ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
---oOo---
VŨ THỊ DUYÊN
NHẬN THỨC VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
---oOo---
VŨ THỊ DUYÊN
NHẬN THỨC VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀVỊ THÀNH NIÊN
Mã số: THÍ ĐIỂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn: TS. TRẦN VĂN TÍNH
Hà Nội – 2017
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.......................................................................... v
DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH VIỆT ..................................................... vi
DANH MỤC BẢNG ...................................................................................... vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ................................................................................ viii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC RỐI LOẠN TRẦM
CẢM ................................................................................................................. 5
1.1. Nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần và rối loạn trầm cảm .................... 5
1.1.1. Nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần trong và ngoài nước................. 5
1.1.2. Tổng quan nghiên cứu nhận thức về rối loạn trầm cảm trong và
ngoài nước ...................................................................................................... 10
1.2. Những vấn đề lý luận về nhận thức ......................................................... 14
1.2.1. Khái niệm về nhận thức ........................................................................ 14
1.2.2. Các mức độ của nhận thức .................................................................... 16
1.2.3. Mối liên hệ giữa nhận thức và các hiện tượng tâm lý khác .................. 19
1.3. Những vấn đề lý luận về rối loạn trầm cảm ............................................. 20
1.3.1. Khái niệm về rối loạn trầm cảm ............................................................ 20
1.3.2. Các yếu tố nhân khẩu và dịch tễ học..................................................... 22
1.3.3. Biểu hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm ............................................ 23
1.3.4. Nguyên nhân dẫn đến trầm cảm............................................................ 25
1.3.5. Hậu quả của rối loạn trầm cảm ............................................................. 27
1.3.6. Một số liệu pháp điều trị rối loạn trầm cảm .......................................... 29
1.4. Nhận thức của học sinh trung học phổ thông về rối loạn trầm cảm ........ 34
ii
1.5. Các yếu tố nguy cơ và một số phương pháp phòng chống trầm cảm ở học
sinh trung học phổ thông ................................................................................. 35
1.6. Một số đặc điểm tâm – sinh lý ở học sinh trung học phổ thông .............. 38
loạn trầm cảm .................................................................................................. 66
3.1.7. Nguồn thông tin học sinh sử dụng để nâng cao hiểu biết về rối loạn
trầm cảm ......................................................................................................... 68
3.1.8. Những yếu tố khiến học sinh thiếu hiểu biết đầy đủ về rối loạn
trầm cảm ......................................................................................................... 69
3.1.9. Ý kiến đề xuất của học sinh giúp bản thân phòng chống rối loạn trầm cảm ... 75
3.2. So sánh nhận thức của học sinh về rối loạn trầm cảm. ........................... 80
3.3. Kết quả phỏng vấn nghiên cứu................................................................. 81
3.4. Bàn luận về kết quả nghiên cứu ............................................................... 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 89
1. Kết luận ...................................................................................................... 89
2. Khuyến nghị ................................................................................................ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................94
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TÊN VIẾT TẮT
TÊN ĐẦY ĐỦ
CTB
Chuyên Thái Bình
ĐLC
Độ lệch chuẩn
Vị thành niên
v
DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH VIỆT
TIẾNG ANH
DSM:
Diagnostic
and
TIẾNG VIỆT
Statistical Sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối
Mannual of Mental Disorders
loạn tâm thần
Điều chỉnh cuộc sống cho người khuyết
DALYs: Disability adjusted life year
tật
