BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
PHẠM VĂN TRUNG
NÂNG CAO HIỆU LỰC CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT Ở CÁC
ĐẢNG BỘ TRUNG ĐOÀN PHÒNG KHÔNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành
: Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước
Mã số
: 931 02 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN LUẬN ÁN
1. PGS.TS TÔ XUÂN SINH
2. TS VŨ PHÚ DŨNG
HÀ NỘI - 2019
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tác giả. Các số liệu, kết
quả trong luận án là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng, không trùng lặp với các công trình
KT,GS
4
Quân đội nhân dân Việt Nam
QĐNDVN
5
Trung đoàn Phòng không
TĐ PK
6
Trong sạch vững mạnh
TSVM
7
Tổ chức cơ sở đảng
TCCSĐ
8
Uỷ ban Kiểm tra
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1
1.1
1.2
1.3
Chương 2
2.1
2.2
Chương 3
3.1
3.2
Chương 4
4.1
4.2
Trang
5
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
luận án
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến đề tài luận án
Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và
những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
NÂNG CAO HIỆU LỰC CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM
MỞ ĐẦU
11
11
15
31
34
34
60
88
88
106
119
119
129
163
166
167
182
5
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Kiểm tra, giám sát là nội dung thuộc chức năng lãnh đạo của Đảng, một
khâu quan trọng trong quy trình lãnh đạo của Đảng, nhằm đảm bảo mọi chủ trương,
KT, GS góp phần tích cực xây dựng Đảng TSVM, làm cho Đảng đủ sức lãnh
đạo thành công sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Các trung đoàn phòng không QĐNDVN có nhiệm vụ sẵn sàng chiến
đấu, chiến đấu tiêu diệt các phương tiện tiến công đường không của kẻ thù trong
bất cứ tình huống nào, cùng với toàn quân, toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc
XHCN. Để lãnh đạo các trung đoàn phòng không QĐNDVN hoàn thành thắng
lợi nhiệm vụ đòi hỏi phải xây dựng các đảng bộ trung đoàn phòng không TSVM,
nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu.
Xây dựng đảng bộ các trung đoàn phòng không QĐNDVN trong sạch,
vững mạnh phải thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp, trong đó công tác
KT, GS có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm cho Cương lĩnh, Điều lệ
Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp được chấp
hành triệt để; củng cố, tăng cường đoàn kết thống nhất, nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của tổ chức đảng; nâng cao chất lượng cấp uỷ, tổ chức đảng, đội ngũ
cán bộ, đảng viên, khắc phục các yếu kém, tiêu cực trong công tác xây dựng Đảng.
Trong thời gian qua, được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng uỷ Quân
chủng PK-KQ, Đảng uỷ các sư đoàn phòng không, sự chỉ đạo của UBKT Đảng
uỷ Quân chủng, UBKT đảng uỷ sư đoàn phòng không, công tác KT, GS ở các
đảng bộ trung đoàn phòng không đã được tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc, chất
lượng, hiệu quả, hiệu lực ngày càng được nâng lên, góp phần quan trọng vào xây
dựng đảng bộ các trung đoàn phòng không TS,VM, nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu, lãnh đạo các trung đoàn phòng không hoàn thành và hoành thành
tốt nhiệm vụ chính trị trung tâm và các nhiệm vụ khác được giao.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, ưu điểm đã đạt được, công tác KT, GS
ở các đảng bộ trung đoàn phòng không QĐNDVN vẫn bộc lộ những hạn chế,
khuyết điểm, đã và đang gặp không ít những khó khăn vướng mắc trong quá trình
thực hiện vì thế chất lượng, hiệu quả, hiệu lực thực tế của công tác KT, GS còn có
những hạn chế nhất định so với yêu cầu, chưa tạo được sự chuyển biến sâu sắc,
căn bản về nhận thức và hành động của tổ chức đảng và đảng viên sau khi được
NCS chọn vấn đề: “Nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát ở các đảng
bộ trung đoàn phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” làm đề
tài luận án tiến sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước.
