông qua vở kịch Lưu
Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc
bấy giờ. Đó là lối sống mà con người đang có nguy cơ chạy theo những ham
muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến nỗi trở nên phàm phu, thô
thiển. Lại có tình trạng con người phải sống giả, không dám và cũng không được
là chính bản thân mình. Đấy là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do
danh và lợi. Nhận thức được ý nghĩa triết lí nhân sinh sâu sắc cùng ý nghĩa xã
hội bức xúc mà Lưu Quang Vũ gửi gắm qua vở kịch của mình, học sinh sẽ nhận
ra được chân giá trị của cuộc sống, sẽ tìm cho mình được cách ứng xử phù hợp
trong cuộc sống hôm nay. Quá trình đóng vai, trải nghiệm cùng nhân vật, cùng
hóa thân vào nhân vật để cảm nhận hành động cũng như cảm xúc của nhân vật
cũng là quá trình nhận thức và tự nhận thức của HS đang diễn ra tích cực nhất.
Khi HS được thử thách trong các tình huống: Nếu em là nhân vật Thị, em có
theo anh cu Tràng về không? Vì sao? Nếu em là bà cụ Tứ, em có thể chấp nhận
Thị nhanh như vậy không?..., HS sẽ cảm nhận rõ hơn mình giống hay khác nhân
vật, tốt hơn hay chưa tốt bằng nhân vật, từ đó mà dần dà thay đổi được cách
sống, lối sống.
Như vậy, sau mỗi lần cho các em nhập vai, đóng vai, trải nghiệm đời sống
của các nhân vật trong tác phẩm, học sinh sẽ có thêm nhiều khám phá về chính
mình, hiểu biết hơn về cuộc sống, biết yêu thương con người, quý trọng những
gì mình có. Ngoài ra, hoạt động này góp phần quan trọng giúp học sinh phát
11
triển năng lực ngôn ngữ, hình thành và hoàn thiện dần kỹ năng giao tiếp và phát
triển năng lực tư duy sáng tạo.
được thiết kế dưới dạng phiếu học tập. Để HS có thể hiểu rõ hơn về tác phẩm,
liên hệ tác phẩm với cá nhân HS, GV có thể cho HS xây dựng và điền vào phiếu
học tập:
Nhân vật
Đánh
giá
Nguyễn Khải
của Đánh giá của các Đánh giá của em
nhân vật khác
12
Bà Hiền
Nhân vật Tôi
Hoặc khi học văn bản “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, GV có thể cho HS liên hệ
thông qua mẫu phiếu:
Nhân vật Mị và tôi
Mị là ai?
Tôi là ai?
Mị : cam chịu, nhẫn nhục
-Tôi: đấu tranh, hành động
Nhân vật hành động: Mị thức suốt - Tôi: …………………………………
hào hứng khi được so sánh bản thân với nhân vật trong tác phẩm.
2.3.3. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo ngoài giờ đọc hiểu để
nâng cao kĩ năng tự nhận thức cho học sinh
“Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn của
nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động
khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ
thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách
và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình”. Khái niệm “trải nghiệm”
dùng để chỉ phương thức giáo dục, còn “sáng tạo” chính là mục tiêu giáo dục.
Có thể xây dựng nội dung trải nghiệm để giáo dục tự nhận thức cho học
sinh khi dạy học các văn bản văn chương trong chương trình lớp 12 ở nhiều
dạng phong phú như : Tổ chức các trò chơi dạy học (như “Ô chữ bí mật”, “Giải
mật mã”, “Rung chuông vàng”), tham quan dã ngoại, dạ hội, hội diễn văn nghệ,
sân khấu hóa, thi hiểu biết kiến thức văn học…Vì thế, GV cần linh hoạt trong
việc lựa chọn hình thức tổ chức sao cho phù hợp với mục tiêu giáo dục, nội dung
giảng dạy trên lớp, đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và nhu cầu nhận thức của HS.