ECT: Electro Convulsive Therapy
ICD:
International
Bảng 3.1. So sánh nhận thức của HS về triệu chứng trầm cảm. ..................... 53
Bảng 3.2. Nhận thức của HS về các yếu tố gây nên rối loạn trầm cảm. ......... 56
Bảng 3.3. So sánh nhận thức của HS về các yếu tố nguy cơ gây nên RLTC ............... 58
Bảng 3.4. Mức độ hiểu biết của HS về hậu quả của RLTC ............................ 59
Bảng 3.5. So sánh mức độ hiểu biết của HS về hậu quả của RLTC giữa các biến ... 61
Bảng 3.6. Mức độ hiểu biết của HS về các biện pháp ngăn ngừa nguy cơ RLTC.... 62
Bảng 3.7. So sánh nhận thức về các biện pháp ngăn ngừa nguy cơ rối loạn
trầm cảm giữa các biến.................................................................................... 65
Bảng 3.8. Nhận thức của HS về người trợ giúp RLTC................................... 66
Bảng 3.9. Nguồn thông tin HS sử dụng để nâng cao hiểu biết về RLTC ....... 68
Bảng 3.10. Yếu tố khiến học sinh thiếu hiểu biết đầy đủ về RLTC ............... 69
Bảng 3.11. Tương quan mức độ ảnh hưởng giữa các yếu tố khiến học sinh
thiếu hiểu biết về rối loạn trầm cảm ................................................................ 74
Bảng 3.12. Hồi quy dự đoán về nhận thức của học sinh ................................ 74
Bảng 3.13. So sánh nhận thức của HS theo các biến trường, lớp, và giới...... 80
vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Nhận thức của học sinh THPT về các triệu chứng trầm cảm .........................51
Biểu đồ 3.2. Nhận thức về hướng điều trị RLTC của HS THPT ..............................54
Biểu đồ 3.3. Tần số học sinh đưa ra ý kiến đề xuất bản thân phòng chống rối loạn
trầm cảm theo ý kiến 1. .............................................................................................75
Biểu đồ 3.4. Tần số học sinh đưa ra ý kiến đề xuất bản thân phòng chống rối loạn
trầm cảm theo ý kiến 2 ..............................................................................................76
Biểu đồ 3.5. Tần số học sinh đưa ra ý kiến đề xuất bản thân phòng chống rối loạn
trầm cảm theo ý kiến 3 ..............................................................................................78
viii
cảm, về các nguồn thông tin,… thì chưa thấy có nhiều đề tài nghiên cứu
1
[71],[20],[48]. Đặc điểm nữa là các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chỉ áp dụng
những chính sách, giáo dục phù hợp với điều kiện kinh tế, phong tục, tập quán và
văn hóa ở nước họ chứ chưa thể mang những chính sách đó áp dụng cho Việt Nam.
Do đó, thực hiện các công trình nghiên cứu ở Việt Nam để có những chính sách hỗ
trợ phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa,….là điều rất cần thiết. Ngoài ra, ở Việt
Nam cũng đã quan tâm đến vấn đề trầm cảm được thể hiện qua một số công trình
nghiên cứu. Tuy nhiên, đại đa số là nghiên cứu về mức độ, tỉ lệ trầm cảm ở các đối
tượng, còn vấn đề nhận thức về rối loạn trầm cảm thì có rất ít đề tài nghiên cứu. Mà
có nghiên cứu, thì mới tập trung nghiên cứu ở các vùng trực thuộc thành phố, thủ
đô, và đối tượng nhắm tới chủ yếu là sinh viên, người đi làm, người già, còn đối
tượng học sinh THPT và các vùng lân cận xa thành phố, vùng quê thì có rất ít đề tài
chọn đối tượng ở các địa bàn này.
Như đã nói ở trên, trầm cảm ở trẻ VTN ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
chức năng cuộc sống. Tuy nhiên, vấn đề này không phải ai cũng nhận thức một
cách đúng đắn và hiểu biết rõ cũng như áp dụng vào cuộc sống tốt.Nếu nhận thức
sai lầm, không đúng đắn về rối loạn trầm cảm có thể dẫn đến hậu quả tồi tệ. Học
sinh THPT có dấu hiệu trầm cảm nhưng không có hiểu biếthoặc có hiểu biết nhưng
vẫn còn mơ hồ, không rõ ràng về các biện pháp can thiệp mà e ngại, thờ ơ, hoặc tự
mình giải quyết hay cố tình lảng tránh đều dẫn đến hậu quả nghiêm trọng và có thể
dẫn tới tự tử do chính hành vi của mình gây ra. Nếu rối loạn trầm cảm mà không
được phát hiện kịp thời thì sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường, có thể là gánh nặng cho
gia đình và xã hội. Do đó nghiên cứu về nhận thức của VTN về rối loạn trầm cảm là
rất cần thiết giúp định hướng giáo dục, y tế, các chính sách xã hội cho các em có
một cuộc sống cân bằng trong các hoạt động sinh hoạt cá nhân, vui chơi và học tập.
Tóm lại (1) từ thực trạng tỉ lệ mắc trầm cảm trong xã hội và gánh nặng do
trầm cảm gây ra; (2) từ xu hướng và kết hợp các nghiên cứu đi trước về hiểu biết
Tiến hành nghiên cứu 560 học sinh thuộc hai trường: trường THPT Thái Ninh
thuộc huyện Thái Thụy, trường THPT Chuyên Thái Bình trực thuộc Thành phố
Thái Bình.
