ĐÀO tạo NGUỒN NHÂN lực CHẤT LƯỢNG CAO ở đà NẴNG TRONG bối CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4 0 – THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP - Pdf 57

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở ĐÀ NẴNG
TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 – THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TRAINING HIGH QUALITY HUMAN RESOURCES IN DA NANG IN THE
CONTEXT OF THE INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0 – SITUATION AND
SOLUTIONS
ThS. Nguyễn Văn Sơn
Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Quảng Nam
ThS. Lê Đức Thọ
Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng
(Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế: “Đổi mới và sáng tạo trong đào tạo nguồn nhân lực
toàn cầu”, ISBN 978-604-9870-59-0, Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.314-324. Năm
2019.)
TÓM TẮT
Bài viết sử dụng phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp nghiên cứu về thực tiễn công
tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh tác động
của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bên cạnh
những thành tựu, công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Đà Nẵng
hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế, nhất là khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
đã và đang tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục - đào tạo và dạy
nghề. Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao ở Đà Nẵng trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.
Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0; nguồn nhân lực chất lượng cao; đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao; Đà Nẵng.
ABSTRACT
The paper uses the method of collecting secondary documents to study the reality of
training high quality human resources in Da Nang city in the context of the impact of the
current industrial revolution 4.0. Research results show that, besides the achievements of
training of high quality human resources in Da Nang city, there are many difficulties and
limitations, especially when the 4.0 industrial revolution has impacted strongly on many
1

Với việc dựa trên 3 lĩnh vực chính: Kỹ thuật số, công nghệ sinh học; Robot thế hệ
mới... cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là nền tảng để nền kinh tế chuyển đổi mạnh

2


mẽ từ mô hình dựa vào tài nguyên, lao động chi phí thấp sang kinh tế tri thức; làm thay
đổi cơ bản khái niệm đổi mới công nghệ, trang thiết bị trong các dây chuyền sản xuất.
Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra những thay đổi lớn về cung - cầu lao động.
Các nhà kinh tế và khoa học quốc tế cảnh báo, trong cuộc cách mạng này, thị trường lao
động sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng giữa cung và cầu lao động cũng như cơ cấu lao động.
Trong một số lĩnh vực, với sự xuất hiện của Robot, số lượng nhân viên cần thiết sẽ chỉ
còn 1/10 so với hiện nay. Như vậy, 9/10 nhân lực còn lại sẽ phải chuyển nghề hoặc thất
nghiệp.
Bởi vậy, sự phát triển của cuộc cách mạng này đang đòi hỏi cấp bách những nguồn
nhân lực mới, ở tầm vĩ mô cấp quốc gia cũng như trong mỗi tổ chức, doanh nghiệp. Sự
thay đổi nhân lực sẽ xảy ra toàn diện trong xã hội, trên nền kinh tế vĩ mô cũng như nơi
mỗi tổ chức xã hội, mỗi doanh nghiệp hoạt động, đặc biệt nơi những lĩnh vực có liên
quan đến công nghệ thông tin hay chịu ảnh hưởng nhiều từ nền tảng công nghệ mới này.
Đối với Việt Nam, từ trước đến nay, nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào các ngành sử
dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thiên nhiên, trình độ của người lao động còn
lạc hậu. Đây là một trong những thách thức lớn nhất khi đối diện với cuộc Cách mạng
công nghiệp 4.0. Cách mạng công nghiệp 4.0 yêu cầu nguồn nhân lực có chất lượng ngày
càng cao, trong khi đó, nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam hiện nay lại thiếu
hụt cả về số lượng và kỹ năng tay nghề. Cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng
số nhưng nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ thông tin, kỹ thuật máy
tính, tự động hóa… của Việt Nam đang quá ít.
Bảng 1: Lực lượng lao động Việt Nam năm 2017 phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
Đơn vị: nghìn người


