Phát triển làng nghề trong kinh tế nông thôn ở tỉnh Thái Bình Luận văn ThS. Kinh tế - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
 Ph¹m thanh h»ng
Ph¸t triÓn lµng nghÒ
trong kinh tÕ n«ng th«n
Ở TØNH TH¸I B×NH LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2010

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

1.1.3. Đặc điểm của làng nghề 11
1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của
làng nghề trong kinh tế nông thôn 14
1.2. Vai trò của làng nghề trong kinh tế nông thôn 19
1.2.1. Sự phát triển của làng nghề góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn 19
1.2.2. Phát triển làng nghề có vai trò quan trọng trong việc
giải quyết công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao
động nông thôn 21
1.2.3. Phát triển làng nghề tạo điều kiện tăng thu nhập cho
người lao động gúp phần thu hẹp khoảng cách mức
sống giữa nông thôn và đô thị 22
1.2.4. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã tạo ra một khối
lượng hàng hoá lớn đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất
khẩu 22
1.2.5. Phát triển kinh tế làng nghề tạo điều kiện thu hút vốn đầu
tư và thu hút các nghệ nhân, thợ giỏi tham gia lao động,
tạo giá trị và làm giàu đất nước 23
1.2.6. Phát triển làng nghề góp phần nâng cao đời sống văn
hoá tinh thần của nhân dân 24
1.3. Kinh nghiệm phát triển làng nghề trong kinh tế nông thôn ở một
số địa phương 25
1.3.1. Kinh nghiệm của một số địa phương 25 2
1.3.2. Những bài học kinh nghiệm 30
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG KINH TẾ
NÔNG THÔN Ở TỈNH THÁI BÌNH 34
2.1. Môi trường phát triển làng nghề ở tỉnh Thái Bình 34

MẠNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRONG KINH TẾ NÔNG
THÔN Ở TỈNH THÁI BÌNH 81
3.1. Quan điểm phát triển làng nghề trong kinh tế nông thôn ở tỉnh
Thái Bình 81
3.2. Phương hướng và mục tiêu phát triển làng nghề trong kinh tế
nông thôn ở tỉnh Thái Bình 83
3.2.1. Phương hướng phát triển làng nghề 83
3.2.2. Những mục tiêu chủ yếu phát triển làng nghề 84
3.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển làng nghề trong kinh
tế nông thôn ở tỉnh Thái Bình 84
3.3.1. Nhóm giải pháp về quy hoạch phát triển làng nghề 84
3.3.2. Nhóm giải pháp về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cho
làng nghề 89
3.3.3. Nhóm giải pháp về vốn 90
3.3.4. Nhóm giải pháp về đổi mới thiết bị và công nghệ 92
3.3.5. Nhóm giải pháp về phát triển thị trường 95
3.3.6. Đổi mới tổ chức sản xuất trong các làng nghề 98
3.3.7. Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực 99
3.3.8. Gắn phát triển làng nghề với việc giải quyết các vấn đề
xã hội trong làng nghề và tại địa phương 101
3.3.9. Nhóm giải pháp về môi trường 102
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 115
4

