BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỘ Y TẾ
CHU THỊ PHÚC
ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC BỆNH SỞI TẠI HÀ NỘI
NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành : Y học dự phòng
Mã số
: 8720163
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Hoàng Đức Hạnh
TS. Hoàng Thị Hải Vân
HÀ NỘI - 2019
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cảm ơn
chân thành tới: TS. Hoàng Thị Hải Vân – Phó trưởng bộ môn Dịch tễ học
Trường Đại học Y Hà Nội người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và
tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp em hoàn thành khóa luận này. Sự tận tâm và
kiến thức của cô là tấm gương sáng cho em noi theo trong suốt quá trình học
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................2
LỜI CAM ĐOAN....................................................................................................3
MỤC LỤC................................................................................................................ 4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT...............................................................................5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ...........................................................................................6
ĐẶT VẤN ĐỀ...........................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.....................................................................3
2.3.1.Thiết kế nghiên cứu:......................................................................24
2.7.Sai số và biện pháp khắc phục............................................................28
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................................29
4.2.1. Một số yếu tố liên quan với mắc sởi ở nhóm tuổi từ 9 tháng trở
lên tại Hà Nội năm 2018................................................................60
4.2.2. Một số yếu tố liên quan với mắc sởi ở trẻ < 9 tháng tại Hà Nội
năm 2018........................................................................................65
KẾT LUẬN............................................................................................................68
KIẾN NGHỊ...........................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................71
PHỤ LỤC...............................................................................................................71
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
95% CI
: 95% Confidence Interval (Khoảng tin cậy 95%)
: World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Bản đồ phân bố bệnh nhân sởi năm 2018 trên thế giới .................12
Bảng 1.1: Bảng các nước có tỷ lệ mắc/100.000 dân cao nhất năm 2018 ...........12
Bảng1.2: Bảng các 10 nước có số mắc sởi cao nhất năm 2018 ...........................12
Biểu đồ 1.2: Tình hình bệnh sởi tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2018.................16
Biểu đồ 1.3: Tình hình bệnh sởi tại Hà Nội từ năm 2000 – 2017........................16
Sởi là bệnh truyền nhiễm lưu hành, hầu như năm nào cũng ghi nhận các
trường hợp bệnh tản phát và có năm bùng lên gia tăng thành dịch có tính chu
kỳ. Từ năm 2000 trở lại đây, ghi nhận 03 đợt dịch: năm 2000 dịch nhỏ (149
trường hợp), 2009 dịch vừa (837 trường hợp) và năm 2014 dịch lớn nhất (1.741
trường hợp, 14 tử vong). Trong đó, đặc điểm vụ dịch sởi năm 2014 là: diễn ra
trên diện rộng: 100% quận, huyện với trên 90% xã, phường, thị trấn. Lứa tuổi
mắc bệnh chủ yếu là trẻ dưới 5 tuổi (57%). Đối tượng mắc bệnh chủ yếu do
chưa tiêm chủng và chưa tiêm đủ 2 mũi vắc xin sởi (74,4%) , ..........................16
Bảng 2.1: Bảng biến số, chỉ số...............................................................................24
Bảng 3.1. Phân loại đối tượng nghiên cứu theo tuổi, giới, nơi sống (n=881).....29
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ phân loại ca sốt phát ban nghi mắc sởi (n=881)................30
Bảng 3.2. Bảng phân bố các ca mắc sởi xác định và tỷ suất mắc sởi/100.000 dân
theo địa dư (n=571)................................................................................................31
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân sởi xác định tại Hà Nội năm 2018 (n=571).. . .33
Biểu đồ 3.3. Phân bố các ca sởi xác định tại Hà Nội năm 2018 theo tuần mắc
(n=571)....................................................................................................................34
Bảng 3.3. Số ca sởi xác định theo tháng và hệ số mùa dịch theo tháng năm 2018
(n=571).................................................................................................................... 35
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ mắc sởi tại Hà Nội năm 2018 theo giới tính (n=571).............36
Bảng 3.4. Tỷ suất mắc/100.000 dân theo giới tại Hà Nội năm 2018 (n=571).....36
Bảng 3.5. Tỷ suất mắc sởi/100.000 dân theo nhóm tuổi tại Hà Nội năm 2018
trẻ dưới 9 tháng tuổi trở lên vào mô hình hồi quy tuyến tính có điều kiện sử
dụng phương pháp stepwise (p=0,2). Kết quả ở nhóm trẻ dưới 9 tháng tuổi chỉ
có một yếu tố có liên quan thực sự với mắc sởi là tiền sử tiếp xúc với bệnh nhân
SPB nghi sởi trong bệnh viện (OR hiệu chỉnh: 28,4; 95%CI: 3,8 - 214,1). Còn
lại các yếu tố khác đều chưa thấy rõ mối liên quan với mắc sởi........................49
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, do vi rút sởi gây nên, sau khi
mắc bệnh sẽ để lại miễn dịch lâu dài. Trên lâm sàng bệnh có biểu hiện sốt, nổi
ban đặc trưng và kèm theo viêm long đường hô hấp, rối loạn tiêu hoá, viêm
kết mạc mắt . Bệnh có khả năng lây lan rất nhanh thành dịch theo đường hô
hấp và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ nhỏ do
làm suy giảm miễn dịch, gây biến chứng nặng như viêm phổi, viêm não,
màng não đặc biệt ở những đối tượng chưa được tiêm phòng hoặc tiêm phòng
không đầy đủ ,.
