SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY HỌC MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10, 11 THEO HƯỚNG
GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ
CHO HỌC SINH
Người thực hiện: Nguyễn Thị Dịu
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HÓA, NĂM 2019
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
1. Mở đầu
1
1.1. Lí do chọn đề tài
1
1.2. Mục đích nghiên cứu
2
1.1.3. Đối tượng nghiên cứu
4
1.1.4. Phương pháp nghiên cứu
2.3.4. Tạo môi trường vận dụng văn hóa ứng xử trong văn học vào
13
giáo dục văn hóa ứng xử cho HS
2.4. Giới thiệu một số bài học theo hướng vận dụng văn hóa ứng xử
13
trong văn học vào giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh.
2.5. Hiệu quả của SKKN
16
3. Kết luận và kiến nghị
18
Tài liệu tham khảo
19
2
1. MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 của Thủ tướng chính phủ đã
chỉ rõ: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn
diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập
quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục
đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại
ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền
kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập
suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”[1]. Có thể
nhận thấy, mục tiêu của giáo dục đã chuyển từ trang bị kiến thức sang trang bị
năng lực và hình thành kỹ năng sống cho người học. Đặc biệt, mục tiêu giáo dục
còn nhấn mạnh đến việc giáo dục đạo đức, giáo dục nhân cách cho học sinh.
3
em sẽ nhận thức hành vi của bản thân để thay đổi. Và qua các tiết học các em sẽ
có hứng thú hơn với bộ môn văn.
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu tôi tập trung nghiên cứu những tác phẩm
tiêu biểu trong chương trình ngữ văn 10,11, cơ bản.
HS các lớp 10A4; 10A5 và 11A C2; 11C6 trường THPT Triệu Sơn 4
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu tôi vận dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát thực địa
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê
2. NỘI DUNG
2.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN - TÌM HIỂU VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG
VĂN HỌC
Macxim Gorki từng nói “Văn học là nhân học”, có nghĩa văn học là khoa
học về con người. Trong bất kỳ thời đại nào con người vẫn là đối tượng trung
tâm của văn học, bởi Mac đã khẳng định “Lấy con người làm đối tượng miêu tả
chủ yếu, văn học có được một điểm tựa để nhìn ra toàn thế giới.”.
Khám phá thế giới con người, văn học bao giờ cũng khám phá những
tâm tư, tình cảm, thái độ, cách hành động của con người trước cuộc sống. Và
hơn bất kì loại hình nghệ thuật nào mục đích cuối cùng của văn chương là mang
đến cái nhìn toàn diện và đầy đủ về xã hội, tác động mạnh mẽ đến nhận thức,
tình cảm, cảm xúc của con người.
Qua khảo sát các tác phẩm văn chương nói chung và các tác phẩm văn
trong khắp các trang viết, không chỉ thấy thể hiện vẻ đẹp của cảnh vật mà còn
thấy một tấm lòng tha thiết với cảnh vật. Đó là tình yêu vĩnh cửu với thiên nhiên
vô tận, với vẻ đẹp hùng vĩ , tráng lệ của núi cao, vực thẳm, sông sâu, cũng có thể
là vẻ giản dị của nhành hoa, ngọn cỏ, con cò, con ếch,...