-
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11/2016 đến tháng 11/2017.
5. Giả thuyết cho đề tài nghiên cứu
Giả thuyết 1: Nhận thức của học sinh về rối loạn trầm cảm còn hạn chế.
Giả thuyết 2: Có sự khác biệt trong nhận thức về rối loạn trầm cảm của học sinh
THPT xét theo khối lớp, giới tính, trường học.
3
Giả thuyết 3: Có những yếu tố chủ quan và khách quan dẫn đến học sinh thiếu hiểu
biết về rối loạn trầm cảm hoặc nhận thức chưa đúng về vấn đề này.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Nghiên cứu cơ sở lý luận về trầm cảm và nhận thức của học sinh về rối loạn
trầm cảm ở trong và ngoài nước
-
Nghiên cứu thực trạng nhận thức của học sinh về rối loạn trầm cảm. Các thực
trạng nhận thức của học sinh được thể hiện ở các chiều cạnh sau: nhận thức về
các biểu hiện, cách điều trị, nguyên nhân, hậu quả của rối loạn trầm cảm, các
yếu tố nguy cơ và phòng ngừa, các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, các cách
can thiệp của rối loạn trầm cảm và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hiểu biết
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC RỐI LOẠN TRẦM CẢM
1.1. Nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần và rối loạn trầm cảm
1.1.1. Nghiên cứu về nhận thức sức khỏe tâm thần trong và ngoài nước
1.1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Hiểu biết về những kiến thức sức khỏe tâm thần là một điều quan trọng cho
bản thân mỗi người và cộng đồng toàn thế giới [58],[90]. Bằng chứng cho thấy kiến
thức về sức khỏe tâm thần chính là cải thiện các rối loạn, nhận thức tốt hơn về cách
thức tìm kiếm sự giúp đỡ và điều trị, giảm sự kỳ thị đối với những người bị mắc
bệnh tâm thần, thúc đẩy sớm việc nhận diện ra các rối loạn tâm thần ở bản thân và
cải thiện sức khỏe tâm thần bằng cách sử dụng các dịch vụ y tế [94],[45]. Hiểu biết
về sức khỏe tâm thần trên 4 lĩnh vực: (1) làm thế nào để hiểu về rối loạn tâm thần và
duy trì sức khỏe tốt; (2) hiểu được các triệu chứng của rối loạn tâm thần và cách
điều trị chúng; (3) giảm sự kỳ thị đối với những người mắc bệnh tâm thần và (4)
tăng cường hiệu quả tìm kiếm sự trợ giúp [64],[108].
Trên thế giới, các nghiên cứu liên quan đến nhận thức và hiểu biết của cộng
đồng về sức khỏe tâm thần ngày càng được quan tâm nhiều hơn từ khoảng những
năm 1950. Đến năm 1997, tác giả Jorm giới thiệu về ―hiểu biết sức khỏe tâm thần‖
và đã xác định nó như là ―kiến thức và niềm tin về rối loạn tâm thần mà được xác
định, hỗ trợ và kiểm soát cũng như phòng ngừa‖. Hiểu biết về sức khỏe tâm thần
bao gồm các thành phần khác nhau như: (a) khả năng nhận ra các rối loạn cụ thể
hoặc các loại bệnh tâm lý khác nhau; (b) những kiến thức về các yếu tố có nguy cơ
và nguyên nhân; (c) kiến thức về sự can thiệp của chính bản thân; (d) kiến thức về
sự giúp đỡ chuyên nghiệp; (e) thái độ với loại hình giúp đỡ và (f) kiến thức về việc
tìm kiếm thông tin về sức khỏe tâm thần. Nhiều thành viên của công chúng không
thể nhận biết đúng rối loạn tâm thần và không hiểu ý nghĩa của thuật ngữ tâm thần.
