PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết số 29 Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) khẳng định : "Giáo
dục không chỉ là quốc sách hàng đầu", là "chìa khóa" mở ra con đường đưa
đất nước tiến lên phía trước", mà còn là "mệnh lệnh của cuộc sống". Văn kiện
Đại hội XII của Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Giáo dục, đào tạo và khoa học,
công nghệ là quốc sách hàng đầu; phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, gắn với nhu cầu phát triển
kinh tế- xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học, công nghệ
trong thế kỷ XXI". Đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà toàn Đảng, toàn dân
phải chăm lo thực hiện, nhất là trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập với thế giới
hiện nay. Gánh trên vai trách nhiệm to lớn này có vị trí, vai trò của mỗi giáo viên
trong các nhà trường trong đó có giáo viên chủ nhiệm lớp .
Giáo viên chủ nhiệm cũng như giáo viên bộ môn đều gắn liền với hai
nhiệm vụ giáo dục đó là: vừa giảng dạy, vừa làm công tác giáo dục. Mục đích là
đào tạo ra những học sinh vừa có kiến thức văn hóa, vừa có nhân cách làm
người, có tâm hồn trong sáng lành mạnh, có khả năng thích ứng và kỹ năng sống
tốt.
Học sinh THPT là lứa tuổi mới lớn nên tâm lí, tính cách của các em chưa
ổn định. Các em lại đang được thừa hưởng thành quả từ công cuộc đổi mới và
hội nhập của đất nước, trong bối cảnh nền cách mạng công nghiệp 4.0. Những
tiến bộ của khoa học và kỹ thuật đã làm cho đời sống vật chất, tinh thần của
người dân ngày càng được cải thiện.Tuy vậy, mặt trái của cơ chế thị trường cũng
ảnh hưởng xấu đến tầng lớp thanh niên. Những yếu tố thiếu lành mạnh từ xã hội
bên ngoài đã tác động đến các em. Sự buông lỏng quản lí của gia đình, sự đua
đòi bè bạn và sa đà vào những thói hư tật xấu của một bộ phận học sinh đã hình
thành nên những học sinh cá biệt (HSCB).
Vấn đề HSCB đã trở thành mối quan ngại của dư luận, nhất là với gia
đình và nhà trường. Trong các cấp học phổ thông, gần như cấp nào, lớp nào
cũng có học sinh cá biệt . Mà đã vào nghề dạy học thì không thể né tránh học
sinh cá biệt. HSCB không nhiều, song lại là "lực cản" rất lớn. Vì thế chỉ một
thành tốt nhiệm vụ được giao.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định nguyên nhân chính đã dẫn đến một số em có hành vi chưa đúng, chưa
có động cơ học tập, phẩm chất đạo đức chưa tốt…Qua đó, giúp các em định
hướng được ý nghĩa của cuộc sống, định hướng được hành vi và có động cơ học
tập tốt hơn.
- Qua các biện pháp giáo dục nhằm uốn nắn, bồi dưỡng, giáo dục các em từ
những học sinh cá biệt trở thành người có ích cho gia đình, nhà trường, xã hội.
1. 3. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận công tác chủ nhiệm lớp, thực trạng công tác
chủ nhiệm lớp ở trường THPT Bá Thước.
- Tập trung nghiên cứu giải pháp giáo dục học sinh cá biệt ở trường THPT Bá
Thước.
1. 4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, nghiên cứu những thông tin lý
luận về học sinh cá biệt, tâm lí học lứa tuổi học sinh THPT, nhiệm vụ của giáo
viên chủ nhiệm lớp, các bài tham luận trên Internet, một số sáng kiến về công
tác chủ nhiệm của đồng nghiệp, bạn bè trường bạn.
- Phương pháp điều tra lập phiếu hỏi: Điều tra tình hình lớp khi vừa nhận chủ
nhiệm ngay từ đầu năm( hồ sơ, điểm thi đầu vào, học lực, hạnh kiểm, hoàn cảnh
gia đình,…). Lập phiếu điều tra thông tin để học sinh điền vào.
- Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp cần làm thường xuyên để
theo dõi khách quan những học sinh cá biệt. Nên quan sát toàn diện các biểu
hiện, hành vi của học sinh đó trong học tập, trong lao động, trong các hoạt động
tập thể, trong quan hệ với bạn bè và những người xung quanh.