Ta bắt gặp một Nguyễn Trãi sau khi chiêm nghiệm, thấm thía đến tận
cùng quy luật “cung tàn điểu tận” của cuộc đời:
“ Phượng những tiếc cao, diều hãy liệng
Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi”
( Tự thuật 9)
đã khát khao được trở về quê ngoại Côn Sơn, khao khát sống giữa thiên nhiên
để được khuây khỏa, giải tỏa những khát vọng dang dở của một nhà chính trị lỗi
lạc:
“Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai…”
( Côn Sơn ca)
Một Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về với thiên nhiên để hóa thánh bởi ông
quá mệt mỏi với hoạn lộ đầy những tranh đua, tính toán ích kỷ, tàn nhẫn, thậm
chí còn chà đạp lên luân thường đạo lý, những nguyên tắc sống cơ bản của con
người. Khi “Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử/ Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi” thì
cũng là lúc Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về thiên nhiên “ Để rẻ công danh đổi lấy
nhàn”:
“Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”
“Đông ăn măng trúc, thu ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”…
( Nhàn)
Triết lý sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tôn thờ thiên nhiên, không
gian nguyên thủy của sự sống. Trong không gian đó, con người được tồn tại với
tư cách con người đúng nghĩa. Với ông, con người đích thực là con người gắn
bó với thiên nhiên, không gian sinh tồn đầu tiên của mình. Thiên nhiên trả lại
Này đây hoa của đồng nội xanh rì…
(Xuân Diệu)
Là bức tranh tràn ngập ánh sáng, mướt mát màu xanh hay lung linh
huyền ảo trong thơ Hàn Mặc Tử:
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”…
( Hàn Mặc Tử)
Nhìn chung, thiên nhiên trong cảm quan của con người là sinh thể sống,
cùng đồng hành, chia sẻ, chở che cho con người. Thiên nhiên là nơi cứu rỗi tâm
hồn con người để con người tìm lại sự bình an, tĩnh lặng và tự do. Thiên nhiên
trở thành điểm tựa tinh thần trong cơn bĩ cực, thiên nhiên nuôi dưỡng cái phần
thân tình chất phác của con người khỏi những hỗn tạp, ganh ghét, trói buộc của
cuộc sống. Bởi vậy, hầu hết cách ứng xử của con người với thiên nhiên trong
văn học là sống gần gũi với tự nhiên, yêu thương và trân quý.
2.1.2. Con người ứng xử với gia đình, xã hội phản ánh trong văn học
Mối quan hệ giữa cá nhân với gia đình và cộng đồng là mối quan hệ đặc
trưng của xã hội. Con người không được sinh ra với một trái tim thép để luôn
luôn mạnh mẽ, họ cũng có những khoảnh khắc bất lực, mệt mỏi, yếu đuối, tuyệt
vọng. Và những lúc như vậy gia đình, cộng đồng, tập thể, xã hội chính là một
thế lực trợ sức cho cá nhân thêm vững đôi chân, chắc trái tim để đương đầu với
khó khăn, thử thách. Giữa một cá nhân và gia đình, cộng đồng nơi nó thuộc về
bao giờ cũng có mối liên hệ khăng khít, mật thiết với nhau, giống như những
mảnh ghép trong một bức tranh, những viên gạch xây nên một bức tường, theo
quy luật: một người vì mọi người, mọi người vì một người.
Trong văn học dân gian đã có nhiều câu ca dao ca ngợi mối quan hệ tốt
đẹp giữa cá nhân và gia đình, cộng đồng: “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa
6
tộc trước kẻ xâm lược sừng sỏ, đầy dã tâm. Cả một đời sống cuộc sống của
người hùng nơi trận mạc, trải qua bao nhiêu thăng trầm từ bại đến thắng, từ “da
ngựa bọc thây” đến “áo mũ cân đai” ca khúc khải hoàn, thế nhưng người hùng
của cả thời đại ấy đã tỏ lòng như sau:
“Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”
(Thuật hoài- Phạm Ngũ Lão)
Cho đến cuối cùng, người hùng vẫn là người hùng trong cách hành xử đẹp
với thời đại, với cộng đồng. Ông đã không ngủ say trên chiến thắng để tự kiêu,
ngạo mạn với đời, trái lại vẫn tha thiết được chảy máu, được đổ mồ hôi, được
sống chết vì nghĩa lớn của cuộc đời mình. Đó chẳng phải là cách ứng xử đạo đức
và tốt đẹp hay sao. Qua Phạm Ngũ Lão, người ta không chỉ thấy một người
hùng, mà là cả một thế hệ những người hùng đã định nghĩa mình bằng hào khí
7
Đông A thời Trần. Đó là Trần Hưng Đạo, là Phạm Nhật Duật, là Trương Hán
Siêu,...