MỞ ĐẦU

5
xuất manh mún, tự phát, tiêu thụ khó khăn, chất lượng sản phẩm thấp, mẫu mã
đơn giản; việc ứng dụng và kết hợp giữa thiết bị, công nghệ truyền thống với
thiết bị công nghệ hiện đại ở các làng nghề còn hạn chế; Thu nhập của người lao
động trong làng nghề còn thấp, việc đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao
động còn gặp nhiều khó khăn… Bên cạnh đó, các vấn đề về xã hội và ô nhiễm
môi trường chưa được quan tâm đúng mức, việc khai thác và sử dụng nguyên,
nhiên vật liệu vẫn còn chưa hợp lý… ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống
của người dân và sự phát triển của làng nghề theo hướng bền vững.
Những tồn tại trên đây cho thấy làng nghề của Thái Bình phát triển chưa
tương xứng với tiềm năng và truyền thống làng nghề của tỉnh, đòi hỏi các cấp,
các ngành ở Thái Bình phải quan tâm nhiều hơn nữa đến sự phát triển làng nghề
theo hướng bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa
phương. Là một người con của quê hương Thái Bình, tôi chọn đề tài: “Phát
triển làng nghề trong kinh tế nông thôn tỉnh Thái Bình” làm luận văn thạc sỹ
kinh tế, nhằm góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế bền vững ở tỉnh Thái
Bình.
2. Tình hình nghiên cứu
Phát triển làng nghề và chuyển dịch cơ cấu làng nghề là một trong những
vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách
và các doanh nghiệp dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Trong đó có
những công trình đáng lưu ý, đã công bố như:
- “Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam” (Chương
trình nghị sự 21 của Việt Nam) Hà Nội, tháng 8 năm 2004.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, dự án VIE/01/021, “Tập bài giảng phát triển
bền vững”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế quốc dân,
Hà Nội, 2006.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Dự án VIE/01/021, “Đại cương về phát triển
bền vững”, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2006.

7
- Phân tích một số vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển làng nghề
trong kinh tế nông thôn và những nhân tố tác động đến quá trình phát triển của
các làng nghề.
- Đánh giá thực trạng phát triển làng nghề trong kinh tế nông thôn của tỉnh
Thái Bình từ năm 1998 đến nay, nhằm xác định rõ những thành tựu, hạn chế,
nguyên nhân và những vấn đề đang đặt ra cần phải giải quyết.
- Đề xuất một số quan điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm
thúc đẩy phát triển làng nghề trong kinh tế nông thôn của tỉnh Thái Bình theo
hướng bền vững.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
phát triển làng nghề trong kinh tế nông thôn của tỉnh Thái Bình.
* Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Về thời gian: Nghiên cứu tài liệu và khảo sát thực tế từ năm 1998 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận
Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các văn kiện Đại hội Đảng,
văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình về định hướng chiến lược phát triển
bền vững của đất nước, của các ngành, địa phương, cùng các lý thuyết về Kinh tế
chính trị, Kinh tế học phát triển,… làm cơ sở lý luận cho luận văn.
* Phương pháp nghiên cứu
- Quán triệt phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng
sản Việt Nam để nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về làng nghề và 9 10
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LÀNG NGHỀ
TRONG KINH TẾ NÔNG THÔN Ở TỈNH THÁI BÌNH

1.1. Sự hình thành và phát triển của làng nghề
1.1.1. Khái niệm về làng nghề
Lịch sử nông thôn Việt Nam gắn liền với các thôn, làng và các làng nghề
là đặc trưng cho truyền thống kinh tế, văn hoá của xã hội nông thôn. Các làng
nghề là cầu nối giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa nông thôn và thành thị,
giữa truyền thống và hiện đại và là yếu tố quan trọng trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở nông thôn nước ta.
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì làng nghề là làng mà tuy vẫn có trồng
trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi (lợn, gà…), cũng có một số nghề phụ khác
(đan lát, làm tương, làm đậu phụ…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh
xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có
phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả… cùng một số thợ và phó
nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”,
“nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra
những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có mỹ nghệ, đã trở thành sản