Ví dụ: Theo một kết quả nghiên cứu tại Úc người bị trầm cảm nặng hoặc tâm thần
phân liệt có một số dấu hiệu về sức khỏe tâm thần trong đó hiểu biết về những dấu
5
cách để ứng phó với trầm cảm, giải tỏa được những cảm xúc buồn chán mỗi khi có
sự khó khăn trong cuộc sống. Nam giới cũng cho rằng thuốc kháng sinh có ích
trong việc hỗ trợ điều trị trầm cảm [104]. Deribew và Tamirat (2005) cũng phát hiện
trong một nghiên cứu tại Ethiopia và thấy rằng người ta chỉ nhận biết những tình
trạng loạn thần nặng là các rối loạn tâm thần. Họ nhận thấy điều trị y khoa hiện đại
được đa số người dân chuộng hơn. Một số đáng kể người dân đề nghị hỗ trợ gia
đình và chăm sóc tại nhà. Rõ ràng, người ta thích chăm sóc bệnh nhân bị tâm thần
trong gia đình hơn nhưng sẽ mang bệnh nhân đến bệnh viện tâm thần nếu tình trạng
rất nặng[1],[107].
Nghiên cứu ở cộng đồng Nam phi – những nước đang phát triển về sự hiểu
biết sức khỏe tâm thần chủ yếu đi vào tìm hiểu thái độ và nhận thức về các triệu
chứng cũng như nguyên nhân và cách điều trị những bệnh tâm thần như trầm cảm,
tâm thần phân liệt, rối loạn hoảng loạn hoặc lạm dụng chất gây nghiện cho thấy
rằng những người tham gia nghiên cứu đã có sự nhìn nhận những biểu hiện như
căng thẳng, thiếu ý chí, thất bại trong cuộc sống là những lý do họ mắc bệnh này.
Những liệu pháp được cộng đồng nơi đây cho rằng có hiệu quả chữa trị cho các
bệnh tâm thần như tư vấn tâm lý, trị liệu tâm lý [28]. Ở một số nước đang phát triển
khác thì có tới hơn nửa dân số chưa có hiểu biết về sức khỏe tâm thần [73].
Có ít công trình nghiên cứu nói về nhận thức, niềm tin và hiểu biết của cộng
đồng các nước Phương Đông vốn phần lớn là các nước đang phát triển hoặc có mức
thu nhập trung bình – thấp. Đặc biệt là các nước Đông Nam Á trong đó có Việt
Nam thì càng ít các nghiên cứu về vấn đề này. Theo một số tác giả nghiên cứu thì tỉ
lệ mắc các rối loạn tâm thần ở các nước đang phát triển còn cao hơn phương Tây do
tác động của các vấn đề kinh tế xã hội như trình độ dân trí thấp, nền kinh tế thấp,
các dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn ít dẫn đến việc chăm sóc sức khỏe chưa cao
[38]. Ngay cả ở các em học sinh trung học mà kiến thức nhận biết về sức khỏe tâm
thần còn thấp cũng như có thái độ tiêu cực và có sự xa lánhvới những người mắc rối
loạn tâm thần [34]. Gần đây, Tổ chức Y tế thế giới đã quan tâm tới sự cải thiện,
thường gặp nhất và nặng nhất còn trầm cảm là nhẹ nhất; nguyên nhân gây ra rối
loạn tâm thần là stress, căng thẳng và học hành hoặc suy nghĩ quá nhiều; chỉ đề nghị
đi khám ở bệnh viện hoặc cơ sở điều trị tâm thần nếu người bệnh có những hành vi
kích động, đi lang thang. Còn những triệu chứng khác thì nên nhận hỗ trợ từ gia
đình hoặc bạn bè. Nhìn chung cho thấy người dân cộng đồng ở vùng ngoại ô miền
Trung Việt Nam hiểu biết về sức khỏe tâm thần chưa cao.