Vi rút sởi lưu hành chỉ có một týp kháng nguyên duy nhất, sau khi mắc
bệnh người bệnh sẽ có miễn dịch bền vững suốt đời. Nhờ vậy vắc xin sởi là
một thành công lớn góp phần kiểm soát và giảm gánh nặng tử vong, bệnh tật
do sởi gây ra trên toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), trước khi
có vắc xin dự phòng, hơn 90% trẻ dưới 10 tuổi mắc bệnh sởi. Ước tính mỗi
năm thế giới có khoảng 30 triệu ca mắc sởi và 2,6 triệu người tử vong. Từ sau
những năm 1960, nhờ việc đưa vắc xin sởi vào chương trình tiêm chủng mở
rộng (TCMR), số trường hợp mắc và tử vong do sởi đã giảm đáng kể . Tuy
nhiên, đến thời điểm điểm hiện tại các vụ dịch sởi vẫn xảy ra với diễn biến
phức tạp kể cả những nước phát triển và có tỷ lệ bao phủ vắc xin sởi cao.
Năm 2012 có 15 quốc gia xảy ra dịch lớn, cùng thời điểm đó, Tổ chức Y tế
Thế giới đã đưa ra Kế hoạch Chiến lược Toàn cầu về phòng chống sởi để tiến
3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan chung về bệnh sởi
1.1.1. Đặc điểm bệnh sởi
1.1.1.1. Khái niệm
Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm đường hô hấp cấp tính, do vi rút sởi gây
ra. Bệnh lây lan nhanh và dễ gây thành dịch, chủ yếu gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi,
hay xảy ra vào mùa đông xuân, có thể xuất hiện ở người lớn do chưa được
tiêm phòng hoặc đã tiêm phòng nhưng chưa được tiêm đầy đủ .
Bệnh có biểu hiện đặc trưng là sốt, viêm long đường hô hấp, viêm kết
mạc mắt và phát ban, có thể xuất hiện các hạt koplick ở niêm mạc miệng.
Bệnh có thể dẫn đến nhiều biến chứng như viêm phổi, viêm não, viêm tai
giữa, viêm loét giác mạc, tiêu chảy,... có thể gây tử vong.
1.1.1.2. Tác nhân gây bệnh
Vi rút sởi thuộc loài Morbillivirus họ Paramyxoviridae có cấu trúc hình
cầu với đường kính 120-250 nm. Vỏ bao bên ngoài bản chất là protein gồm 2
loại glycoprotein, nhân là chuỗi xoắn ARN và 3 protein.
Kháng nguyên bề mặt quan trọng trong cơ chế bệnh sinh là protein H
(Hemagglutinin) và protein F (Fusion) . Vi rút chỉ có một týp huyết thanh duy
nhất và bền vững. Nhờ vậy, hiệu quả của vắc xin trong phòng bệnh cao, miễn
dịch quần thể có thể đạt trên 99% nếu được tiêm đủ hai liều vắc xin.
Vi rút sởi là một vi rút có sức chịu đựng kém, nhạy cảm với các chất
tẩy rửa hoặc các chất hòa tan lipit như aceton, ether hoặc pH axit, nó có thể
tồn tại một thời gian ngắn (ít hơn 2 giờ) ở không khí, vật thể hoặc các bề mặt .