- Phương pháp phân tích số liệu: Phân tích số liệu cụ thể qua từng kỳ của năm
học, qua tổng kết từng năm học để thấy được sự thay đổi. Từ đó giáo viên chủ
2
+ Nhóm 2: Cá biệt do ham điện tử, sẵn sàng bỏ học, lừa dối bố mẹ, thầy cô…
+ Nhóm 3: Cá biệt do vi phạm chuẩn mực đạo đức, hỗn láo với thầy cô, bố mẹ,
nói tục, chửi bậy,…
+ Nhóm 4: Cá biệt do vi phạm pháp luật, đánh bạn, trộm cắp, trấn lột, cờ bạc…
+ Nhóm 5: Cá biệt do tự ti, trầm cảm, ngại tiếp xúc với thầy cô, hạn bè, hay sợ
hãi, tiêu cực trong suy nghĩ( nhóm học sinh cá biệt này đang có xu hướng gia
tăng trong xã hội ngày nay).
* Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh cá biệt
Theo quan điểm triết học của chủ nghĩa Mác-Lê nin: "Bản chất con
người là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội", hiện tượng học sinh cá biệt không
phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà có, tất cả đều có những nguyên nhân nhất
3
định. Có thể rút ra được một số nguyên nhân chủ quan và khách quan cơ bản sau
đây:
- Nguyên nhân khách quan
+ Từ phía gia đình:
Phải nói rằng thời gian mà các em sống với gia đình là khoảng thời gian
dài nhất, chính vì thế môi trường sống của gia đình có ảnh hưởng rất lớn đối với
các em, những thái độ, hành vi, cách cư xử trong gia đình sẽ hình thành cho các
em nền móng để các em tiếp xúc ngoài xã hội. Những em thiếu may mắn sinh ra
trong gia đình cha mẹ bất hoà, cách cư xử của cha mẹ thô bạo, rượu chè say
sỉn... đã tạo cho các em một ấn tượng không tốt điều đó có thể dẫn đến tình trạng
học sinh trở nên lầm lì ít nói; có em ảnh hưởng những thói quen không tốt đó
nên cũng có những hành vi cử xử không tốt với mọi người...Do đó đã hình thành
nên tính cách cá biệt trong học sinh.
+ Từ phía nhà trường :
Đây là ngôi nhà thứ hai của các em, nơi để phụ huynh gửi gắm niềm tin
vào việc giáo dục con em của họ, từ đây các em được học tập, được hiểu biết,
chính tương lai của các em. Cho nên các em thiếu tự giác, thậm chí thiếu trách
nhiệm với việc học tập và tu dưỡng.
+ Thứ hai: Một số em có niềm tin sai về giá trị của con người và cuộc sống
HS quan niệm chưa hợp lí về giá trị của con người và cuộc sống. Các em
này không tin rằng sự học sẽ đem lại cho con người giá trị và cuộc sống có chất
lượng.
+ Thứ ba: Do chán nản
Chán nản về năng lực, tự đánh giá thấp bản thân, kém tự tin, không vượt
qua được khó khăn, không còn hứng thú hoạt động và động cơ hoạt động.
Chán nản vì cho rằng bản thân không thể nào đáp ứng được các mong mỏi
của thầy cô, cha mẹ hoặc thầy cô, cha mẹ không đánh giá mình đúng mức, quyết
định không đáp ứng lại các mong mỏi, các yêu cầu do người lớn đề ra, từ đó mất
dần hứng thú và cố gắng.
Trong quá trình thích nghi với môi trường mới, nếu học sinh lỡ vi phạm,
mắc lỗi, các em rơi vào cảm giác không an toàn, giảm hứng thú, động cơ học
tập thậm chí chán, bỏ học
Phương pháp học tập không hiệu quả cũng là nguyên nhân gây chán nản
và mất động cơ học tập.
+ Thứ tư: Do rối loạn hành vi xã hội
. Các mức độ rối loạn hành vi xã hội:
Dửng dưng trước tình cảm của những người xung quanh.
Coi thường các chuẩn mực cũng như các nghĩa vụ xã hội.
Hung tợn, có thể dùng vũ lực.
Không có khả năng cảm nhận tội lỗi và không thể rút ra những bài học
có ích từ kinh nghiệm sống, ngay cả sau những lần bị phạt do phạm lỗi.
Có năng khiếu trong việc "kết tội" những người xung quanh hoặc biện hộ
cho những hành động đi ngược lại chuẩn mực của mình.
. Các biểu hiện của rối loạn hành vi xã hội:
Côn đồ, rất thích đánh nhau.