Bên cạnh lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm của trang nam nhi với
đất nước, văn học lại phản ánh cách ứng xử văn hóa của con người trước quyền
sống của con người. Cách hành xử giữa con người với con người lúc này được
thể hiện qua tình thương yêu sâu sắc, sự đồng cảm trước những nỗi khổ đau
trong cuộc đời, là sự tố cáo, lên án, đả phá thế lực phản nhân văn, phi nhân đạo
áp bức chà đạp lên quyền sống con người. Những nhà văn, nhà thơ lúc này
hướng về người phụ nữ để thông cảm, thương xót và ngợi ca họ bằng ngòi bút
của mình bởi người phụ nữ là nạn nhân đau khổ nhất của xã hội phong kiến thối
nát. Tiếng nói thương cảm ấy bắt đầu từ nàng Vũ Nương trong Truyền kỳ mạn
2.1.3. Con người ứng xử với bản thân trong văn học
Trong văn học dân gian và văn học trung đại, Con người luôn tự trói
buộc mình vào nhiều quy tắc. Nguyễn Đình Chiểu đã từng viết:
“ Trai thời trung hiếu làm đầu
8
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”
Người nam nhi sinh ra ở đời phải thấm nhuần hai chữ “Công danh”, giữ
trọn hai chữ “ trung hiếu”. Lập chí, lập thân, đem lại công danh rạng rỡ, hiển
vinh là cách xử thế của người con trai thời phong kiến. Bởi vậy, dù con đường
khoa cử gian nan những người nam nhi ấy vẫn “ trèo đèo”, “lội suối” vào kinh
ứng thí. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Cao Bá
Quát, Nguyễn Công Trứ,.. đã có biết bao áng thơ nói lên khát khao ấy:
“ Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen”
( Nguyễn Trãi)
“Làm trai sống ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”
( Nguyễn Công Trứ)
Bước sang hiện đại, ý thức cá nhân được giải phóng một cách triệt để.
Không còn phải giấu đi gương mặt mình lẫn vào sương khói của rừng thu bảng
lảng hay ánh trăng mờ trên cao, người hiện đại tự tin đứng giữa đất trời để cảm
nhận hết sức mạnh và quyền lực mà họ có trong cuộc đời. Mỗi một con người là
một cuộc đời, một số phận, một cá tính, một năng lức sáng tạo, một thế giới tâm
hồn riêng. Con người luôn kiêu hãnh để sống thật xứng đáng với chính mình.
Thơ Mới đem đến cho những tâm hồn thơ ca cơ hội để giãi bày cảm xúc của
mình một cách thật sự trong từng nhịp đập trái tim, từng rung động trong tâm
hồn. Người ta thấy một Xuân Diệu “thiết tha, rạo rực, băn khoăn” với cuộc đời,
những người trẻ có trình độ tư duy cao, năng động, có nhu cầu xông pha dấn
thân để trải nghiệm và học hỏi, cầu thị, quảng giao, thích thể hiện nhưng không
ngại học tập. Bên cạnh những mặt tốt, học sinh cũng là những người trẻ phải đối
mặt với nhiều thách thức, có nhiều khuyết điểm cần phải khắc phục, đặc biệt là
trong văn hóa ứng xử. Học sinh thời hiện đại có cá tính mạnh, thích được thể
hiện ra bên ngoài để nhận được sự hưởng ứng, đón nhận, động viên khuyến
khích của bạn bè, thầy cô, gia đình. Nhưng càng vì thế, văn hóa ứng xử của các
em càng va vấp nghiêm trọng.
* Ứng xử của học sinh đối với thiên nhiên, môi trường sống.
Qua khảo sát các giờ sau buổi học, tôi nhận thấy phần lớn các HS không
ý thức hết tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và cây xanh. Nhiều HS
vẫn ngang nhiên vứt rác bừa bãi ngay ngoài đường, xuống kênh hồ, sông,
biển…. Trong lớp học, các em bỏ hộp xốp, bao bì nilon, ống hút,...dưới hộc bàn,
góc lớp. Các em còn chặt phá cây xanh; vứt rác, giẫm, phá những khuôn viên
hoa tươi đẹp,...Tất cả hành vi của các em HS đã thể hiện lối sống thiếu văn hóa,
ứng xử thô bạo với môi trường sống và thiên nhiên.