Trong phạm vi vấn đề giáo dục KN TNT cho HS lớp 12 qua đọc hiểu các văn
bản văn chương, chúng tôi xin đề cập đến một số hoạt động chủ yếu:
*Hoạt động sân khấu hóa TPVC:
Văn học và hiện thực vốn có mối quan hệ khăng khít. Đời sống là môi
trường sản sinh ý tưởng, tác phẩm là kết quả phản ánh hiện thực. Mỗi sáng tác
văn chương luôn có mối quan hệ mật thiết với thiên nhiên, xã hội và thời đại. Vì
vậy, hình thức của hoạt động ngoại khóa sẽ giúp HS hiểu rõ hơn khi chính bản
thân mình được trải nghiệm thực tế qua việc biên tập một kịch bản chuyển thể từ
văn bản, rồi lại tự bản thân mình diễn sao cho thể hiện được tư tưởng của tác
phẩm, diễn được cái hồn của nhân vật mà mình thủ vai. GV có thể tổ chức cho
các em hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học bằng việc hướng dẫn các em
viết kịch bản, xây dựng các nhân vật, lời thoại để các em được sáng tạo, phát
huy khả năng của mình. HS có thể viết kịch bản cho một số đoạn trong các tác
phẩm như: Đoạn Mị cắt dây trói cho A Phủ (Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài); đoạn
chạy tít tắp đến chân trời”, với những câu chuyện kể còn đậm màu sắc của
huyền thoại, của sử thi để cảm nhận được những thông điệp mà tác giả gửi gắm.
Hay GV có thể tổ chức cho các em đến với vùng biển miền Trung còn hoang sơ,
đầy nắng vàng, cát trắng, với những phận người còn lam lũ, cơ cực để các em có
thể hiểu sâu hơn từng câu, từng chữ mà Nguyễn Minh Châu đã viết đầy lòng trắc
ẩn trong“Chiếc thuyền ngoài xa”.
+ Cách thức tiến hành dã ngoại:
*Chuẩn bị:
- Xác định mục tiêu, chủ đề
- Xác định địa điểm, thời gian
- Xác định nội dung quan sát, tìm hiểu, viết cảm xúc, suy nghĩ/ báo cáo
(có hướng dẫn, câu hỏi của GV)
*Thực hành dã ngoại:
- GV nhắc HS chú ý, sau đó nêu mục tiêu, yêu cầu cần đạt khi dã ngoại.
15
- Quản lí HS, thường xuyên đặt câu hỏi gợi mở liên quan đến mục tiêu,
chủ đề đã xác định.
- HS viết cảm xúc, suy nghĩ về những điều họ quan tâm, có ấn tượng;
liên hệ với con người và cuộc sống trong tác phẩm và liên hệ với những thay đổi
trong nhận thức, hành vi của mình về tác phẩm, về cuộc sống sau hoạt động dã
ngoại
*Hoạt động Câu lạc bộ văn học và tổ chức trò chơi
Để nâng cao KN TNT cho HS qua đọc hiểu VBVC, GV có thể cho các
em tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo khác như tổ chức câu lạc bộ văn
học (như bình thơ, giải ô chữ…) hoặc cho các em tham gia thi ứng xử, thi giải
tình huống… GV là người trực tiếp tổ chức, hướng dẫn để HS tham gia.
Trò chơi vừa là một hoạt động giải trí vừa là một phương pháp giáo dục:
Ê
N
M
I
N
H
C
H
Â
U
16
C
H
B
P
Đ
Ơ
Ô
N
Bên cạnh đó, GV có thể hướng dẫn cho HS tổ chức các câu lạc bộ (CLB).
CLB là nơi để học sinh được thực hành các quyền của mình như quyền được
học tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ
thuật; quyền được tự do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin.