xã hội - nhân văn phong phú, phức tạp như hôn nhân, huyết thống, láng giềng,
nghề nghiệp, tín ngưỡng và hợp tác… Các làng nghề nông thôn ở nước ta có thể
chia thành 4 loại:
+ Làng nông nghiệp: Là làng thuần nông ở miền Bắc và miệt vườn ở Nam
bộ.
+ Làng nghề: là làng làm nghề nông có thêm một hoặc một số nghề thủ
công nghiệp.
+ Làng buôn bán: là làng làm nghề nông có thêm nghề buôn bán của một
số thương nhân chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp.
+ Làng chài: (hoặc các vạn chài): là làng của các cư dân làm nghề chài
lưới đánh cá, sống ở ven sông, ven biển.
Theo cách phân loại trên thì các làng nghề gắn bó với các ngành nghề phi
nông nghiệp, các ngành nghề thủ công ở trong các thôn, làng ở nông thôn. Sự 12
xuất hiện các ngành nghề thủ công ở các làng quê lúc đầu chỉ là ngành nghề phụ
trong các gia đình tiểu nông, chủ yếu được tiến hành trong những lúc “nông
nhàn”. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế, các ngành nghề thủ công tách
dần khỏi nông nghiệp nhưng lại phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp, và khi đó có
một số thợ thủ công không còn làm nông nghiệp nữa, song họ vẫn gắn chặt với
làng quê. Số lượng người chuyên làm nghề thủ công ngày càng tăng lên, tách rời
hẳn khỏi nông nghiệp và họ sinh sống bằng chính nguồn thu nhập từ nghề đó,
diễn ra ngay trong các làng quê. Ngày nay, trong thực tế và trong xu hướng phát
triển, dưới tác động của quá trình đô thị hoá, có những làng nghề không còn chỉ
nằm ở khu vực nông thôn nữa. Đa số người dân trong làng đó vẫn làm những
nghề tiểu thủ công nghiệp và vẫn sống bằng chính nguồn thu nhập từ nghề đó,
nhưng làng lại nằm trong đô thị, làng trong phố. Nghề, tên làng nghề vẫn được
lưu giữ như một nét đẹp văn hoá, một bản sắc của vùng, của địa phương.
Tiêu chí thường được dùng để xem xét khi đưa ra khái niệm làng nghề

1.1.2. Phân loại làng nghề
Đến nay, các nhà khoa học trong quá trình nghiên cứu có rất nhiều cách
phân loại làng nghề khác nhau, tuy nhiên có hai cách phân loại làng nghề phổ
biến sau:
* Phân loại theo lịch sử hình thành và phát triển các làng nghề có: Làng
nghề truyền thống và làng nghề mới.
+ Làng nghề truyền thống là loại làng nghề được hình thành từ lâu đời,
trải qua thử thách của thời gian vẫn duy trì, phát triển và được lưu truyền từ đời
này sang đời khác. Sản phẩm của các làng nghề truyền thống được tạo ra bởi các
bí quyết sản xuất và đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo cao, được truyền nghề từ đời này
sang đời khác trước hết là sự truyền nghề ở trong nội bộ dòng tộc.
+ Làng nghề mới là những làng có ngành nghề phát triển trong những
năm gần đây, chủ yếu do sự lan toả của làng nghề truyền thống, hoặc do sự du
nhập trong quá trình hội nhập giữa các vùng và giữa các nước. Trong các làng
nghề truyền thống cũng có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống.
* Phân loại theo cách thức tổ chức sản xuất và trình độ chuyên môn hoá
trong sản xuất thì làng nghề có hai loại sau: Làng chuyên nghề, làng đa nghề. 14
+ Làng chuyên nghề.
Làng chuyên nghề là một khái niệm bao gồm nhiều hộ trong một làng
cùng tham gia làm một nghề với chuyên môn hoá cao, mang tính chất truyền
nghề từ đời này sang đời khác hay thường gọi là “Nghề của làng”. Làng chuyên
nghề hay còn gọi là "Nghề của làng" mang tính chất truyền nghề, vì vậy việc tổ
chức sản xuất thường theo hộ gia đình hoặc theo dòng họ, tự lo lấy địa điểm sản
xuất, công cụ sản xuất, bố trí lao động thường có sự liên kết với nhau theo
nhóm, trong một nhóm có hộ đứng ra làm vai trò trung tâm. Sự liên kết của các
nhóm dựa trên cơ sở lợi ích kinh tế, với các hình thức như mua nguyên liệu, bán
thành phẩm, gia công từng công đoạn, hoặc toàn bộ quy trình công nghệ đến ra

nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn mà nó quay trở lại phục vụ cho nông
thôn. Do đó, phát triển các ngành nghề là góp phần phát triển nông nghiệp-nông
thôn.
Thứ hai, về hình thức tổ chức sản xuất lao động.
Nói chung ở các làng nghề từ xưa đến nay chủ yếu vẫn là hình thức tổ
chức kinh tế hộ gia đình. Một số đã có sự phát triển thành HTX và xí nghiệp tư
nhân. Trong hình thức tổ chức sản xuất hộ gia đình, người chủ gia đình thường
là thợ cả, trong đó thường là nghề nhân hoặc thợ giỏi còn các thành viên khác
được huy động vào các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, kinh doanh
và điều này phụ thuộc và khả năng cùng như giới tính hoặc lứa tuổi của từng
người. Đáng lưu ý là người lao động có tuổi ở các làng nghề truyền thống lại có
thể là nguồn nhân lực quý cần khai thác về kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất.
Các cơ sở sản xuất nói chung có thể thuê lao động theo hình thức thường xuyên
hay thời vụ tuỳ theo yêu cầu sản xuất và khả năng của bản thân các cơ sở. Hình
thức này bảo đảm gắn bó quyền lợi và trách nhiệm, tận dụng được lao động và
thời gian. Nó phù hợp với các cơ sở sản xuất nhỏ không có nhu cầu lớn về đầu tư
như hiện nay.
Thứ ba, về đặc điểm sản phẩm, nguyên liệu và thị trường của làng nghề.
Sản phẩm của các làng nghề thường là các vật dụng phục vụ cho đời sống
sản xuất và sinh hoạt hàng ngày như các loại thực phẩm (sản phẩm của nghề chế
biến nông sản ) hay các vật dụng đơn giản (sản phẩm nghề mây tre đan) hoặc 16
phục vụ nhu cầu sinh hoạt (sản phẩm nghề thêu, dệt, chạm khắc, vận tải) Các
loại sản phẩm này không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu cho người nông dân mà nó
còn mang tính văn hoá, tính mỹ thuật. Nhất là đối với các sản phẩm của các làng
nghề truyền thống, chúng mang những giá trị văn hoá độc đáo, thậm chí trở
thành các di sản mang bản sắc của vùng, của dân tộc. Tuy nhiên, do tính chất sản
xuất thủ công nên sản xuất không phải là sản xuất hàng loạt mà chỉ đơn chiếc.

sinh thì gây ra rất nhiều khó khăn. Đơn giản như việc sử dụng hoá chất trong sản
xuất, do không có những dự trù cho việc xử lý chất thải và hoá chất thải nên
những chất thải độc hại này có ảnh hưởng xấu trực tiếp đến hộ gia đình sản xuất
và hơn thế nữa, ảnh hưởng đến cả môi trường chung của làng, xã, những gia
đình lân cận. Đây đang là một vấn đề khó cho việc phát triển làng nghề hiện nay.
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của các làng nghề hiện nay. Những
đặc điểm này là một trong những cơ sở đáng lưu ý để nghiên cứu và tạo ra
những biện pháp thúc đẩy phát triển kinh tế làng nghề đồng thời hạn chế những
tác động không tốt.
1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của làng
nghề trong kinh tế nông thôn
Quá trình phát triển của làng nghề truyền thống chịu tác động của nhiều
nhân tố. Những nhân tố này có sự biến đổi trong từng thời kỳ và tác động theo
chiều hướng khác nhau. Chúng có thể là những nhân tố kìm hãm sự phát triển. Ở
mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi làng nhề do có những đặc điểm khác nhau về
các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hoá nên sự tác động của các nhân
tố này là không giống nhau. Tuy nhiên, hiểu một cách khái quát chúng bao gồm
những nhân tố cơ bản sau:
1.1.4.1. Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý
- Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất và tiêu thụ
các sản phẩm sản xuất, do đó nó ảnh hưởng lớn đến việc phát triển các ngành
nghề. Mỗi vùng với điều kiện khí hậu thời tiết đặc trưng tạo nên những nguồn
nguyên liệu cho các làng nghề khác nhau, hầu hết các sản phẩm thủ công truyền
thống đều nhằm phục vụ đời sống của người dân mà mỗi nơi người dân có
những nhu cầu khác nhau cho phép phát triển những ngành nghề khác nhau, ví
dụ: vùng đồng bằng sông Hồng có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có 4 mùa xuân,
hạ, thu, đông. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến ngành may mặc, ngành dệt len, chế 18