* Đặc điểm của hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ của học sinh
THPT
- Đặc điểm hoạt động học tập: Hoạt động học tập đòi hỏi tính tích cực, năng
động cao, đòi hỏi sự phát triển mạnh của tư duy lí luận. Hình thành hứng thú học
tập liên quan đến xu hướng nghề nghiệp. Hứng thú học tập được thúc đẩy, bồi
dưỡng bởi động cơ mang ý nghĩa thực tiễn, sau đó mới đến ý nghĩa xã hội của
môn học. Hứng thú học tập có điểm tích cực là: Thúc đẩy các em học tập và đạt
kết quả cao các môn học đã lựa chọn. Tiêu cực là: Nhiều em chỉ quan tâm đến
môn học liên quan đến việc thi cử mà sao nhãng các môn học khác.
- Đặc điểm hoạt động trí tuệ: Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao. Ghi
nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt đọng trí tuệ, đồng thời vai trò
của ghi nhớ lôgic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt. Các em đã
tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ. Có sự thay đổi về tư duy. Các em có
khả năng tư duy lý luận, trừu tượng một cách độc lập, chặt chẽ và có căn cứ nhất
quán. Nguyên nhân: Do sự phát triển của quá trình nhận thức, do sự ảnh hưởng
của hoạt động học tập, do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát
triển.
* Những đặc điểm nhân cách chủ yếu
- Sự phát triển của tự ý thức: Chú ý đến hình dáng bên ngoài. Quá trình tự ý
thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi, có tính đặc thù riêng. Sự tự ý thức của các em
xuất phát từ yêu cầu cuộc sống và hoạt động đến địa vị mới mẻ trong tập thể,
những quan hệ mới với thế giới xung quanh buộc thanh niên phải ý thức được
đặc điểm nhân cách của mình.
- Sự hình thành thế giới quan: Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan
là sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc
chung nhất, những quy luật phổ biến của tự nhiên, của xã hội…Việc hình thành
thế giới không chỉ giới hạn ở tính tích cực nhận thức, mà còn thể hiện ở phạm vi
nội dung. Vì thế, trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần phải xây dựng thế
giới quan lành mạnh, đúng đắn cho các em.
- Giao tiếp và đời sống tình cảm: Tuổi thành niên mới lớn là lứa tuổi mang
Những vấn đề lí luận nêu trên là cơ sở vững chắc để chúng tôi thực hiện
các giải pháp cho hướng nghiên cứu của đề tài:" Một số giải pháp trong công
tác chủ nhiệm để giáo dục học sinh cá biệt tại trường THPT Bá Thước".
2.2. Thực trạng công tác chủ nhiệm ở trường THPT Bá Thước
2.2.1. Đặc điểm tình hình nhà trường
Trường trung học phổ thông Bá Thước được thành lập ngày 15 tháng 10
năm 1966 trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Ngôi
trường có bề dày truyền thống hơn 50 năm xây dựng, trưởng thành và là ngôi
trường đầu tiên của 11 huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa được công nhận là
trường chuẩn Quốc gia.
Trường đóng tại địa bàn thị trấn Cành Nàng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh
Hóa. Đây là địa bàn tuyển sinh của 12 xã và thị trấn trên tổng số 22 xã, thị trấn
toàn huyện. Bá Thước - một huyện miền núi nằm ở phía tây của tỉnh , nơi sinh
sống của các dân tộc Mường, Thái, Kinh,…Trong đó người Mường, Thái là chủ
yếu. Bá Thước còn là một trong 7 huyện nghèo miền núi của tỉnh Thanh Hóa và
là một trong số 61 huyện nghèo của cả nước.
Hiện tại quê hương Bá Thước đã và đang từng bước chuyển mình nhưng
vẫn còn đó không ít khó khăn, thách thức về mọi mặt . Khó khăn, thách thức của
7
huyện nhà cũng là khó khăn, thách thức đối với nhà trường như: Kinh tế chậm
phát triển; giao thông đi lại không thuận tiện; trình độ dân trí chưa được nâng
cao; đối tượng học sinh chủ yếu là con em dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa,
hoàn cảnh kinh tế gia đình rất khó khăn, điều kiện học tập còn hạn chế, khoảng
cách từ nhà đến trường khá xa, vì thế nhiều em học sinh các xã như: Văn Nho,
Kỳ Tân, Thiết Ống, Thiết Kế, Hạ Trung, Lương Nội, … phải trọ học xa nhà, mà
môi trường trọ học lại rất phức tạp; các em dễ bị lôi kéo, dụ dỗ bởi các quán
game, lô đề, bài bạc, vay nặng lãi, rượu chè, đánh nhau, yêu đương sớm…Trong
khi đó bố mẹ các em thường đi làm ăn xa nhà lâu năm, các em chủ yếu ở nhà
giáo viên chủ nhiệm nói riêng yên tâm công tác và thực hiện tốt nhiệm vụ được
giao.