8
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn hiệu lực công
tác KT, GS; đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra,
giám sát ở các đảng bộ trung đoàn phòng không QĐNDVN hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan các công trình có liên quan đến đề tài luận án.
- Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về hiệu lực và nâng cao hiệu
lực công tác KT, GS ở các đảng bộ trung đoàn phòng không Quân đội nhân
dân Việt Nam.
- Đánh giá đúng thực trạng hiệu lực công tác KT, GS; chỉ rõ nguyên nhân,
khái quát những kinh nghiệm nâng cao hiệu lực công tác KT, GS ở các đảng bộ
trung đoàn phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Đề xuất yêu cầu và những giải pháp nâng cao hiệu lực công tác KT, GS
ở các đảng bộ trung đoàn phòng không QĐNDVN hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát ở các đảng bộ trung đoàn phòng
không Quân đội nhân dân Việt Nam là đối tượng nghiên cứu của luận án.
Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu về công tác KT, GS, hiệu lực, nâng cao hiệu
lực công tác KT, GS ở các đảng bộ trung đoàn phòng không QĐNDVN hiện nay.
Tập trung nghiên cứu, khảo sát thực tế ở các trung đoàn phòng không đứng
5. Những đóng góp mới của luận án
Xây dựng khái niệm hiệu lực công KT, GS; luận giải làm sáng tỏ những vấn đề
cơ bản về hiệu lực và nâng cao hiệu lực công tác KT, GS ở các đảng bộ trung đoàn
phòng không QĐNDVN.
Tổng kết kinh nghiệm nâng cao hiệu lực công tác KT, GS ở các đảng
bộ trung đoàn phòng không QĐNDVN.
Đề xuất những nội dung, biện pháp cụ thể có tính khả thi nâng cao hiệu
lực công tác kiểm tra, giám sát ở các đảng bộ trung đoàn phòng không
QĐNDVN hiện nay.
10
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài luận án
Luận án góp phần luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hiệu lực
công tác KT, GS ở các đảng bộ trung đoàn phòng không QĐNDVN hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp những luận cứ
khoa học giúp cho đảng ủy, uỷ ban kiểm tra các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo
nâng cao hiệu lực công tác KT, GS ở các đảng bộ trung đoàn phòng không
QĐNDVN.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn xây dựng đảng, công tác đảng, công
tác chính trị trong các Học viện, nhà trường quân đội.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mục các công
trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
11
của dư luận. Đối với những vấn đề mới manh nha xuất hiện của cán bộ, cần sớm
nhắc nhở, sớm giáo dục, ngăn ngừa tật xấu nhỏ biến thành lớn.
12
Bạch Lập Bình “Tăng cường xây dựng tác phong cán bộ thiết thực
thực hiện vì dân, thực tế, thanh liêm” [84], tác giả xác định: một trong những
biện pháp để xây dựng tác phong quần chúng, thanh liêm là làm tốt công tác
giám sát cán bộ. Giám sát cán bộ cần có nội dung ràng buộc tác phong. Coi tác
phong quần chúng, liêm khiết là trọng điểm giám sát cán bộ, đưa vào các công
tác tâm sự nói chuyện, gửi thư nhắc nhở, hội nghị sinh hoạt dân chủ, báo cáo
công việc cá nhân có liên quan, đi thị sát cơ sở..., tăng cường giám sát đối với
tác phong cán bộ từ những chế độ cụ thể; đồng thời phát huy vai trò giám sát
của xã hội, giám sát của quần chúng, coi trọng và quy phạm giám sát qua
mạng, hình thành hợp lực lớn mạnh của giám sát.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về công tác kiểm tra, giám sát và
thi hành kỷ luật của Đảng Cộng sản
Tạng Thắng Nghiệp “Tăng cường xây dựng kỷ luật, giữ gìn sự đoàn kết,
thống nhất của đảng” [84], tác giả cuốn sách đã phân tích kỷ luật Đảng là bảo