8
Trong những năm gần đây có một số luận văn thạc sĩ của các học viên ngành
tâm lý học bắt đầu có những công trình nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu
của mình đối với nhận thức về sức khỏe tâm thần. Đó là nghiên cứu của Đặng Thị
Thanh Tùng (2015) khi khảo sát trên 221 bậc phụ huynh về nhận thức của họ đối
với các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần ở trẻ. Kết quả nghiên cứu đã kết
luận một số điểm như sau: (a) Nhận thức về các dấu hiệu của loạn thần và rối loạn
tâm thần nặng, tuy nhiên đã có một tỉ lệ lớn hơn các bậc cha mẹ nhìn nhận biểu hiện
hành vi hung tính, không vâng lời cha mẹ như dấu hiệu tổn thương sức khỏe tâm
thần. Các biểu hiện phàn nàn đau cơ thể hay ăn quá nhiều hoặc quá ít chưa được
nhận diện là tổn thương sức khỏe tâm thần mà chỉ là biểu hiện của một thói quen
xấu; (b) Nhận thức về tên các bệnh tâm thần hay vấn đề sức khỏe tâm thần tập trung
vào những bệnh tâm thần nặng, những bệnh được truyền thông và xã hội đề cập
nhiều trong thời gian gần đây nhưng lại không cho rằng những biểu hiện hành vi vi
phạm pháp luật, chống đối xã hội, nghiện game, béo phì là các bệnh hay vấn đề sức
khỏe tâm thần; (c) Nhận thức về nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần phù hợp với
việc nhận diện các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần và gọi tên bệnh tâm thần
là do yếu tố sinh học, không xác định do các yếu tố động cơ cá nhân, xã hội hay
tương tác liên cá nhân. Bên cạnh đó, hành vi ứng xử của các bậc cha mẹ khi con có
các biểu hiện tổn thương sức khỏe tâm thần cũng tương xứng với mức độ nhận thức
về dấu hiệu bệnh và nhận thức về nguyên nhân. Điều này có nghĩa là phần lớn cha
mẹ mới chỉ có những chiến lược chung là tìm sự trợ giúp từ ngoài gia đình hoặc
1.1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Theo Loureio và cộng sự (2013) đã công bố công trình nghiên cứu ở lứa vị
thành niên về hiểu biết rối loạn trầm cảm, những kiến thức về sự trợ giúp từ các
chuyên gia và phương pháp điều trị, hiểu biết về kiến thức cũng như kỹ năng ứng
phó và ngăn ngừa các rối loạn này của trẻ ở Bồ Đào Nha. Họ cho rằng sự trợ giúp
từ các chuyên gia sức khỏe tâm thần, người thân trong gia đình hoặc bạn bè là tốt.
Nhận diện về hướng điều trị thì họ nhận thấy rằng thuốc vitamin là có hiệu quả. Bên
cạnh đó họ cũng hiểu biết được các yếu tố có thể là nguy cơ gây là trầm cảm như
việc hút thuốc, uống rượu,…[71].
10
Một cuộc điều tra của Karasz năm 2005 cộng đồng người Mỹ chính gốc cho
rằng những nguyên nhân của trầm cảm đa dạng, từ sự mất cân bằng hormone đến
các vấn đề thần kinh, còn người Mỹ gốc Á thì cho rằng những căng thẳng và vấn đề
trong cuộc sống liên quan trầm cảm nhiều hơn và họ chọn việc tự quản lý để vượt
qua trầm cảm [57]. Ngoài ra, những người đã từng bị trầm cảm thường có kinh
nghiệm nhận diện các triệu chứng trầm cảm của bản thân cao hơn so với những
người chưa từng bị trầm cảm, những người bị trầm cảm nặng thường nhận ra việc
cần sự trợ giúp hơn là những người bị trầm cảm nhẹ hoặc không bị trầm cảm [92].
Nghiên cứu khác gồm 202 thanh thiếu niên Úc tuổi từ 15 – 17 tuổi về khả
năng của họ đối với các kiến thức cũng như tìm kiếm sự giúp đỡ đối với rối loạn
trầm cảm cho thấy rằng các em hiểu biết chưa tốt (có một sự nhầm lẫn) về trầm
cảm. Mặc dù, các em có thể phân biệt mức độ nghiêm trọng cũng như thời gian
phục hồi được các triệu chứng như chán nản và không chán nản [52]. Bên cạnh đó,
nghiên cứu ở Anh, người Anh bản xứ nhận định trầm cảm của họ liên quan đến vấn
đề y khoa hơn cũng như những thay đổi về hoàn cảnh xã hội. Họ xác định trầm cảm
là mang khí sắc trầm và cảm giác vô vọng; trong khi đó, người Anh gốc Nam Á
thường định nghĩa trầm cảm bằng sự lo lắng [67]. Một nghiên cứu khác trên lứa tuổi
học sinh trung học phổ thông ở Thụy Điển cũng đưa ra kết quả rằng, học sinh đã có
Một số thanh thiếu niên có nhận thức tốt hơn về trầm cảm và có nhiều khả
năng tìm kiếm đến sự giúp đỡ. Các nguồn hỗ trợ mà các em có sự lựa chọn nhiều
nhất cũng là những nhóm người thân cận như bạn bè, gia đình và những người tham
vấn. [79].