Chặt phá cây rừng
Rác ở trong lớp học
Xả rác ở công viên
Xả rác xuống sông
10
* Ứng xử với gia đình, xã hội
Trong ứng xử với gia đình và xã hội, nhiều HS đã có thái độ ứng xử
Vì thích lối sống thể hiện cá tính, học sinh quan niệm lệch lạc, thậm chí
hiểu lầm dẫn đến hành động sai về cách sống thật với chính mình, sống tự do.
Các em không phân biệt được sự khác biệt giữa sống buông thả với sống đúng
cá tính, sống gấp, sống vội với sống sâu sắc, sống vô trách nhiệm và có trách
nhiệm với chính bản thân mình. Nhiều em tham gia đua xe, hút chích chỉ để trải
nghiệm, để thể hiện sự mạnh mẽ của bản thân. Thậm chí, có em cho rằng nổi bật
trước đám đông chính là thể hiện cá tính và đẳng cấp, nên không ngại ngần ăn
mặc lòe loẹt, hở hang, thậm chí quay video cảnh mình đánh nhau với bạn rồi
tung lên mạng để tạo scandal. Đặc biệt, với cơn sốt Facebook, nhiều học sinh
không thể kiềm chế sự ham thích của mình ở các trào lưu trên mạng. Với các
bạn, một like trên mạng xã hội có ý nghĩa hơn điểm số bài kiểm tra. Việc các
bạn bình luận vô trách nhiệm trên mạng với những câu nói, phát ngôn vô văn
hóa, hay trào lưu “tự sướng” tùy hứng bất chấp không phù hợp hoàn cảnh cũng
khiến cho văn hóa ứng xử học đường xuống cấp. Có rất nhiều HS đang tự hủy
hoại bản thân mình, tương lai mình bằng những trò chơi nguy hiểm: chơi game,
hút, chích,.. thậm chí có bạn còn tiêu cực với bản thân dẫn đến những cái chết
thương tâm.
Tự sát
Mải miết chơi gam
2.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TRONG GIỜ HỌC VĂN
VÀO GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO HỌC SINH
2.3.1. Tạo lập nhóm để giải quyết vấn đề
Hiện nay, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy việc lập nhóm giải quyết vấn
đề chỉ có ở một vài câu hỏi trong giờ học mà GV chỉ định. Tuy nhiên, đa số các
hoạt động chỉ tập trung giải quyết nội dung, nghệ thuật bài học, mà chưa lồng
ghép nhận thức về thái độ ứng xử của nhà văn hay nhân vật đối với vấn đề cuộc
sống được đặt ra. Tôi đã thử nghiệm lập nhóm từ 3-5 HS và các HS trong nhóm
trường để các hoạt động nhận thức văn hóa ứng xử trong văn học đi vào vận
dụng cụ thể. Sau các phần học hoặc tiết học GV có thể tổ chức các hoạt động
mang tính trải nghiệm văn hóa ứng xử cho HS để HS phát huy những giá trị vừa
tiếp nhận, thẩm thấu và trở thành thói quen.
* Trải nghiệm văn hóa ứng xử với thiên nhiên, môi trường: trồng cây
xanh trong khuôn viên lớp, hoạt động thi đua phân loại rác trong trường, lớp; sử
dụng rác tái chế sản phẩm hữu ích.
- Mục đích của hoạt động: Tăng cường ý thức giữ gìn cảnh quan môi
trường, ý thức xây dựng một khuôn viên xanh, sạch, đẹp, không khí trong lành,
tươi mát cho HS. Tạo dựng lối sống có văn hóa với thiên nhiên.
* Hoạt động trải nghiệm văn hóa ứng xử với gia đình, xã hội.