đảm quan trọng để bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, hoàn thành nhiệm
vụ của Đảng. Để giữ nghiêm kỷ luật Đảng, một trong những biện pháp là tăng
cường kiểm tra, giám sát tình hình chấp hành kỷ luật. Theo đó, cơ quan kiểm tra
kỷ luật các cấp phải phát huy đầy đủ vai trò, chức năng, phối hợp với đảng ủy và
chính quyền làm tốt việc KT, GS tình hình chấp hành kỷ luật, kịp thời phát hiện và
kiên quyết uốn nắn mọi vấn đề có tính manh nha, tính khuynh hướng liên quan
đến vi phạm kỷ luật Đảng. Phải tập hợp các nguồn lực giám sát, dùng hình thức
chế độ để tập hợp một cách hữu cơ các loại hình giám sát với nhau như giám sát
trong Đảng, giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân, giám sát hành chính, giám sát
dân chủ, giám sát tư pháp, giám sát của quần chúng và giám sát của dư luận, mở
đường lối, chính sách của Đảng, kiến thức về pháp luật, kinh tế; rèn luyện,
phẩm chất chính trị tốt, bản lĩnh vững vàng, công tâm, trong sạch và am hiểu
nghiệp vụ công tác kiểm tra. Ba là, ủy ban kiểm tra các cấp phải thực hiện tốt
vai trò tham mưu giúp cấp ủy và tập trung kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ
đảng viên, cán bộ. Bốn là, đổi mới phương pháp kiểm tra của ủy ban kiểm tra
các cấp trên cơ sở đúng nguyên tắc, đúng quy định của Trung ương, thích hợp
với điều kiện, đối tượng kiểm tra, phù hợp với hoàn cảnh.
Xỏm - Vay - Xeng - Pa - Sợt “Đổi mới công tác kiểm tra ở tổ chức cơ sở
đảng trong Quân đội nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay” [155], tác giả đã luận
giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong đổi mới, đánh giá thực trạng và chỉ ra
14
những nguyên nhân, rút ra một số kinh nghiệm đổi mới công tác kiểm tra; đề xuất 5
giải pháp đổi mới công tác kiểm tra ở tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ Quân đội
Nhân dân Lào. Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phẩm chất, năng lực của cấp
ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với việc đổi mới công tác kiểm tra ở
tổ chức cơ sở đảng. Hai là, đổi mới, hoàn thiện các quy định, tạo cơ sở pháp lý để
tiến hành công tác kiểm tra ở tổ chức cơ sở đảng. Ba là, đổi mới và nâng cao hiệu
quả hoạt động của đảng ủy, ủy ban kiểm tra ở tổ chức cơ sở đảng. Bốn là, đổi mới
nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành công tác kiểm tra ở tổ chức cơ sở đảng.
Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp trên và các tổ chức, các lực lượng trong
công tác kiểm tra ở tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội nhân dân Lào.
Đao Bua - La -Pha Ba - Vông - Phết, “Đảng nhân dân cách mạng Lào
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra” [73], tác giả đã chỉ ra tiêu chuẩn của
cán bộ kiểm tra là: Có đạo đức tốt, trung thực. Nắm vững luật pháp; kiên
quyết bảo vệ, gương mẫu thực hiện nghiêm luật pháp. Có trình độ kiến thức
và năng lực; ý thức tổ chức kỷ luật cao. Có tinh thần phục vụ đất nước, bảo
vệ quyền là lợi ích chính đáng của công dân. Liêm khiết, không khoan
- Kinh nghiệm của Trung Quốc”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành
2004. Sách tham khảo “Các biện pháp chống tham nhũng ở Trung Quốc” của
tác giả Hồng Vĩ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2004. Sách
tham khảo “Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của một số nước trên thế
giới” của Ban Nội chính Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn
hành năm 2005. Cuốn sách “Học cách chống tham nhũng - Kinh nghiệm của
báo chí nước ngoài”, Nhà xuất bản Thông tấn ấn hành năm 2006.