Công trình nghiên cứu của Jianli Wang và Daniel Lai trên dân số ở Alberrta,
Canada đưa ra kết quả gần nửa dân số tham gia nghiên cứu cho rằng những người bị
trầm cảm không thể tự mình nhận ra bản thân bị trầm cảm. Họ chưa nhận ra trầm
cảm là rất nguy hiểm tới tính mạng cũng những các hoạt động chức năng khác trong
cuộc sống của họ. Tuy nhiên họ cũng đồng ý với việc nhận sự điều trị từ các chuyên
gia về sức khỏe tâm thần là có hiệu quả cho rối loạn trầm cảm. [51]
Trong mỗi nền văn hóa, những niềm tin về trầm cảm họ thường nghĩ rằng có
một sự tác động nào đó gây nên và những hậu quả gây ra với xã hội, gia đình và bản
thân cần được xem xét cho những chính sách chăm sóc và hướng điều trị khác nhau.
12
Xét về yếu tố văn hóa, các nhà nghiên cứu và nhân viên y tế có thể tìm cách để tôn
trọng những niềm tin khác nhau mà không ép buộc, cũng như các cách sử dụng kiến
thức khoa học chính xác mà không phá vỡ hệ thống niềm tin thuộc về văn hóa
[37],[46].
1.1.2.2. Các nghiên cứu trong nước
Thông qua việc tìm kiếm tài liệu cũng như tổng hợp tài liều có liên quan tới đề
tài, chúng tối phát hiện ra một điều rằng, cho đến nay chưa có nhiều công trình đi sâu
vào nghiên cứu vấn đề nhận thức của cộng đồng về rối loạn trầm cảm. Gần đây, có
báo cáo của tỉnh Đà Nẵng trong việc khảo sát và can thiệp nhằm nâng cao nhận thức
của cộng đồng về trầm cảm (VVAF, 2012) cung cấp những số liệu liên quan những
kiến thức về triệu chứng, nguyên nhân và lựa chọn điều trị của người dân[11].
Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ của học viên chuyên ngành Tâm lý học
cũng đã có những báo cáo nhận thức về rối loạn trầm cảm này. Đó là nghiên cứu
của Nguyễn Thị Bình (2015) cho thấy rằng nhóm sinh viên đã có hiểu biết về khái
nhằm mở rộng phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và
bổ sung vào những công trình nghiên cứu ở Việt Nam cho phong phú cũng như đa
dạng hơn giúp ích được cho nền giáo dục, y tế, xã hội tại Việt Nam ngày một phát
triển. Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chọn vùng quê của tỉnh Thái
Bình để nghiên cứu xem thực trạng nhận thức của học sinh trung học phổ thông về
các vấn đề liên quan đến rối loạn trầm cảm như thế nào từ đó có những khuyến nghị
giúp ích cho việc định hình các chính sách, nghiên cứu tiếp theo và chương trình
giáo dục, y tế tại trường học và địa phương cho phù hợp với đối tượng học sinh
trung học phổ thông nói chung và đặc biệt là học sinh trung học phổ thông tại Thái
Bình nói riêng. Bên cạnh đó nhằm giúp học sinh phòng ngừa mắc phải rối loạn trầm
cảm đồng thời giúp giáo viên hiểu về rối loạn trầm cảm của học sinh để có hướng
giáo dục tốt. Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần mở rộng phạm vi địa bàn và khách thể
nghiên cứu, mở rộng một số nội dung nghiên cứu liên quan tới rối loạn trầm cảm.
1.2. Những vấn đề lý luận về nhận thức
1.2.1. Khái niệm về nhận thức
Từ điển Tâm lý năm 2001 do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên nhận thức
theo tiếng pháp: Nhận thức ―Connaissance‖ là quá trình hoặc kết quả phản ánh và
14
tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan [15].
Quá trình ấy đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức, diễn ra ở các mức độ:
Thứ nhất là kinh nghiệm hàng ngày của con người về các đồ vật cũng như
người khác, thường mang tính tự phát và hỗn hợp với tình cảm, thành kiến cũng
như thiếu hệ thống thiếu hệ thống.
Thứ hai là khoa học cũng như các khái niệm được xây dựng một cách chặt
chẽ, có hệ thống cấu trức với ý thức về phương pháp và suy nghĩ của tư duy để
chứng nghiệm đúng – sai.
Tác giả Phạm Minh Hạc, cho rằng nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của
đời sống tâm lý con người, hai mặt còn lại là tình cảm và hành động. Trong khi hoạt