2.2.2. Thực trạng công tác chủ nhiệm ở trường THPT Bá Thước
8
Công tác chủ nhiệm ở trường THPT Bá Thước luôn được quan tâm sát sao,
tuy nhiên thực tế những năm gần đây công tác chủ nhiệm vẫn còn nhiều vấn đề :
- Thứ nhất, mặc dù đội ngũ giáo viên chủ nhiệm còn trẻ, khỏe, nhiệt huyết
nhưng nhận thức của một số giáo viên về chức năng, nhiệm vụ, tầm quan trọng
của công tác chủ nhiệm lớp đôi lúc còn chưa toàn diện.
- Thứ hai, trong nhà trường công tác chủ nhiệm vẫn được coi là công tác kiêm
nhiệm nên việc quản lý, chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm lớp còn chưa được coi
trọng nhiều và chưa được quan tâm đúng mức.
- Thứ ba, một bộ phận giáo viên được phân công làm công tác chủ nhiệm lớp
còn hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý, điều hành tập thể lớp. Làm việc chủ
yếu dựa vào kinh nghiệm sẵn và mang tính áp đặt, tính chủ quan đối với học
sinh.
- Thứ tư, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường còn
lỏng lẻo, chưa chặt chẽ và thường xuyên. Do đó chưa hỗ trợ tích cực cho công
tác của giáo viên chủ nhiệm.
-Thứ năm, mặt khác do đội ngũ giáo viên hầu hết là trẻ, đa số chủ nhiệm là giáo
viên nữ, con còn nhỏ, kinh nghiệm làm công tác giáo dục còn hạn chế đặc biệt là
phương pháp giáo dục giá trị, kĩ năng sống cho học sinh.
- Thứ sáu, công tác phân công công tác chủ nhiệm của các cấp quản lý còn mang
tính chủ quan, tính ưu tiên, nhiều giáo viên chủ nhiệm thường được xếp chủ
nhiệm các lớp chọn nhiều năm liền, trong khi còn nhiều GVCN khác thường
phải chủ nhiệm ở những lớp cơ bản, có nhiều học sinh cá biệt…
2.3. Biện pháp thực hiện
Trên cơ sở lí luận và thực trạng vấn đề điều tra cơ bản, nắm vững đối
công để quản lí lớp, tổ đạt chỉ tiêu. Giao cho thành viên BCS những sổ sách theo
dõi cần thiết phục vụ cho tổng kết tuần, tháng.
- Phân công nhiệm vụ cụ thể cho BCS lớp
+ Nhiệm vụ lớp trưởng
Là người điều hành, quản lý toàn bộ các hoạt động của lớp, của từng thành
viên trong lớp, cụ thể là:
. Tổ chức, quản lý lớp thực hiện các nhiệm vụ học tập.
. Theo dõi, đôn đốc lớp chấp hành đầy đủ các qui chế, qui định về nội qui học
tập.
. Tổ chức, đông viên giúp đỡ các bạn gặp khó khăn trong học tập cũng như
trong rèn luyện và đời sống.
. Chủ trì các buổi họp đánh giá kết quả học tập, rèn luyện, bình xét, đề nghị thi
đua khen thưởng của lớp.
+ Nhiệm vụ lớp phó(học tập, lao động, văn thể, đời sống)
. Đôn đốc các bạn đi học đúng giờ, đầy đủ, học tập nghiêm túc.
. Điểm danh, lấy sổ, ghi sổ, cất sổ bài đầy đủ, kịp thời.
. Tổ chức và quản lý các bạn thực hiện tốt các buổi lao động, các hoạt động tinh
thần và đời sống của tập thể lớp.
. Tổ chức động viên, thăm hỏi thầy cô giáo và bố mẹ cùng các bạn trong lớp.
. Xây dựng sơ đồ lớp cùng với giáo viên chủ nhiệm.
+ Nhiệm vụ của Bí thư chi đoàn thanh niên
. Nắm bắt và tiếp thu những thông báo, chỉ thị của đoàn trường để kịp thời triển
khai cho đoàn viên trong chi đoàn thực hiện đầy đủ.
. Thực hiện các phong trào ủng hộ, quyên góp... do đoàn các cấp phát động.
+ Nhiệm vụ của trưởng ban nề nếp lớp:Theo dõi và ghi chép lại những lỗi vi
phạm về nề nếp đi học, trang phục, đầu tóc, nếp sống văn minh,...của các thành
viên trong lớp.
+ Các tổ trưởng: Trực tiếp kiểm tra việc thực hiện của tổ viên, tổng hợp báo
caos trước lớp cuối tuần.