Các công trình này đề cập chủ yếu đến vai trò của công tác kiểm tra,
giám sát của Đảng Cộng sản, vai trò của Uỷ ban kiểm tra Đảng các cấp trong
đấu tranh phòng chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà
nước, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, giữ vững kỷ
cương, phép nước, củng cố uy tín của Đảng, giữ vững niềm tin của nhân dân
đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.
1.2. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam có liên quan đến đề tài
luận án
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ
luật của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Thị Doan, “Đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật nhằm nâng cao
sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới” [32], tác giả đã
16
làm rõ có những đặc điểm của công tác kiểm tra của Đảng. 1) Đối tượng
kiểm tra khi được kiểm tra vừa là đối tượng vừa là chủ thể kiểm tra. 2) Là
đối tượng, đảng viên hoặc tổ chức đảng được kiểm tra phải chấp hành
nghiêm túc mọi yêu cầu, nội dung, quy trình, quy chế kiểm tra. 3) Là chủ thể
kiểm tra, thì người đảng viên hoặc tổ chức đảng được kiểm tra không thụ
động đứng ngoài cuộc mà phải chủ động, tự giác tham gia thực hiện đầy đủ
quyền và trách nhiệm trong kiểm tra. 4) Công tác kiểm tra được tiến hành
những nguyên tắc quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng, là kim chỉ nam
cho mọi hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển lý
luận của V.I Lênin về xây dựng đảng nói chung và về công tác kiểm tra, giám
sát, kỷ luật đảng nói riêng. Lý luận về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng
trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường cho công tác kiểm tra, giám
sát, thi hành kỷ luật của Đảng, được Đảng ta vận dụng có hiệu quả trong suốt
quá trình lãnh đạo cách mạng. Tuy nhiên, thời gian qua việc vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng vẫn còn hạn
chế, thiếu sót, bất cập. Một số cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp
nhận thức chưa thật đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động kiểm tra,
giám sát, thi hành kỷ luật đảng của cấp mình. Có nơi nhận thức được thì việc vận
dụng còn máy móc, giáo điều. Nhiều cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy học tập,
làm theo tư tưởng “Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra, mới đủ kinh
nghiệm và oai tín” của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn yếu, dẫn đến nhận thức về
công tác này chưa đầy đủ nên chưa quan tâm đến một cách đúng mức, thậm chí
còn cản trở việc kiểm tra hoặc không chịu trách nhiệm khi kiểm tra. Bên cạnh
đó, việc xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra chưa đáp ứng
được yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.
Phạm Thị Ngạn Tính nhân văn trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ
luật của Đảng [105], tác giả đã chỉ ra tính nhân văn được thể hiện ở mục đích,
phương châm, phương pháp và cách thức cụ thể để tiến hành công tác kiểm tra,
giám sát, thi hành kỷ luật Đảng. Theo đó, mục đích của công tác kiểm tra, giám
sát và kỷ luật đảng nhằm giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật đảng, giữ gìn sự trong
sạch, vững mạnh của các tổ chức đảng và đảng viên để tạo ra môi trường thuận
lợi cho mỗi cá nhân có thể phát huy hết khả năng của mình, cống hiến sức mình
để xây dựng xã hội và bảo đảm cuộc sống tốt đẹp, đồng thời đấu tranh với những
18
19
Phương pháp kiểm tra của Đảng dựa trên nguyên tắc công tác đảng. Công tác
thanh tra của Nhà nước thực hiện theo Luật thanh tra. Đối tượng của công tác
thanh tra là công dân và tổ chức chính quyền, tổ chức kinh tế của Nhà nước.
Phương pháp tiến hành thanh tra dựa trên cơ sở quy định của pháp luật.