Chúng bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56°c trong 30 phút, ở 37°c thời gian bán hủy là
2h, ở 4°C chúng có thể tồn tại đến 2 tuần. Tính không bền vững nhiệt được
cho là do ảnh hưởng nhiệt lên các cấu trúc bên trong của vi rút sởi.
5
sinh ra từ người mẹ đã được gây miễn dịch bằng vắc xin sởi thì trẻ đó cũng có
kháng thể thụ động của mẹ truyền cho, nhưng chỉ ở mức độ thấp và vẫn còn
cảm nhiễm với bệnh sởi. Vì vậy, những trẻ này cần được gây miễn dịch sớm
hơn.
1.1.2.4. Tính chất chu kì của bệnh sởi
Trước khi có chương trình tiêm chủng vắc xin sởi, cứ mỗi năm trung
bình có 1 vụ dịch nhỏ và 2 đến 3 năm có 1 vụ dịch lớn. Sau khi có chương
trình tiêm chủng, cứ khoảng 3 đến 4 năm số lượng ca bệnh lại tăng cao hơn
hẳn tương ứng với một vụ dịch và tiếp sau đó lại giảm [14]. Khoảng thời gian
giữa các vụ dịch là thời gian cần thiết để tích lũy một số lượng đủ lớn những
trẻ không có miễn dịch.
1.1.3. Đặc điểm lâm sàng
1.1.3.1. Triệu chứng lâm sàng
- Thời kỳ ủ bệnh: Thông thường từ 8 – 11 ngày, ở trẻ sơ sinh có thể kéo
dài 14 -15 ngày.
- Thời kỳ khởi phát: gọi là thời kỳ viêm long. Đây là thời kỳ lây lan
nhiều nhất, kéo dài 3 - 5 ngày. Thời kỳ này có sốt nhẹ sau đó tăng dần thân
nhiệt kèm mệt mỏi, uể oải, nhức đầu đau khớp và viêm long: gây chảy nước
mắt và sưng phù mi mắt, hắt hơi, sổ mũi, khàn giọng và tiêu chảy.
- Thời kì toàn phát: Còn gọi là thời kỳ phát ban, thường vào ngày 4- 6
của bệnh. Nốt ban màu đỏ rất đặc trưng. Đầu tiên ban mọc ở sau tai, lan dần
ra mặt, cổ, ngực, bụng và 2 tay, 1 ngày sau ban lan dần ra sau lưng, hông và 2
chân. Ban màu hồng nhạt, ấn vào biến mất, có khuynh hướng kết dính lại
nhưng xen kẽ có những khoảng da lành. Khi bắt đầu phát ban thì nhiệt độ tăng
đột ngột nhưng khi ban đã mọc đến chân thì nhiệt độ bắt đầu giảm. Ban tồn
tại đến ngày thứ sáu kể từ ngày bắt đầu phát ban. Sau khi đã phát ban 2 - 3
theo thứ tự.
- Phát ban do các vi rút khác.
- Ban dị ứng: kèm theo ngứa, tăng bạch cầu ái toan.
1.1.2.4. Biến chứng
- Biến chứng đường hô hấp: viêm tai giữa, viêm thanh quản, viêm phế
quản phổi, viêm phổi tiên phát do vi rút sởi hoặc bội nhiễm vi khuẩn thứ phát.
7
- Biến chứng thần kinh: viêm não hoặc viêm màng não- não và tủy. Viêm
não gặp ở khoảng 1/1000 trẻ mắc sởi, đây là biến chứng nặng nhất có thể dẫn
tới co giật, điếc và tử vong.
- Biến chứng đường tiêu hóa: viêm miệng, viêm dạ dày ruột gây tiêu
chảy kéo dài.
- Biến chứng hiếm gặp: viêm cơ tim, viêm đài bể thận, xuất huyết giảm
tiểu cầu, lao tiến triển…
1.1.3.4. Nguyên tắc điều trị:
Chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, bệnh nhân tự hồi phục là chính. Cần vệ
sinh răng, miệng, da, mắt, dinh dưỡng tốt, bổ sung vitamin A, vitamin C và
nước để tăng cường thể lực, tránh xảy ra các biến chứng. Chỉ định IVIG
(Intravenous Immunoglobulin) khi có tình trạng nhiễm trùng nặng hoặc tình
trạng suy hô hấp tiến triển nhanh, viêm não .