Cuối tuần cán bộ lớp họp tổng hợp kết quả và đưa ra biện pháp sửa chữa
- Lớp trưởng thông qua bảng xếp loại thi đua giữa các tổ, cá nhân thông báo
trước lớp. Qua đó nêu lên được những mặt mạnh, mặt hạn chế cần khắc phục ở
từng tổ. Đồng thời tuyên dương những cá nhân xuất sắc và phê bình những cá
nhân chưa tốt.
- Đặc biệt trong những tuần học mà có học sinh gian lận, vi phạm nhưng không
thành thực thì mỗi thành viên trong lớp phải viết thư riêng chuẩn bị ở nhà để tố
giác. Lớp trưởng thu và nạp cho GVCN nghiên cứu, có biện pháp xử lý.
- Lớp trưởng và trưởng ban nề nếp lớp lấy ý kiến đề xuất biện pháp xử lý từ các
tổ và từ chính những học sinh vi phạm báo cáo lên GVCN.
Hoạt động 2: GVCN nhận xét, đánh giá học sinh và hoạt động của lớp trong
tuần qua.
- GVCN nhắc lại những chỉ tiêu phấn đấu về các mặt:
+Nề nếp
+ Giờ học.
+ Điểm học.
- GVCN dựa trên sổ đầu bài, những lời nhận xét từ lớp trưởng và các tổ trưởng
đánh giá về chỉ tiêu phấn đấu đã đạt được và chưa đạt được, chỉ và phân tích
nguyên nhân.
- GVCN nêu những tiến bộ của các học sinh trong lớp, tuyên dương, động viên
những em có ý thức học tập và rèn luyện đạo đức, phát huy sự tiến bộ của mình.
- Nhắc nhở, phê bình những học sinh vi phạm. Đối với những học sinh mắc lỗi
lần đầu, tùy theo mức độ mà GVCN tha thứ hoặc áp dụng hình thức phạt là yêu
11
cầu làm trực nhật lớp trong tuần sau. Đối với những học sinh nhiều lần vi phạm
nội quy, GVCN thi hành kỷ luật nghiêm khắc đối với các em đó: Yêu cầu học
sinh viết bản tự kiểm điểm, có ý kiến của phụ huynh; thông báo về gia đình,
mời phụ huynh đến trường gặp GVCN để trao đổi. Đồng thời, GVCN cũng
thông báo trước lớp nếu học sinh nào bị phạt nhiều lần, vi phạm có hệ thống mà
được những điểm mạnh, giá trị của bản thân, giáo viên cần khích lệ để các em tự
tin phát huy những điểm mạnh và giá trị đó, đồng thời cố gắng khắc phục những
hạn chế, những niềm tin vào những cái phi giá trị hoặc phản giá trị để thay đổi
hành vi, thói quen xấu, tiêu cực theo hướng lành mạnh và tích cực lên.
GVCN sẽ khơi dậy ở học sinh nhu cầu muốn khẳng định khả năng và giá
trị của bản thân, muốn hoàn thiện nhân cách. Từ đó các em được khích lệ để tự
tin và có động cơ học tập, rèn luyện.
Ví dụ : Trường hợp em Phạm Tuấn Thịnh lớp 10a4, là một HS cá biệt
ngay từ đầu năm học 2018-2019.
12
Hoàn cảnh gia đình rất đặc biệt: Con hộ nghèo, bố mất khi em học lớp
8, mẹ sức khỏe yếu không có việc làm, đi phụ hồ cho công trình, ở nhà còn có
em nhỏ và ông bà nội đã già, đau ốm.
Biểu hiện cá biệt: Có tất cả những biểu hiện điển hình của một học sinh
cá biệt thuộc 5 nhóm phân loại như: Đi học muộn, không học bài cũ, không làm
bài tập, nói tục, rất hay gây mất đoàn kết trong lớp, trong trường và hay đánh
nhau, cục tính, ăn nói trống không, ngủ trong giờ, hay cãi lí với thầy cô, chơi bời
lêu lổng,…
Hướng giáo dục:
+ GVCN khai thác điểm mạnh của học sinh Thịnh: Dù cá biệt nhưng sẵn sàng
đứng lên nhận trách nhiệm là do mình gây ra. Chơi thân và lắng nghe những lời
khuyên từ lớp trưởng. Có khả năng học thuộc lòng rất tốt, giọng đọc to, lưu loát.
+ Xếp chỗ ngồi: GVCN xếp chỗ ngồi cho em Thịnh ngay cùng bàn với lớp
trưởng thuộc tổ1 phía đối diện với bàn giáo viên.