Cao Văn Thống, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình
trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng [140], tác giả đã nêu ra hệ
thống các quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ chí Minh về công tác kiểm
tra, giám sát và kỷ luật Đảng, giúp cho các cấp ủy, ủy ban kiểm tra đảng các
cấp có thêm cơ sở tiến hành thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát
và kỷ luật của Đảng. Tác giả còn khảng định: Công tác kiểm tra của ủy ban
kiểm tra là công tác đảng, có đặc thù riêng là tiến hành kiểm tra, kết luận, xử
lý hoặc giúp cấp ủy xử lý kỷ luật những trường hợp có vi phạm đến mức phải
xử lý. Đặc thù này không những khác với những ban của cấp ủy mà còn khác
với các cơ quan bảo vệ pháp luật của Nhà nước (điều tra, truy tố, xét xử đều
do từng cơ quan độc lập tiến hành). Vì vậy, bên cạnh việc coi trọng và làm tốt
các phương pháp cơ bản của công tác đảng, cần đặc biệt coi trọng và làm tốt
công tác thẩm tra, xác minh để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát, thi
hành kỷ luật được công minh, chính xác, kịp thời.
Hà Quốc Trị, “Mấy vấn đề tự phê bình và phê bình trong công tác kiểm
tra, kỷ luật đảng” [120], tác giả đã chỉ ra thời gian qua không ít cấp ủy, ủy
ban kiểm tra các cấp chưa coi trọng và làm tốt công tác thẩm tra, xác minh,
chưa kết hợp các tài liệu của các cơ quan chức năng, kết quả tự phê bình và
phê bình với việc xem xét tình hình thực tế để có kết luận khách quan
chính xác. Một số cán bộ kiểm tra do năng lực trình độ còn bất cập, thiếu
bản lĩnh, ngại va chạm, nể nang, né tránh, hoặc bị vật chất chi phối nên
không dám đấu tranh phê bình, làm rõ vi phạm của cán bộ, đảng viên.... Do
Đảng. Tác giả đã khẳng định: công tác kiểm tra, giám sát có vị trí, vai trò rất
quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát,
kỷ luật Đảng là công tác đảng, được tiến hành theo đúng các nguyên tắc,
phương pháp công tác đảng. Đảng ta rất quan tâm đến việc xây dựng các hệ
thống lý luận, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng để các
cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp và chi bộ có căn cứ và cơ sở điều kiện
thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác này. Tuy nhiên, đến nay
vẫn chưa xây dựng, hệ thống hóa được những nguyên lý và phương pháp cơ
bản về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng.
21
Nguyễn Công Học, “Một số giải pháp bảo đảm việc chấp hành kỷ luật
và thi hành kỷ luật trong Đảng hiện nay” [88], tác giả đã làm rõ một số vấn
đề về việc chấp hành và thi hành kỷ luật trong Đảng hiện nay, đưa ra một số
giải pháp nhằm góp phần tăng cường hiệu quả việc chấp hành kỷ luật và bảo
đảm việc thi hành kỷ luật trong Đảng, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm
của ủy ban kiểm tra các cấp trong thi hành kỷ luật đảng với mục tiêu xây
dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. Tác giả đưa ra nhóm giải
pháp bảo đảm việc thi hành kỷ luật trong Đảng và nêu mục đích, ý nghĩa, tác
dụng của việc thi hành kỷ luật của Đảng, UBKT, các cấp, cấp ủy đảng các cấp
nắm vững và bám sát phương hướng, phương châm thi hành kỷ luật của Đảng,
bảo đảm tính dân chủ, công khai, khách quan, thận trọng, công tâm, công minh,
công bằng, chặt chẽ, đúng phương pháp công tác đảng.... Nâng cao chất lượng
công tác kiểm tra, giám sát để phục vụ có hiệu quả việc thi hành kỷ luật đảng,
xử lý kỷ luật và giải quyết khiếu lại kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên
phải đảm bảo công minh, chính xác, kịp thời và đồng bộ. Xem xét trách nhiệm,
xử lý nghiêm minh những tổ chức đảng thi hành kỷ luật oan, sai đối với đảng
viên. Nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện các hình thức kỷ luật và chế tài xử lý kỷ
đều có quyền và trách nhiệm tham gia công tác kiểm tra, giám sát một cách
chủ động và có hiệu quả. Theo định kỳ, các tổ chức đảng cấp trên phải có báo
cáo về hoạt động của mình đến tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên và tổ chức
tốt việc giám sát cấp dưới và tạo điều kiện thuận lợi để cấp dưới thực hiện
giám sát từ dưới lên. Ủy ban kiểm tra các cấp thường xuyên kiểm tra tổ chức
đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra để uốn nắn, đưa công tác kiểm tra
của cấp ủy, các tổ chức đảng đi vào nền nếp, tạo sự thống nhất, đồng bộ trong
công tác kiểm tra, giám sát.