mẽ tới mọi mặt đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, nhà nước, chính phủ, doanh nghiệp, tổ
chức, cá nhân,... Do đó, để duy trì lợi thế cạnh tranh, và có thể bắt kịp được các nước tiên
tiến, các quốc gia, trong đó có Việt Nam đều đang tập trung phát triển và ứng dụng các
thành tựu công nghệ của Cách mạng công nghiệp 4.0. Cuộc cách mạng lần này tạo cơ hội
cho các nước đi sau, tuy nhiên cũng tạo ra nhiều thách thức đối với những nước đi chậm.
Bên cạnh những tác động to lớn mà Cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại thì cũng có
nhiều thách thức được đặt ra đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt sẽ
làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu lao động và thị trường lao động. Hệ thống tự động hóa sẽ
thay thế dần lao động thủ công trong toàn bộ nền kinh tế, sự chuyển dịch từ nhân công
sang máy móc sẽ gia tăng sự chênh lệch giữa lợi nhuận trên vốn và lợi nhuận với sức lao
động, điều này sẽ tác động đến thu nhập của lao động giản đơn và gia tăng thất nghiệp.
Số lượng công việc cần lao động chất lượng cao ngày càng gia tăng, phát sinh một thị
trường việc làm ngày càng tách biệt: thị trường kỹ năng cao, thị trường kỹ năng thấp và
dẫn đến gia tăng sự phân hóa, hoặc tạo ra nhu cầu việc làm hoàn toàn mới so với trước
đây, do vậy cần có sự chủ động chuẩn bị trong việc đào tạo nguồn nhân lực, giáo dục
nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu thị trường.
Cách mạng công nghiệp 4.0 với những công nghệ mới, làm thay đổi nền tảng sản
xuất, phát sinh thêm nhiều ngành nghề mới, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới về năng
lực nhân sự. Đây là một thách thức lớn đối với giáo dục đại học Việt Nam. Vì vậy, các
trường đại học ở Việt Nam cần phải nhận thức được những thách thức này, từ đó, có
chiến lược phù hợp cho việc phát triển khoa học, công nghệ, thay đổi phương thức đào
tạo, đầu tư cơ sở vật chất để đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao trong thời kỳ kỹ
thuật số.
3. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Đà Nẵng hiện nay
4


3.1. Chủ trương đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Thành phố Đà Nẵng
Chủ trương đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đã được lãnh đạo
Thành phố quan tâm từ rất sớm, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành



về chương trình “phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa”. Đồng thời để phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu về nguồn nhân lực của
thành phố trong từng giai đoạn, UBND thành phố đã ban hành Quyết định số
99/2006/QĐ- UBND ngày 01.11.2006 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc quy định
mức hỗ trợ đối với một số đối tượng theo chủ trương thu hút nguồn nhân lực của thành
phố Đà Nẵng.
Đến năm 2007, xuất phát từ tình hình mới, đòi hỏi phải có sự đổi mới trong cách
tiếp nhận, bố trí, tiêu chuẩn tiếp nhận và chế độ chính sách cho đối tượng thu hút để tiếp
nhận nguồn nhân lực có trình độ cao. Thành phố đã ban hành Quyết định số 34/2007/
QĐ-UBND ngày 28.6.2007 Quy định về chính sách ưu đãi đối với những người tự
nguyện đến làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Đà Nẵng quản lý và Quyết
định số 21/2009/QĐ-UBND ngày 26.8.2009 của UBND thành phố về sửa đổi, bổ sung
một số điều của Quyết định số 34/2007/QĐ-UBND, theo đó thành phố chỉ tiếp nhận sinh
viên tốt nghiệp loại giỏi trở lên để bố trí công tác về các sở, ngành quận huyện và tốt
nghiệp hạng khá về xã, phường.
Đến năm 2010, UBND thành phố ban hành Quyết định số 17/2010/QĐ-UBND
ngày 18.6.2010 về việc tiếp nhận, bố trí và chính sách ưu đãi đối với những người tự
nguyện đến làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc UBND thành phố Đà Nẵng; thay thế
Quyết định số 34/2007/QĐ-UBND và Quyết định số 21/2009/QĐ-UBND. Với quy định
này, thành phố đã hướng đến việc tuyển chọn, sàng lọc một số ngành nghề thành phố có
nhu cầu, tiêu chuẩn, điều kiện để tiếp nhận chặt chẽ hơn: các đơn vị sử dụng đăng ký nhu
cầu về số lượng, ngành nghề tiếp nhận; Sở Nội vụ tham mưu thành phố ban hành danh
mục ngành nghề, xác định đối tượng cần thu hút, tuyên truyền về chính sách thu hút, triển
khai các chế độ, chính sách đối với người được thu hút, bố trí công tác, theo dõi, đánh giá
kết quả công tác...
Từ năm 2012, Sở Nội vụ đã tham mưu UBND thành phố thực hiện phỏng vấn đối
với các ứng viên và chỉ trình Chủ tịch UBND thành phố quyết định tiếp nhận, bố trí công