+ GVCN luôn kiên trì trong giáo dục em Thịnh:
Đầu năm khi GVCN còn chưa có nhiều thời gian tiếp cận với em, em
phạm lỗi lần đầu là nói tục, đánh một bạn trong lớp: GVCN lên lớp, gọi em
đứng dậy.Tôi hỏi: "Thịnh ơi, em có biết lí do cô gọi em ra đứng lên không?. Em
nếp của lớp. Em Thịnh tổng hợp nề nếp, trình bày trước lớp những vi phạm nề
nếp của các bạn và đưa ra những đề xuất của mình. Em còn được giao phụ trách
huấn luyện đội bóng đá nữ của lớp trong giải bóng đá chào mừng ngày thành lập
Đoàn TNCS Hồ chí Minh do Đoàn trường tổ chức…Em rất háo hức trong phần
việc của mình.Thi đua kì 2 em Thịnh được khen về chỉ tiêu điểm tốt tại
lớp...Nhiều thầy cô giáo bộ môn đều ghi nhận sự tiến bộ của em ấy.
Trường hợp em Thịnh là học sinh cá biệt “cứng đầu ”, tôi đã không bỏ
cuộc, không đẩy em đó sang môi trường khác, tôi đã gần gũi, thăm hỏi, động
viên, có thái độ thân thiện để cảm hoá em trong vai trò của người mẹ, người chị,
người bạn để chia sẻ, để tranh luận đúng sai, lắng nghe ý kiến của em, công
bằng khi đánh giá. Tôi luôn tin tưởng vào sự tiến bộ ( dù chậm ) của học sinh
Thịnh. Tôi luôn có những lời động viên, khuyến khích để học sinh cá biệt có
động cơ mà tiến bộ .
Ngoài em Thịnh các em có biểu hiện cá biệt trong lớp đều đã bắt nhịp
được với cách giáo dục của GVCN. Để rồi trong những lúc ra chơi giữa các tiết,
được trao đổi, được các giáo viên bộ môn và cả những thầy cô dạy thay ở lớp,
thầy cô đều có những nhận xét tích cực về lớp. Là một GVCN được nghe đồng
nghiệp nhận xét về lớp có tiến bộ, tôi rất ấm lòng.
2.3.3. GVCN cần khích lệ, động viên và giữ thể diện cho học sinh cá biệt
- Khích lệ, động viên là việc mà mỗi GVCN nên làm thường xuyên. Đối với học
sinh cá biệt có được những khích lệ ấy các em sẽ tự tin hơn trước tập thể và có
niềm tin để phấn đấu.
- Giữ thể diện cho các em là việc GVCN phải làm và làm đồng đều, làm bằng
được. Bởi làm tốt điều này có tác dụng rất tốt cho việc hỗ trợ giáo dục học sinh
cá biệt ở các biện pháp khác. Theo tâm lí học thì đây là lứa tuổi thích được
khẳng định mình, nhưng không thích bị chỉ trích đến nỗi xấu hổ trước tập thể.
Nếu GVCN không khéo léo làm mất thể diện của các em thì cách giáo dục của
chúng ta sẽ không phát huy được tác dụng.
Ví dụ: Xử lí tình huống để giữ thể diện cho học sinh Trương Thị Hải
Yến lớp chủ nhiệm 10a4 bị nghi ngờ ăn cắp điện thoại của bạn trong lớp.
sử dụng điện thoại trong giờ học trước đó? Như vậy là em vi phạm cam kết, vi
phạm nội quy nhà trường rồi. Nếu đã thấy điện thoại em thực hiện theo cam kết
ngay nhé. Sau đó tôi gọi cho phụ huynh em Anh. Tôi lại hỏi em : Còn nếu thực
sự là Yến lấy, em có cái nhìn như thế nào nếu đặt mình vào trường hợp của Yến?
Tôi trao đổi với em rất nhiều, mục đích là để tránh những suy nghĩ xấu của Anh
về Yến. Tôi không quên dặn em đừng tỏ thái độ xa lánh bạn, cứ cư xử như chưa
có chuyện gì xảy ra. Em Anh hứa sẽ không nói thêm về chuyện này nữa với bạn
bè.