1.1.4. Biện pháp dự phòng và chống dịch
1.1.4.1. Định nghĩa trường hợp bệnh tản phát, ổ dịch
- Trường hợp bệnh tản phát là trường hợp bệnh sởi đơn lẻ không phát
hiện liên quan về dịch tễ (đường lây, nguồn lây) với các trường hợp khác.
- Ổ dịch sởi xuất hiện khi có từ 3 trường hợp sởi chẩn đoán xác định trở
lên tại một huyện trong vòng 1 tháng, các trường hợp này có liên quan dịch tễ
hoặc vi rút học (thời gian giữa ngày phát ban của hai trường hợp từ 7 - 21
lên hoặc có dấu hiệu biến chứng phải điều trị và cách ly tại các cơ sở y tế.
Trong thời gian cách ly, bệnh nhân phải đeo khẩu trang y tế.
Đối với cộng đồng:
- Tuyên truyền tới từng hộ gia đình về bệnh sởi: cách nhận biết và các
biện pháp dự phòng.
- Tăng cường vệ sinh cá nhân: đảm bảo vệ sinh cá nhân hàng ngày, rửa
tay thường xuyên bằng xà phòng, tránh tối đa việc chùi tay lên mắt, mũi,
miệng. Thường xuyên vệ sinh đường mũi, họng, mắt hàng ngày bằng các
dung dịch sát khuẩn thông thường đặc biệt là những người tiếp xúc gần với
bệnh nhân (người sống cùng nhà, nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc, điều trị).
9
- Hạn chế tiếp xúc với người bệnh: Hạn chế tiếp xúc với người
mắc/nghi mắc bệnh, khi phải tiếp xúc với người bệnh phải đeo khẩu trang y tế
và các trang bị phòng hộ cá nhân. Hạn chế tập trung đông người, hội họp, đặc
biệt tại những phòng chật hẹp, ít thông khí ở khu vực ổ dịch. Không cho trẻ
em dùng chung vật dụng cá nhân (khăn mặt, bàn chải, cốc, chén, bát, đũa…),
đồ chơi hoặc đồ vật dễ bị ô nhiễm chất tiết mũi họng.
- Khử trùng và vệ sinh thông khí: Thường xuyên mở cửa sổ, cửa chính
để đảm bảo thông khí thoáng cho nhà ở, phòng học, nơi làm việc, phòng điều
trị hàng ngày. Thường xuyên làm sạch đồ chơi, đồ vật bị nghi ngờ ô nhiễm
dịch tiết mũi họng của bệnh nhân bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông
thường. Lau sàn nhà, cửa, mặt bàn, ghế, khu vệ sinh chung và bề mặt của đồ
vật nghi ngờ bị ô nhiễm dịch tiết mũi họng của bệnh nhân bằng các chất tẩy
rửa thông thường từ 1 – 2 lần/ngày.
- Thông báo cho cơ sở y tế khi có biểu hiện mắc bệnh để được khám,
điều trị và hướng dẫn cách ly y tế kịp thời.
1.2. Tình hình dịch tễ học dịch sởi trên thế giới và tại Việt Nam
ca, tất cả các trường hợp này đều chưa được tiêm phòng vắc xin sởi và liên
quan đến sự di cư của người nước ngoài vào Mỹ .
Khu vực châu Phi: Trước khi có vắc xin sởi, châu Phi là một khu vực có
tỷ lệ mắc và tử vong do sởi cao nhất. Nhờ thực hiện các chiến lược kiểm soát,
độ bao phủ của vắc xin khu vực tăng từ 54% năm 2001 lên đến 73% năm
2008 . Từ năm 2000 đến 2006, số ca tử vong do sởi ở châu Phi giảm 91%, từ
mức ước tính từ 396.000 xuống 36.000. Những thành tựu ngoạn mục đạt được
ở châu Phi đã giúp giảm mạnh tỷ lệ tử vong do bệnh sởi toàn cầu, giảm 68%
trên toàn thế giới từ mức ước tính 757.000 xuống 242.000 trong giai đoạn này .