- Mục đích: Giúp HS biết trân trọng tình cảm với gia đình, bạn bè và
những người bất hạnh, khó khăn trong xã hội.
- Hình thức:
+ Tổ chức hoạt động làm thiệp hoa tặng mẹ, thầy cô, bạn bè, những
người thân trong những ngày lễ lớn như 20/10, 20/11, 8/3, sinh nhật…
+ Sáng tác thơ, truyện, viết tản văn,.. về chủ đề gia đình
+ Tổ chức các hoạt động từ thiện: Quyên góp và trao quà cho các em nhỏ
có hoàn cảnh khó khăn, vùng thiên tai…
* Hoạt động trải nghiệm văn hóa ứng xử với bản thân
- Mục đích: Giúp HS có thể nhận thức được những khả năng của bản
thân và sống có lý tưởng, ước mơ.
- Hình thức: Tổ chức các cuộc thi: Tôi làm phóng viên- phát thanh viên;
Tài năng âm nhạc; Tôi làm họa sĩ,...
13
2.4. GIỚI THIỆU MỘT SỐ BÀI HỌC THEO HƯỚNG VẬN DỤNG
VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG VĂN HỌC VÀO GIÁO DỤC VĂN HÓA
Mức độ 3: Vận dụng thông điệp văn hóa ứng xử
+ Nhận thức thực trạng ứng xử của HS với thiên nhiên hôm nay: thô bạo,
thiếu ý thức, thiếu tôn trọng.
+ Bài học rút ra: Cần tôn trọng thiên nhiên bởi đó vừa là nguồn sống vừa
là nơi di dưỡng tinh thần
+ Hoạt động vận dụng thông điệp văn hóa:
Vẽ tranh sáng tạo: Mẹ thiên nhiên- tình yêu và sự giận dữ
Trồng hoa làm đẹp khuôn viên lớp, trường
Làm đồ dùng học tập từ rác thải: chai nhựa, ống hút,... để tạo môi
trường xanh, sạch
Bài “ Chí Phèo”- Nam Cao
14
Bước 1: Khởi động: Trình chiếu một số hình ảnh về cuộc sống của con
người Việt Nam trước cách mạng và hình ảnh về cuộc sống của con người hôm nay.
Bước 2: Hoạt động tiếp nhận tri thức và vận dụng thông điệp văn
hóa từ tác phẩm
Mức độ 1: Nhận thức nội dung, nghệ thuật của tác phẩm
+ Tác phẩm viết về số phận bất hạnh của người nông dân trước cách
mạng tháng 8: bị tha hóa, vùi dập và bị cự tuyệt quyền làm người.
+ Nghệ thuật: Xây dựng hình tượng nhân vật độc đáo; ngòi bút khám
phá và miêu tả tâm lý đặc sắc
Mức độ 2: Thông hiểu thông điệp văn hóa ứng xử
+ Chế độ thực dân nửa phong kiến đã chà đạp lên quyền sống của con
người, tước đoạt đi quyền làm người của người nông dân-> Thông hiểu: Văn
hóa ứng xử của bọn cường hào ác bá đối với người nông dân: tàn bạo, phi nhân
tính
+ Chi tiết: bát cháo hành của Thị Nở-> Thông hiểu: Cách ứng xử đầy
+ Bài thơ viết về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh, đảm
đang, tần tảo, chịu thương, chịu khó lo toan cho gia đình.
+ Bài thơ viết bằng chữ Nôm, thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài
thơ thành công ở nghệ thuật vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân
gian; kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và chất trào phúng
Mức độ 2: Thông hiểu thông điệp văn hóa ứng xử
+ Gia đình là nơi quan trọng nhất của mỗi thành viên. Mẹ là người vất
vả, tảo tần lo cho gia đình Thông điệp: Cần biết tôn trọng, yêu thương cha mẹ
+ Thái độ ứng xử của Tú Xương đối với bà Tú: Đó là thái độ yêu
thương, trân trọng, lo lắng, tri ân Thông điệp: Các thành viên trong gia đình
cần thấu hiểu tạo dựng một gia đình hạnh phúc
+ Bài học rút ra: Tình yêu thương của cha mẹ dành cho gia đình là vô bờ
bến. Mọi thành viên cần có thái độ ứng xử yêu thương, biết ơn cha mẹ
Mức độ 3: Vận dụng thông điệp văn hóa ứng xử
+ Nhận thức thực trạng ứng xử của HS với gia đình hôm nay: Lừa dối
cha mẹ, xưng hô thiếu văn hóa, vô tâm, thiếu sự quan tâm tới gia đình,....