Có 408/613 học viên đã được bố trí công tác tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành
7


phố [2]. Thành phố đã quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi về môi trường làm việc, thực
hiện chính sách đảm bảo có tính vượt trội so với đối tượng khác trong cùng cơ quan
như: chế độ đãi ngộ ban đầu, hỗ trợ hàng tháng, bố trí nhà ở cho một số đối tượng từ các
địa phương khác đến công tác tại Đà Nẵng (kinh phí thực hiện ước tính hơn 56 tỷ đồng).
Nhiều đối tượng thu hút có những đóng góp tích cực, nổi trội trong công tác, một
số đã có cống hiến bằng sản phẩm cụ thể như chủ trì hoặc tham gia các đề tài nghiên cứu
khoa học được đánh giá cao trong ứng dụng thực tiễn. Điển hình một số đóng góp nổi
trội như chủ trì các đề tài nghiên cứu (Công trình về Font tư liệu Hoàng Sa; Xây dựng
các mô hình trồng thương phẩm các loài hoa, quy trình nhân giống và sản xuất lan, hoa
cúc theo hướng nông nghiệp công nghệ cao; ứng dụng năng lực chuyển giao (TCAP)
của hệ thống báo hiệu số 7 trong việc xây dựng và phát triển mạng thông minh (IN) Việt
Nam, mạng không dây tùy biến...); bồi dưỡng học sinh đạt giải nhì Olympic Toán Quốc
tế; các công trình đạt giải thưởng quốc gia, của ngành như giải nhất báo cáo tại Hội nghị
Da liễu Đông Nam Á, giải nhất trong Cuộc thi giáo viên dạy nghề giỏi toàn quốc, giải
nhất Cuộc thi ý tưởng bảo vệ môi trường, bồi dưỡng về viết thư quốc tế UPU, huy
chương Bạc liên hoan truyền hình toàn quốc, giải ba báo chí toàn quốc....
Nhiều cán bộ thu hút đã trưởng thành sau thời gian công tác tại Đà Nẵng, hiện nay
số người được bố trí, đảm đương các chức vụ lãnh đạo quản lý: có 145 người được bổ
nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp phòng trở lên (chiếm 11,42% tổng số đối tượng thu
hút); trong đó, lãnh đạo phường, xã: 16 người; lãnh đạo cấp phòng và tương đương: 114
người (cấp thành phố: 97; quận, huyện 17 người); 15 người giữ chức lãnh đạo diện Ban
Thường vụ Thành ủy quản lý.
3.3. Những tồn tại, hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Hầu hết lãnh đạo các cơ quan, đơn vị nhận thức đúng đắn về chủ trương của Thành
ủy và UBND thành phố về thu hút nguồn nhân lực; tuy nhiên, một số cơ quan, đơn vị
chưa thật sự quan tâm trong việc tiếp nhận, sử dụng, bố trí việc làm; tính chủ động trong

công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực
của Đà Nẵng. Chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế; trong đó tỷ lệ lao động
trong độ tuổi đã qua đào tạo còn thấp, thiếu hụt lao động có tay nghề cao, đáp ứng được
nhu cầu của thị trường lao động và hội nhập.
Khoảng cách giữa giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động ngày
càng lớn, do đó doanh nghiệp phải tốn nhiều thời gian và nguồn lực để đào tạo lại. Đồng
thời sự chuyển dịch mô hình, cơ cấu kinh tế khiến cho cung và cầu trong lao động thay
đổi, trong khi các ngành đào tạo chưa bắt kịp được xu thế sử dụng lao động của doanh
nghiệp. Ngoài ra, hệ thống thông tin thị trường lao động chưa phản ánh khách quan, kịp
thời, chưa dự báo được các biến động của thị trường. “Sợi dây” liên kết giữa doanh
nghiệp và các trường đại học, cơ sở nghiên cứu chưa chặt chẽ, do vậy tính ứng dụng của
9


nhiều nghiên cứu khoa học chưa cao, chưa được doanh nghiệp biết đến hoặc ứng dụng.
Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
Cơ chế, quy trình đánh giá, tuyển chọn và sử dụng cán bộ cũng còn những mặt
yếu, bị động, dẫn đến nhiều người đã hoàn thành chương trình đào tạo vẫn chưa được
tuyển dụng chính thức hoặc bố trí vào vị trí chưa phù hợp với chuyên ngành đào tạo.
Một bộ phận học viên Đề án 922 không thực hiện đúng cam kết với thành phố, không
tâm huyết, vi phạm hợp đồng với thành phố, trở thành đề tài “nóng” của báo chí trong
một thời gian dài.
Phương pháp đánh giá cán bộ các cấp còn chung chung, thiếu cụ thể, rõ ràng, khó
xác định khiến cho việc đánh giá nhiều khi mang tính hình thức, trong khi đây là khâu
quan trọng, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm. Chúng ta chưa thực sự
tạo điều kiện, môi trường thuận lợi nhất để đội ngũ trí thức hoạt động, phát triển tài
năng, toàn tâm toàn ý cống hiến cho công việc và xã hội. Những hạn chế, bất cập nêu
trên cần được đánh giá đúng thực chất, khách quan, để từ đó đề ra những giải pháp khả
thi để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời gian tới.
4. Một số đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nguồn