công truyền thống là rất lớn. Không có nghệ nhân thì không có làng nghề hay ít 19
nhất cũng không thể có làng nghề lừng danh. Chính tài năng của các nghệ nhân
với đôi "bàn tay vàng" của họ đã tạo nên những sản phẩm quý giá, tinh xảo và
độc đáo, những sản phẩm văn hoá sống mãi với thời gian, góp phần làm vẻ vang
cho dân tộc và cho mỗi làng nghề. Chính nghệ nhân, thợ cả đã giữ cho làng nghề
tồn tại đã đào tạo ra những nhóm thợ mà trước hết là con cháu của họ, những
người trong gia đình, dòng tộc rồi đến con em trong làng thuộc các dòng họ
khác. Kiên trì truyền dạy nghề hết ngày này qua ngàykhác theo lối "cầm tay chỉ
việc", "vừa học vừa làm" các nghệ nhân đã tạo ra một đội ngũ thợ lành nghề
ngay tại làng xóm mình. Cứ như thế thợ thủ công kế tiếp, đan xen nhau lớp này
đến lớp khác đời sau nối tiếp đời trước. Do đặc trưng sản xuất thủ công cả gia
đình từ ông bà, anh em con cháu đến cùng làm nghề mỗi người mỗi việc cho nên
cùng một lúc ở làng nghề thường có vài ba thế hệ thợ thủ công cùng sản xuất.
- Kỹ thuật truyền thống và kinh nghiệm lâu đời.
Về kỹ thuật hầu hết các làng nghề đều sử dụng kỹ thuật truyền thống lâu
đời của Việt nam trong sản xuất. Mỗi nghề đều có kỹ thuật sản xuất riêng, kỹ
thuật ấy bao gồm nhiều công đoạn, từ khâu khai thác chế biến nguyên liệu đến
khâu cuối cùng là hoàn thành sản phẩm để bán ra thị trường cho người tiêu dùng.
Trong đó còn bao hàm cả thủ pháp nghệ thuật, tuy các làng nghề đều sử dụng kỹ
thuật chung, nếu các làng nghề ấy đều làm một nghề nhưng từng công đoạn kỹ
thuật thì mỗi nơi một khác. Làng nghề nào cũng biến cách ứng dụng kỹ thuật
chung ấy theo cách tiêng của mình. Riêng thủ pháp nghệ thuật người ta còn tiến
hành đa dạng hơn nữa, bởi mỗi nghệ nhân đều có thủ pháp nghệ thuật theo trình
độ sáng tạo và kinh nghiệm của riêng mình. Điều đó giải thích tại sao làng nghề
cụ thể này không thay thế được làng nghề kia, nghệ nhân này không thay thế
được nghệ nhân khác, mặc dù các làng ấy các nghệ nhân ấy đều làm một nghề và
sản xuất ra những sản phẩm cùng loại. Sự phát triển của khoa học công nghệ