Hoàng Trà, “Nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm tra tổ chức đảng cấp
dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm” [144], tác giả đã đề xuất những
giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ
kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm như:
Cần quan tâm, coi trọng, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của giám sát,
nhất là giám sát thường xuyên. Thông qua giám sát thường xuyên là cơ sở để
phát hiện, xác định và đề xuất kiểm tra đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng
viên. Đối với những nội dung, đối tượng kiểm tra có dấu hiệu phức tạp, liên
23
quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều người hay khi kiểm tra dấu hiệu vi
phạm đối với cấp ủy viên cùng cấp, nếu xét thấy cần thiết UBKT có thể tham
mưu, đề xuất lập đoàn kiểm tra của cấp ủy hay thường vụ cấp ủy để tiến hành
kiểm tra. Cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra và việc tổ chức lực
lượng trực tiếp tham gia các đoàn kiểm tra.
Lê Văn Thành, “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra khi có dấu hiệu vi
phạm” [133], tác giả đã chỉ rõ, để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám
sát, trong đó nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu
hiệu vi phạm, cần có quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức
đảng, cơ quan, cán bộ, đảng viên trong việc cung cấp thông tin dấu hiệu vi phạm;
sát, kỷ luật đảng bảo đảm đầy đủ, cụ thể khoa học, để sử dụng cho tất cả các
loại hình tổ chức đảng ở các cấp; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm
công tác kiểm tra, giám sát; làm tốt công tác sơ, tổng kết việc thống kê, báo
cáo để rút kinh nghiệm kịp thời.
Cao Văn Thống - Đỗ Văn Tuất (đồng chủ biên), “Nâng cao chất lượng
công tác kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi
phạm” [141], các tác giả đã làm rõ vai trò của kiểm tra và một số vấn đề về lý
luận và thực tiễn của việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới
và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi
phạm, đồng thời đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng kiểm tra tổ chức
đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm.
Nguyễn Thế Tư, “Nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có dấu
hiệu vi phạm của ủy ban kiểm tra huyện ủy ở các tỉnh duyên hải miền Trung
hiện nay” [135], tác giả đã phân tích những vấn đề cơ bản về lý luận và thực
tiễn kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, trong đó nêu rõ, kiểm tra đảng
viên có dấu hiệu vi phạm là yêu cầu cấp thiết của UBKT các cấp, đưa ra quan
niệm, một số tiêu chí đánh giá, tư tưởng chỉ đạo, phương pháp và quy trình
kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Luận án cũng đi sâu phân tích thực
trạng công tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của UBKT huyện ủy
ở các tỉnh duyên hải miền Trung, chỉ ra những nguyên nhân, bài học kinh
nghiệm. Từ những cơ sở trên, cùng với việc chỉ rõ mục tiêu, phương hướng,
25
quan điểm chỉ đạo, tác giả đã đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
chất lượng kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm.
Trương Thị Thông, “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra
chuyên trách của Đảng trong tình hình hiện nay” [143], tác giả đã phân tích