của các cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư cho phát triển.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp. Sự phát
triển của nền giáo dục mỗi nước không chỉ phối hợp nhịp nhàng với sự phát triển của nền
kinh tế, mà cần phải kết hợp hài hòa với nhịp điệu phát triển của nền giáo dục và kinh tế
của thế giới. Để hệ thống giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp của thành phố bắt kịp
xu thế trên thì đòi hỏi phải đẩy mạnh hơp tác với các nước và các tổ chức quốc tế về phát
triển nguồn nhân lực dưới nhiều hình thức khác nhau.
4.3. Rà soát lại các đề án phát triển nguồn nhân lực của thành phố để có sự điều
chỉnh cho phù hợp; đồng thời triển khai tốt các đề án có tính chiến lược mới ban hành.
Kiện toàn tổ chức của các cơ quan tham mưu cho thành phố về phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao, theo hướng chuyên nghiệp, tập trung về một đầu mối để triển khai đồng
bộ xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan trong phát triển
nguồn nhân lực chất lượng, đảm bảo vừa làm tốt công tác phát triển với sử dụng hiệu quả
nguồn nhân lực chất lượng cao.
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở thực hiện chính sách
thu hút nguồn nhân lực phù hợp trong tình hình mới; tạo hành lang pháp lý chặt chẽ, hợp
lý để công tác phát triển nhân lực chất lượng cao bền vững, hạn chế thấp nhất sự đầu tư
không hiệu quả, gây thất thoát ngân sách thành phố.
4.4. Phân bổ và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực, thu hút nhân tài trong và ngoài
thành phố. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phát hiện, bồi dưỡng và
nâng đỡ tài năng để tạo ra đội ngũ chuyên gia giỏi, các nhân tài trong các lĩnh vực. Đà
11


Nẵng phải có chính sách thu hút nhân tài mạnh mẽ hơn, để thu hút họ vào phát triển kinh
tế - xã hội của thanh phố, tránh để xảy ra chảy máu chất xám đi các tỉnh thành phố khác
và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tiếp tục điều chỉnh và hoàn thiện cơ cấu
phân bổ nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu kinh tế của thành phố.
Đồng thời, huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài để phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội của thành phố. Thành phố nên công khai danh mục các ngành nghề

Thành phố phải tập trung nổ lực nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp và giải quyết việc làm cho
người thất nghiệp và người chưa có việc làm, nhất là lực lượng lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật, tăng cường giải quyết việc làm cho vùng nông thôn. Xây dựng và
phát triển thị trường lao động, cần xây dựng và hoàn thiện các thiết chế của thị trường lao
động, tạo ra cầu về lao động, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động ra thị trường lao
động nước ngoài.
Cùng với việc nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn thì việc nâng cao
tình trạng sức khỏe, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống cho người lao
động là tiền đề quan trọng. Vì vậy, để có nguồn nhân lực chất lượng cao, Đà Nẵng cần
không ngừng nâng cao tình hình sức khỏe, nâng cao chất lượng dân số và cải thiện môi
trường.
4.7. Cần sự kết hợp 3 “nhà”: Nhà trường – Nhà khoa học – Nhà doanh nghiệp
trong đào tạo nhân lực phục vụ cách mạng công nghiệp 4.0. Hiện tại, chủ yếu là phía
doanh nghiệp có nhu cầu gắn kết với nhà trường - nhà khoa học, còn nhà trường, nhất là
các trường công lập, chỉ tập trung công tác đào tạo chứ chưa chủ động hợp tác với doanh
nghiệp. Các trường đại học ở Việt Nam cần học tập, kinh nghiệm đào tạo của các trường
đại học ở nước ngoài, trong việc xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo gắn rất chặt
với doanh nghiệp. Nhờ những trung tâm đó, sinh viên được học tập ở môi trường rất thật;
các doanh nghiệp liên kết với các trường để tìm nguồn nhân lực tương lai.
5. Kết luận
Để tận dụng tốt thời cơ và vượt qua những nguy cơ, thách thức từ cuộc Cách mạng
công nghiệp 4.0, vấn đề khai thác nguồn lực con người, nhất là xây dựng, phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề đang đã được đặt ra đối với Việt Nam nói chung
và thành phố Đà Nẵng nói riêng. Thời gian tới, Đà Nẵng sẽ xây dựng và triển khai
chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cách mạng
công nghiệp 4.0, tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn của thành phố. Thành phố cũng rà
soát, hoàn thiện các chính sách nhập cư bảo đảm hài hòa, nhân văn; nâng cao chất lượng
đào tạo của các trường đại học đạt chuẩn quốc tế; cũng như thực hiện liên thông, minh
bạch về thị trường lao động. Thành phố Đà Nẵng đang trong quá trình đổi mới mạnh mẽ
nên rất cần một lượng to lớn đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức, có tâm huyết, có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status