Sự tồn tại và phát triển của làng nghề truyền thống phụ thuộc rất lớn vào
thị trường và sự biến động của nó. Sản xuất càng phát triển càng thể hiện rõ sự
chi phối của quan hệ cung - cầu và quy luật cạnh tranh. Những làng nghề có khả
năng thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trường thường có tốc độ phát
triển nhanh. Đó là những làng nghề mà sản phẩm của nó có đủ sức cạnh tranh
trên thị trường và luôn đổi mới cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng 21
của xã hội. Điều này được chứng minh ở sự phát triển mạnh của một số làng
nghề truyền thống gốm sứ mỹ nghệ, chạm khắc gỗ, chế biến lương thực, thực
phẩm. Ngược lại một số làng nghề không phát triển được, ngày càng mai một,
thậm chí có nguy cơ mất đi vì những lý do: Không đáp ứng được những đòi hỏi
khắt khe của thị trường, hoặc nhu cầu của thị trường không cần đến loại sản
phẩm đó nữa (như nghề sản xuất giấy dó, vẽ tranh dân gian…), nghề gốm sứ
Đông Triều (Quảng Ninh), gốm Cậy (Hải Dương) đang có xu hướng sa sút. Như
vậy, rõ ràng thị trường và sự phát triển của thị trường đã tác động mạnh tới
phương hướng phát triển, cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản phẩm và là
động lực thúc đẩy sản xuất của làng nghề truyền thống phát triển. Tuy nhiên, nếu
thị trường không ổn định sẽ gây ra những khó khăn và bấp bênh cho sản xuất.
1.1.4.3. Điều kiện văn hoá, xã hội.
- Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng
nhất của sự phát triển. Nguồn nhân lực của làng nghề bao gồm những nghệ nhân,
những người thợ thủ công và chủ cơ sơ sản xuất kinh doanh. Những nghệ nhân
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy nghề, đồng thời họ là
những người sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo mang đậm yếu tố văn hoá dân
tộc. Hiện nay ở nhiều làng nghề truyền thống vẫn còn những nghệ nhân tâm
huyết với nghề, muốn giữ gìn và phát triển nghề. Bên cạnh đó, một lực lượng lao
động dồi dào, cơ cấu lao động trẻ có khả năng thích ứng với những điều kiện
mới của nền kinh tế thị trường, là nhân tố cốt yếu nhất định toàn bộ quá trình sản

văn bản pháp luật cũng được ra đời và ngày càng hoàn thiện như: Luật doanh
nghiệp, luật hợp tác xã, luật đất đai… đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự
phát triển của làng nghề. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có chính sách cần thiết và
đồng bộ dành riêng cho sự phát triển làng nghề trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội ở nông thôn mà nó chỉ được tác động thông qua nhiều chính sách.
1.1.4.4. Một số yếu tố truyền thống khác
Ngoài các nhân tố trên còn có nhiều nhân tố khác có tính truyền thống,
đặc thù cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của các làng nghề như hương ước, quy
chế của làng thôn Trong các hàng thủ công lâu đời nổi tiếng ở nước ta đều có
quy chế về nghề thủ công hoặc thành văn bản hoặc bất thành văn thậm chí ở mỗi
phường nghề có cùng một nghề ở cùng một làng cũng có quy chế tiêng dưới
dạng "lời thề", "lời nguyền". 23
Trước kia ở các làng, các xã, điển hình là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ,
hương ước và quy chế được là những văn bản pháp lý chúng được mặc nhiên
thừa nhận và tồn tại song song với hệ thống pháp luật của Nhà nước phong kiến
trung ương. Trong bối cảnh lịch sử đó các phường nghề, hội nghề gia tộc làm
nghề thủ công cũng soạn ra các văn bản về nghề nghiệp gọi là "lời thề", "lời
nguyền" Những quy chế này được truyền từ đời này sang đời khác bắt buộc
các thành viên trong gia độc, trong phường hội nhất nhất tuân theo thực hiện một
cách khá nghiêm ngặt. Những quy định trong làng nghề phường nghề tộc nghề
là những biện pháp giữ bí mật và bí quyết nghề nghiệp của những người thợ ở
các làng nghề thủ công cổ truyền. Điều đó các tác dụng tích cực đối với việc duy
trì lâu dài hoạt động sản xuất của mỗi làng nghề. Nhưng chính sự tuyệt đối bí
mật mang tính độc quyền đã làm kìm hãm sự phát triển nghề nghiệp trong phạm
vi cả nước.
Chỉ sau này khi các trường dạy nghề mở ra các khoá học thực hành ngắn
hạn, dài hạn đã tạo nên những thợ trẻ cho nhiều tỉnh, thành phố thì tình hình hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status