Còn Yến tôi phải dành nhiều thời gian trao đổi riêng với em. Tôi nói:
Giờ chỉ có hai cô trò em cứ bộc bạch, cô hứa sẽ chỉ cô và em biết. Lúc đầu em
ấy không thừa nhận và nghĩ mình bị oan. Nhưng tôi hỏi em sao em lại phát hiện
được điện thoại của bạn để trên ô thoáng? Em lúng túng. Em nói em vô tình
ngước nhìn lên thấy thôi ạ! Điện thoại bị úp kín như vậy sao em ngước để nhìn
thấy được?... Hỏi đến câu nào em cũng ấp úng, lo sợ. Đấu tranh mãi sau đó em
đã tự nhận mình có ý định lấy điện thoại của bạn để dùng vì điện thoại em bị
hỏng. Tôi phân tích về hành vi ăn cắp nói chung để em thấy được tác hại. May là
Ngọc Anh đã thấy điện thoại rồi. Ngọc Anh cũng nói sẽ không bàn luận thêm về
chuyện vừa xảy ra nữa. Tôi khuyên em và em đã bớt căng thẳng.
Sau đó tôi gọi Ngọc Anh ra gặp cô và Yến để trao đổi thêm. Hai em đã
làm hòa với nhau. Tôi cho hai em bắt tay làm hòa. Tôi cũng khéo léo nhắn nhủ
lớp chủ nhiệm: Chắc bạn nào trêu Ngọc Anh nên giấu điện thoại để bạn lo lắng.
Các em đừng đùa quá như vậy! Chuyện trong lớp đã êm xuôi rồi cô mong các
em không được bàn tán, phát tán thông tin làm ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết
của lớp. Và nhớ nếu đem điện thoại và sử dụng trong lớp, trường là vi phạm nội
quy các em không được mắc lỗi nhớ chưa nào!
Những ngày sau đó Yến vẫn đi học bình thường, tôi quan sát thấy hai em
vẫn hòa đồng với nhau. Không khí lớp đã ổn định và các em vẫn đoàn kết.
2.3.4. Làm tốt công tác phối hợp để giáo dục học sinh cá biệt
15
học sinh trong lớp phản ánh.
* Phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội chữ thập đỏ, Ban nề nếp nhà
trường
- Phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh trường THPT Bá Thước là tổ chức chính trị, xã hội của đoàn viên, thanh
niên học sinh. Trong nhiều năm qua, Đoàn trường luôn là một tổ chức vững
mạnh, là mục tiêu phấn đấu của nhiều thanh niên để được đứng vào hàng ngũ.
Đoàn trường chính là nơi tập hợp sức mạnh, là nơi để các em trưởng thành và
khẳng định mình thông qua các hoạt động phong trào đoàn. Là một GVCN lớp,
tôi luôn phối kết hợp chặt chẽ với tổ chức đoàn thanh niên của nhà trường trong
việc giáo dục học sinh, trong đó có học sinh cá biệt. Cụ thể:
+ Bình xét thanh niên ưu tú tham gia học lớp đối tượng đoàn theo quy định.
+ Hưởng ứng nhiệt tình và có hiệu quả các hoạt động do đoàn trường tổ chức.
16
+ Vận động và tổ chức cho đoàn viên, thanh niên chi đoàn lớp kí cam kết không
vi phạm pháp luật, cam kết thực hiện văn hóa học đường, chấp hành luật lệ an
toàn giao thông.
+ Vận động đoàn viên thanh niên tham gia đầy đủ các đợt quyên góp, ủng hộ do
Đoàn trường và Huyện đoàn phát động như: Chiến dịch mùa khô tình nguyện;
tặng sổ tiết kiệm cho tân binh, bà mẹ Việt Nam anh hùng; mua tăm, bút ủng hộ
trẻ em khuyết tật,…
+ Khuyến khích các em tham gia nhiệt tình các cuộc thi do huyện đoàn và đoàn
trường phát động như: Cuộc thi "Tìm hiểu 990 năm Danh xưng Thanh Hóa với
tư cách là đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương", cuộc thi “ Rung chuông
vàng”, Hội thi văn nghệ chào mừng ngày 20/11…
Với việc tham gia nhiệt tình, tích cực vào các hoạt động đoàn, các em đã
phát huy được năng lực, sở trường của mình; biết xây dựng hoạt động cá nhân
SL % SL %
KS ĐN
18
46
9
23
10
Học kỳ I
19
49
8
20
10
Lớp
Yếu
SL %
26
2
5
1 2,5
18
46
19
49
1
2,5
17
Học kỳ II 18
46
9
12
31
0
0
18
46
19
49
1
2,5
18
1 2,5
* Năm học: 2018 - 2019
Lớp vận dụng các biện pháp giáo dục học sinh cá biệt
Hạnh kiểm
Học lực
Lớp 10A4
Tốt
12,5
0
0
21 52,5
18
45
1
2,5
Học kỳ I
31
77,5
4
10
4
10
0
0
0
0
32 80
8
20
0
0
Cả năm
80
6
15
2
5
trường. Các buổi học luôn duy trì tốt sĩ số học sinh. Số học sinh vắng học rất ít.