Tuy nhiên giai đoạn 2007 - 2010, ước tính toàn cầu về tỷ lệ tử vong do bệnh sởi
không giảm thêm và bùng phát mạnh ở Nam Phi trong năm 2009 – 2010 . Năm
2011, TCYTTG đã đặt mục tiêu loại trừ sởi tại châu Phi vào năm 2020, đến
năm 2013 xác nhận tỷ lệ mắc sởi ở châu Phi đã giảm xuống còn 27,9/1.000.000
dân và duy trì trong suốt giai đoạn 2013-2016 .
Tại châu Âu, dịch sởi đang bùng phát tại Ucraina, trong 2 tuần đầu năm
2018 đã ghi nhận ít nhất 1.285 trường hợp mắc sởi (67% là trẻ em) và 5
11
trường hợp tử vong trong đó có 3 trường hợp là trẻ em. Ucraina là nước có tỷ
lệ tiêm phòng vắc xin sởi thấp nhất trong các nước khu vực châu Âu. Tại Anh,
đầu năm 2018 cũng đã ghi nhận sự gia tăng bệnh sởi tại 5 khu vực với 100
trường hợp mắc sởi. Dịch sởi tại Anh xảy ra trong bối cảnh nhiều quốc gia tại
châu Âu cũng đã ghi nhận sự gia tăng của sởi trong năm 2017, trong đó
Romania (8.274 trường hợp), Italy (4.885 trường hợp), Đức (919 trường hợp),
Hy Lạp (968 trường hợp),... Hầu hết các trường hợp mắc đều chưa được tiêm
vắc xin phòng sởi . Theo thống kê của WHO năm 2016, có 20/27 quốc gia tại
châu Âu có tỷ lệ tiêm phòng sởi mũi thứ 2 dưới 95%, trong khi đó theo yêu
cầu của khu vực tỷ lệ này phải trên 99% .
Quốc gia
Số ca mắc sởi
Sê-bi-a
5.076
Gru-gia
2.203
A-ba-nia
1.466
Li-bê-ria
1.902
I-xa-ren
2.919
Mông –ten-gô
203
Tỷ lệ (/100.000)
575,50
561,22
500,97
412,24
356,33
322,93
Bảng1.2: Bảng các 10 nước có số mắc sởi cao nhất năm 2018 .
STT
1
2
3
4
1.2.2. Tình hình dịch tễ học dịch sởi ở Việt Nam
Tỷ lệ (/100.000)
49,07
1197,56
171,96
200,88
457,40
484,12
49,42
36,75
178,76
69,78
13
Tình hình dịch sởi ở Việt Nam trước khi có vắc xin triển khai trong
chương trình TCMR cũng tương tự các nước trên thế giới. Bệnh sởi lưu hành
địa phương có mặt ở khắp nơi trên cả nước. Độ tuổi mắc bệnh thấp, chủ yếu
là trẻ dưới 5 tuổi, bệnh xuất hiện quanh năm nhưng thường xảy ra dịch và
phát triển nhiều vào mùa Đông –Xuân.
Bình quân giai đoạn 1976-1984 số mắc sởi hàng năm là 82.364 ca, số
trường hợp tử vong do sởi hàng năm là 332 ca. Ở miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ
mắc bệnh/100.000 dân thấp nhất là 65 vào năm 1981, tỷ lệ mắc cao nhất là
137,7 vào năm 1979 và tỷ lệ 125,7 vào năm 1983, đây là hai đỉnh của một chu
kì dịch sởi cách nhau khoảng 4-5 năm .
Chương trình TCMR do Bộ Y tế khởi xướng với sự hỗ trợ của WHO
(Tổ chức Y tế Thế giới) và Qũy Nhi đồng Liên hợp quốc chính thức triển khai
thời triển khai chiến dịch toàn quốc tiêm vắc xin sởi bổ sung cho trên 7 triệu
trẻ từ 1-5 tuổi, đạt 96,5% vào năm 2010. Trước tình hình diễn biến phức tạp
của dịch sởi, cột mốc thời gian loại trừ sởi vào năm 2012 của Tổ chức Y tế
khu vực Tây Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam đã được dịch chuyển
sang năm 2017 ,.