+ Hoạt động vận dụng thông điệp văn hóa:
Sáng tác thơ, truyện về gia đình
Làm thiệp tặng mẹ, thầy cô, bạn bè
Hát những ca khúc về tình cảm gia đình tài năng diễn viên,...
2.5. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.5.1. Nhìn từ tiết học
Tôi nhận thấy HS hứng thú hơn trong các tiết học. Không còn tình trạng
HS uể oải hay lơ là. Các tổ, nhóm hoạt động hăng say, nhiệt tình và thể hiện
nhận thức về vấn đề văn hóa ứng xử, vấn đề đời sống rất sâu sắc. Đặc biêt, các
kiến thức về bài học được các em ghi nhớ nhanh chóng.
2.5.2. Kết quả vận dụng kiến thức của HS như sau:
Để kiểm chứng bài dạy tôi đã sử dụng ở hai khối lớp mình dạy, trong đó
22
53.7%
11
26.8%
0
0
0
00
06
13,6%
20
45.5%
18
40.9%
16
61%
10
24,4%
0
0
0
00
05
11.4%
20
45.4%
19
43.2%
2.5.3. Kết quả nhìn từ hành vi ứng xử
Trước khi tổ chức các bài dạy theo hướng giáo dục văn hóa ứng xử ở lớp
thực nghiệm, tôi đã tổ chức lấy phiếu khảo sát về hành vi văn hóa ứng xử của
các HS. Sau khi dạy, bên cạnh việc tổ chức kiểm tra kiến thức tiếp nhận (bằng
Tiêu chí
Sau khi vận dụng các
giải pháp
41/41 HS (chiếm 100%)
đã hiểu thế nào là văn
hóa ứng xử
41 HS ( chiếm 100%)
đã hiểu và tiếp nhận văn
hóa ứng xử từ bài học
100% nhận thức được
hành vi ứng xử của bản
thân và thay đổi theo
chiều hướng tích cực:
-Tham gia các hoạt
động nhiệt tình, sôi nổi
- Lớp đoàn kết, đạt
nhiều giải cao trong các
hội thi cấp trường, tỉnh
- Phòng học sạch sẽ,
khuôn viên trước lớp
xanh tươi.
- Thi đua xếp vị thứ
xuất sắc - tốt
- Phụ huynh đánh giá có
sự thay đổi.
17
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết:
Nguyễn Thị Dịu
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. [1] CÔNG BÁO/Số 405 + 406/Ngày 28-06-2012 của THỦ TƯỚNG
CHÍNH PHỦ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ Số: 711/QĐ-TTg/Hà Nội, ngày 13
tháng 6 năm 2012 QUYẾT ĐỊNH Phê duyệt ''Chiến lược phát triển giáo dục
2011 - 2020"
2. Sách Ngữ văn 10 tập I, II NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006.
3. Sách bài tập Ngữ văn 10 tập I, II NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006.
4. Sách Ngữ văn 11 tập I, II NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006.
5. Sách bài tập Ngữ văn 11 tập I, II NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006.
6. Sách Giáo viên Ngữ văn 10, tập I,II, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007.
7. Sách Giáo viên Ngữ văn 11, tập I,II, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007.
8. Văn học Việt Nam (1900-1945), Phan Cự Đệ (chủ biên),NXB Giáo
dục, Hà Nội, 2000
9. Các trang mạng xã hội, Internet
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Dịu
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên – Trường THPT Triệu Sơn 4
Trãi - Ngữ văn 10
19