+ Được tuyên dương và nhận thưởng trong các đợt tổng kết phong trào thi đua
chào mừng các ngày lễ lớn trong năm do đoàn thanh niên và nhà trường phát
động:
Thi đua đợt 1 học kỳ I năm 2018-2019: Trong 4 tuần thi đua lớp có kết
quả xếp loại chung là 5/26 lớp. Được thưởng về nề nếp, giờ học, điểm học thuộc
tốp 10. Văn nghệ lọt vào chung kết và đạt giải khuyến khích.
Thi đua đợt 2 năm học 2018- 2019: Trong 4 tuần thi đua lớp có xếp loại
chung là 8/ 26 lớp, nề nếp xếp thứ 7/ 26 lớp, giờ học xếp thứ 7/ 26 lớp, điểm học
xếp thứ 13/ 26 lớp. Kết quả thi học sinh giỏi cấp trường lớp đạt 4 giải(1 giải ba
môn GDCD, 2 giải khuyến khích môn Địa và GDCD, 1 khuyến khích môn Văn)
xếp thứ 3/ 9 lớp khối 10 về số giải sau 2 lớp chọn 10A9, 10A1.
+ Nhiều em tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ thể dục thể thao. Trong đó
có cả những HSCB. Trong số các học sinh cá biệt, đã có nhiều em vươn lên đạt
nhiều thành tích trong học tập và rèn luyện.
+ Tập thể lớp giảm đáng kể hiện tượng học sinh đi học muôn, vi phạm các nội
quy của nhà trường, của đoàn thanh niên và của tập thể lớp đề ra.
18
+ Không còn hiện tượng học sinh tham gia đánh nhau, không có học sinh bị ra
hội đồng kỷ luật của nhà trường.
+ Qua trao đổi, nắm bắt thông tin từ phía giáo viên bộ môn: Các giáo viên có
nhận định tích cực về sự chuyển biến của các em học sinh cá biệt.
+ Cả năm tập thể lớp có xếp loại chung là 13/26 lớp. Bí thư lớp được nhận giấy
khen của Bí thư đoàn trường tặng, chi hội chữ thập đỏ lớp được Chủ tịch Hội
chữ thấp đỏ nhà trường tặng giấy khen.
- Đối với giáo viên
+ Bản thân thông qua việc tìm hiểu đã nắm vững lí luận, thực trạng, từ đó triển
khai các biện pháp vận dụng giáo dục học sinh cá biệt học sinh vào thực tiễn
toàn dân ta đang tích cực tham gia cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Nó sẽ là nguồn lực tinh thần to lớn
để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
19
Giáo dục học sinh cá biệt là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó giáo
dục ở nhà trường có vai trò định hướng. Đó là sứ mệnh lịch sử, là vinh dự và
trách nhiệm mà xã hội giao cho nhà trường và mỗi chúng ta nói riêng, ngành
giáo dục và đào tạo nói chung.
3.2. Kiến nghị
Để áp dụng sáng kiến kinh nghiệm của tôi có hiệu quả tôi xin có một vài
ý kiến đề xuất như sau:
* Thứ nhất, đối với sở GD&ĐT Thanh Hóa
-Cần quan tâm nhiều hơn đến công tác chủ nhiệm của giáo viên ở trường THPT.
- Nên tổ chức nhiều chuyên đề cấp tỉnh về nâng cao chất lượng giáo dục học sinh
nói chung và học sinh cá biệt nói riêng.
*Thứ hai, về phía nhà trường
- Dân chủ khi phân công giáo viên chủ nhiệm đứng lớp, để mỗi giáo viên thấy
được tính khích lệ, công bằng.
- Đẩy mạnh và đổi mới các hoạt động tập thể, xây dựng môi trường thân thiện,
xây dựng và bổ sung cơ sở vật chất phục vụ học sinh học tập tốt hơn.
- Xây dựng chuyên đề về giáo dục học sinh cá biệt trong nhà trường.
- Tổ chức đa dạng các hoạt động ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt dưới cờ..
- Tăng cường đưa giáo dục pháp luật, giáo dục giới tính, giáo dục sức khỏe vị
thành niên, giáo dục kĩ năng sống vào nhà trường.
- Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên kiểm tra, đôn đốc bằng việc kiểm tra
đột xuất công tác chủ nhiệm ở các tập thể lớp.
* Thứ ba, về phía giáo viên chủ nhiệm
- Cần thực hiện hết chức năng, vai trò và nhiệm vụ của mình.