Giai đoạn 2013 - 2014, bệnh dịch sởi ở Việt Nam đã lan truyền nhanh
và xảy ra trên diện rộng với 17.000 trường hợp mắc sởi trên toàn quốc, tỷ lệ
mắc sởi trung bình hàng năm trong giai đoạn này là 9,35/100.000 dân. Tính từ
tháng 01/2013 đến hết tháng 04/2014, đã có 1.975 trường hợp chẩn đoán xác
định trong số 4.110 trường hợp sốt phát ban nghi sởi ở 28 tỉnh thành miền
mắc Việt Nam . Nếu năm 2013, dịch tập trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc,
vụ dịch đầu tiên tại 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu xảy ra phần lớn ở những xã
vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận; hầu hết các ca mắc không được tiêm chủng
hoặc chỉ được tiêm 1 liều vắc xin hoặc không rõ tiền sử tiêm vắc xin sởi
(80,4%) . Thì tới 2014, dịch đã tăng lên ở những thành phố lớn, đông dân cư.
Nhóm dưới 1 tuổi là nhóm có tỷ lệ mắc cao nhất, nhóm không tiêm chủng
chiếm số trường hợp mắc cao 16,9 lần so với nhóm tiêm chủng đủ hai mũi .
15
Trước tình hình đó, năm 2014-2015 Việt Nam đã tiến hành chiến dịch
tiêm chủng vắc xin sởi bổ sung cho nhóm đối tượng từ 1-14 tuổi; đến ngày
15/12/2014, đã có trên 12 triệu trẻ 1-14 tuổi được tiêm vắc xin sởi. Tiếp đó,
năm 2016 hơn 19 triệu đối tượng trong nhóm 16-17 được tiêm chủng theo
chiến dịch. Đây là một nỗ lực lớn của Việt Nam nhằm tiến tới mục tiêu loại
trừ bệnh sởi vào năm 2017 cùng các nước trong khu vực . Qua đánh giá kết
quả chiến dịch tiêm vắc xin Sởi – Rubella năm 2014-2015 tại Hà Nội của
Hoàng Đức Hạnh và cộng sự cho thấy tỷ lệ tiêm trong chiến dịch đạt 96,9%
trên toàn thành phố, tuy nhiên tỷ lệ tiêm và tỷ lệ quản lý được trẻ ở khu vực
trường hợp, 14 tử vong). Trong đó, đặc điểm vụ dịch sởi năm 2014 là: diễn ra
17
trên diện rộng: 100% quận, huyện với trên 90% xã, phường, thị trấn. Lứa tuổi
mắc bệnh chủ yếu là trẻ dưới 5 tuổi (57%). Đối tượng mắc bệnh chủ yếu do
chưa tiêm chủng và chưa tiêm đủ 2 mũi vắc xin sởi (74,4%) , .
1.3. Một số nghiên cứu về dịch sởi và yếu tố liên quan
Mặc dù đã có vắc xin trong công cuộc kiểm soát và loại trừ sởi, tuy
nhiên các vụ dịch trên toàn cầu vẫn xảy ra. Gánh nặng bệnh tật và tử vong do
sởi ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội là vô cùng lớn. Các nghiên cứu
về dịch tễ học và tác động của tiêm chủng vắc xin sởi được tiến hành khá phổ
biến, các nghiên cứu góp phần tìm ra các chiến lược can thiệp chính xác và
hiệu quả để tiến tới thanh toán và loại trừ sởi.
Các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra được nguyên nhân bùng phát dịch
sởi là do không tiêm chủng hoặc tiêm chủng không đầy đủ. Tại Ấn Độ,
nghiên cứu của Raoot.A và cộng sự năm 2014 về bùng phát bệnh sởi tại khu
vực nguy cơ cao ở Delhi chỉ ra rằng: Có mối quan hệ đáng kể giữa tuổi của
trường hợp mắc sởi và tình trạng tiêm chủng; tỷ lệ mắc cao hơn các nhóm tuổi
trên 5 tuổi và dưới 9 tháng tuổi; sự bùng phát dịch sởi chủ yếu là cục bộ tại
các khu vực có nguy cơ cao là các khu ổ chuột đô thị của thành phố . Trong
nghiên cứu của Ben-Chetrit E1 trên 161 bệnh nhân nhập viện trong vụ dịch
sởi năm 2018 ở Israel đã ảnh hưởng đến >2000 bệnh nhân ở Jerusalem cho
thấy: 86 ca (53,4%) là
chưa nhắc mũi 2 lúc 18 tháng tuổi; bệnh chủ yếu ở trẻ em