Trong sinh hoạt của mình, CLB có thể đưa ra các hình thức tổ chức như bình
thơ, sáng tác thơ văn, viết thư cho tác giả…Thêm vào đó, các em có thể tham
gia làm triển lãm (cho chủ đề thơ, nhạc về gia đình, về mẹ, về tình yêu, về người
lính…). Các em có thể trải nghiệm nghề nghiệp (tập làm phóng viên, tập làm
chánh án trong các phiên tòa giả định....). Ví dụ các em có thể vào vai phóng
viên (PV) phỏng vấn Phác vì sao đã lao vào bố với lòng thù hận như vậy. Nội
dung phỏng vấn phải được xây dựng chi tiết, vừa bám sát văn bản vừa sáng tạo.
Chẳng hạn:
+ Phóng viên (PV): Vì sao Phác giật chiếc thắt lưng quật lại bố rồi cầm dao
đâm bố?
+ Phác: Vì bố đánh mẹ, tôi không muốn nhìn thấy mẹ bị đau đớn.
+ PV: Nhưng người đó là bố, Phác không sợ mất bố sao?
+ Phác: Ông ấy quá độc ác. Lúc nào cũng lăm lăm, hùng hổ xông vào đánh mẹ.
Người như thế không thể là bố tôi.
+ PV: Đã đành là vậy, nhưng Phác không còn cách nào khác sao?
+Phác: Tôi đã thử khá nhiều cách nhưng ông ấy vẫn chứng nào tật ấy.
+ PV: Phác nghĩ như thế nào khi lao vào đánh lại bố nhưng lại lau những giọt
nước mắt trên khóe mắt của mẹ?
+ Phác: Tôi không thể chịu được cảnh bố lao vào mẹ đánh tới tấp. Tôi là đàn
ông mà, không thể ngồi đó làm ngơ. Mẹ tôi hiền lắm, lúc nào cũng nhường nhịn,
12A 40
7,9%
26,3%
39,5%
26,3%
12C
40
26,3%
44,7%
21,1%
7,9%
Từ bảng trên ta có thể rút ra kết luận với lớp thử nghiệm tỉ lệ học sinh
giỏi, khá cao hơn so với lớp đối chứng. Ta thấy với việc thực hiện một số giải
pháp trên tỉ lệ học sinh có kết quả học tốt tăng lên. Cùng với đó là thái độ học
tập cũng tăng lên đáng kể, nhận thức về bản thân và cuộc sống xung quanh của
các em được cải thiện rõ rệt.
Nói chung chất lượng và tinh thần học tập của các em ở lớp thử nghiệm
đã có chuyển biến tích cực.
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Có thể nói, trong giai đoạn hiện nay, dạy học môn Ngữ văn cần hướng đến tích
hợp kiến thức cho HS, trong đó giáo dục KNS vừa là mục tiêu vừa là một giải
pháp quan trọng nhằm thu hút tinh thần thái độ học tập của học sinh. Do đó
người giáo viên cần tích cực tìm tòi những hướng đi mới, đặc biệt là việc làm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.SGK Ngữ văn 12-tập 1+2
2. SGV Ngữ văn 12- tập 1+2
3. Tài liệu: Chuyên đề: “GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG ở trường Trung học cơ
sở” - Tác giả : Trịnh Thị Thu Hoài
4. Rèn kĩ năng sống cho học sinh, NXB Đại học sư phạm-Tác giả Nguyễn
Khánh Hà.
20
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN
MÀ TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SKKN NGÀNH GD
HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC CẤP CAO HƠN ĐÁNH GIÁ ĐẠT TỪ LOẠI C TRỞ LÊN
STT
Tên đề tài
1.
Hình thành kỹ năng nhận biết, tìm ý, lập dàn ý
cho đề Văn nghị luận ở trường THPT
Một số giải pháp nâng cao kỹ năng tự nhận thức
cho học sinh lớp 12 qua dạy học đọc hiểu một số
tác phẩm văn xuôi.
2.